1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của khoảng trống glycat hoá trong đánh giá biến chứng thần kinh trên bệnh nhân đái tháo đường

6 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 281,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chỉ số đánh giá quá trình glycat hóa là tiêu chí quan trọng để theo dõi và điều trị các biến chứng mạn tính trên bệnh nhân đái tháo đường. Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu làm rõ vai trò của một chỉ số mới đang được đề cập trong thời gian gần đây trên thế giới, đó là khoảng trống glycat hoá.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA KHOẢNG TRỐNG GLYCAT HOÁ TRONG ĐÁNH GIÁ BIẾN

CHỨNG THẦN KINH TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Lê Quốc Tuấn * , Đặng Huỳnh Anh Thư *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Các chỉ số đánh giá quá trình glycat hoá là tiêu chí quan trọng để theo dõi và điều trị các biến

chứng mạn tính trên bệnh nhân đái tháo đường Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu làm rõ vai trò của một chỉ số mới đang được đề cập trong thời gian gần đây trên thế giới, đó là khoảng trống glycat hoá

Phương pháp: nghiên cứu cắt ngang phân tích

Kết quả: Qua khảo sát trên nhóm bệnh nhân đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y

Dược Tp.HCM, kết quả cho thấy khoảng trống glycat hoá trung bình trong nhóm nghiên cứu là 0,004 ± 0,714%, dao động từ -1,8 đến 1,4% Chúng tôi lại ghi nhận có sự tương quan có ý nghĩa thống kê giữa khoảng trống glycat hóa và vận tốc dẫn truyền thần kinh ngoại biên

Kết luận: Khoảng trống glycat hoá là một chỉ số có giá trị trong việc theo dõi biến chứng thần kinh do đái

tháo đường

Từ khóa: khoảng trống glycat hoá (GG), đái tháo đường, vận tốc dẫn truyền thần kinh

ABSTRACT

THE ROLE OF GLYCATION GAP IN PATIENTS WITH DIABETIC NEUROPATHY

Le Quoc Tuan, Dang Huynh Anh Thu

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 21 - No 2 - 2017: 1 - 6

Objective: The glycosylated indexes are the important criteria for monitoring and treating the chronic

complications in patients with diabetes The aim of study is to introduce the role of a new index, which is glycation gap

Method: analysis cross-sectional study.

Results: Researching in 50 patients, the results show that the average glycation gap is 0.004 ± 0.714%,

ranging from -1.8 to 1.4% The results show the significant correlation between glycation gap and peripheral nerve conduction velocity.

Conclusion: The glycation gap is a valuable indicator to monitor diabetic peripheral neuropathy

Key words: glycation gap, diabetes mellitus, nerve conduction velocity

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khoảng trống glycat hóa (GG) được định

nghĩa là hiệu số giữa HbA1c thực tế và HbA1c

dự đoán HbA1c dự đoán được tính dựa trên

phương trình hồi quy tương quan với nồng độ

fructosamine(3):

HbA1c dự đoán = a x Fructosamine + b

GG = HbA1c thực tế - HbA1c dự đoán

Nghiên cứu của Emmanuel Cosson và cs về mối liên quan giữa khoảng trống GG và tình trạng tiểu đạm đại thể trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 đã ghi nhận(3):

HbA1c dự đoán = 0.020 x Fructosamine + 2.05 (r = 0.731, p < 0.0001)

Khoảng trống glycat hóa ít chịu ảnh hưởng bởi tuổi và chủng tộc, tuy nhiên chưa có công thức chung quy định cho các BN ĐTĐ trên toàn

* Bộ môn Sinh lý học, Đại Học Y Dược TP.HCM

Trang 2

thế giới Khoảng trống GG có mối liên quan chặt

chẽ với các mức độ đạm niệu, bệnh lý võng mạc,

bệnh thần kinh ngoại biên độc lập với HbA1c(1,2)

Hiện nay, tỷ lệ biến chứng thận đái tháo

đường ngày càng tăng nhanh trong cộng đồng,

làm tăng tử suất và giảm đáng kể chất lượng

cuộc sống của người bệnh Vấn đề chẩn đoán

sớm và theo dõi chặt chẽ diễn tiến của biến

chứng thần kinh đang được đặt ra cho ngành y

tế, nhằm tránh diễn tiến đến tình trạng hoại tử

nghiêm trọng trên bàn chân bệnh nhân đái tháo

đường Nhiều công trình khảo sát hiện nay trên

thế giới đang tập trung vào khoảng trống glycat

hóa Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có công trình

nào đánh giá về vai trò của chỉ số này trên biến

chứng thần kinh ở bệnh nhân đái tháo đường

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo

đường tại phòng khám Thận và Nội tiết – Bệnh

viện Đại học Y Dược TP.HCM từ tháng 05/2014

đến 09/2014

Tiêu chuẩn chọn vào

Bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ theo tiêu

chí của Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA) 2013:

HbA1C ≥ 6,5 %

Đường huyết đói ≥ 126 mg/dL (7,8mmol/L)

Đường huyết 2 giờ sau nghiệm pháp dung

nạp glucose ≥ 200 mg/dL (11,1mmol/L)

Đường huyết bất kỳ ≥ 200 mg/dL

(11,1mmol/L) kết hợp với triệu chứng điển hình

của tăng đường huyết (tiểu nhiều, khát nhiều,

gầy nhiều)

Trong trường hợp bệnh cảnh không cấp tính

hoặc không có mất bù chuyển hóa, cần lặp lại các

tiêu chí (1), (2), (3) vào một ngày khác để xác

định chẩn đoán

Tiêu chuẩn loại trừ

(1) Đang có bệnh hemoglobin đã được chẩn

đoán, thiếu máu (Hb < 11,8 g/dL)

(2) BN không đồng ý tham gia nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang phân tích

Kỹ thuật chọn mẫu

Liên tục không xác suất

Phương pháp thu thập số liệu

Định lượng HbA1c theo phương pháp sắc ký lỏng cao áp HPLC bằng máy D10 của hãng BioRad; định lượng fructosamine theo phương pháp đo quang bằng máy Cobas 8000 của hãng Roche Diagnostic; đo dẫn truyền thần kinh ngoại biên (gồm thời gian tiềm, biên độ điện thế, vận tốc dẫn truyền) ở các dây quay, giữa, trụ, chày, maác bằng máy đo điện cơ Neuro-MEP-Micro Khoảng trống glycat hoá (GG) = HbA1c thực – HbA1c dự đoán(6)

HbA1c dự đoán = a x fructosamine + b(6)

Xử lý số liệu

Phần mềm STATA 10.0

KẾT QUẢ - BÀN LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện tại phòng khám Thận – BV Đại học Y Dược TP.HCM từ tháng 05/2014 đến tháng 09/2014, số liệu ghi nhận trên 50 bệnh nhân được chẩn đoán

và điều trị ĐTĐ

Khi thực hiện khảo sát, chúng tôi nhận thấy tất cả các chỉ số về điện sinh lý của các dây TK ngoại biên đều không có sự khác biệt giữa 2 bên trái/phải Điều này chứng tỏ tổn thương thần kinh ngoại biên trên BN ĐTĐ có tính chất đối xứng rất rõ, nhất là ở chi dưới Kết quả này tương tự với nghiên cứu của tác giả Lê Quang Cường(4)

Kết quả này của chúng tôi cho thấy không

có sự khác biệt nhiều với những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về các chỉ

số điện sinh ký trên BN ĐTĐ ở các dây TK vận động và cảm giác ngoại biên(6,8,9) Vận tốc dẫn truyền ở các dây TK ngoại biên trong nghiên cứu của chúng tôi đa số có giá trị thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Mai Hòa,

có thể là do nhiều BN tham gia nghiên cứu của

Trang 3

chúng tôi đã ở giai đoạn bắt đầu xuất hiện các

biến chứng mạch máu nhỏ(5)

Bất thường về thời gian tiềm ở các dây TK

cảm giác gặp nhiều hơn so với các dây TK vận

động, trong đó tỷ lệ cao nhất là TK giữa-cảm giác

(38,0%), khác biệt có ý nghĩa so với các dây TK

còn lại Điều này củng cố quan điểm tổn thương

TK ngoại biên trên BN ĐTĐ ảnh hưởng sớm lên

các dây TK cảm giác hơn là các dây vận động Kết quả của chúng tôi thấp hơn ghi nhận của tác giả Nguyễn Mai Hòa (56,67%), khác biệt này có thể do số BN có hội chứng ống cổ tay trong nghiên cứu của Nguyễn Mai Hòa khá cao (46,67%), làm cho tỷ lệ bất thường thời gian tiềm của TK giữa-cảm giác cao hơn(5)

Bảng 1 Đặc điểm điện sinh ký của các dây thần kinh vận động ngoại biên ở các nghiên cứu

TK giữa-vận động

TK trụ-vận động

TK chày-vận động

TK mác sâu-vận động

Bảng 2 Đặc điểm điện sinh ký của các dây thần kinh cảm giác ngoại biên ở các nghiên cứu

TK giữa-cảm giác

TK trụ-cảm giác

TK quay-cảm giác

TK mác nông-cảm giác

Qua nghiên cứu chúng tôi thấy có hiện

tượng giảm biên độ điện thế ở hầu hết các dây

TK được khảo sát, trừ TK giữa-vận động Tỷ lệ

bất thường cao nhất là dây TK giữa-cảm giác

(98,0%), cao hơn so với kết quả của tác giả Imada

(38%)(6) Sự khác biệt này là do chúng tôi chọn giá

trị bình thường về biên độ điện thế của TK giữa-cảm giác cao hơn tác giả (>20µV so với >12µV) Kết quả của chúng tôi một lần nữa cho thấy bệnh TKNB do ĐTĐ ảnh hưởng nhiều trên các dây TK cảm giác hơn so với vận động Ở chi dưới chúng tôi nhận thấy tỉ lệ bất thường về biên độ điện thế

Trang 4

của dây TK mác sâu (34,0%) và mác nông

(32,0%) cao hơn TK chày (6,0%) Kết quả này phù

hợp với nhận xét của các tác giả Lê Quang

Cường(4) và Nguyễn Mai Hòa(6) gợi ý tính nhạy

cảm của TK mác cao hơn TK chày trong chẩn

đoán bệnh lý TK ngoại biên do ĐTĐ

Như đã biết, dấu hiệu đặc trưng của tổn

thương TKNB do hủy myelin là giảm vận tốc

dẫn truyền Với BN ĐTĐ, có sự hủy myelin

thứ phát diễn ra trên từng đoạn của sợi trục

do các bất thường về chuyển hóa, sinh ra bởi

tình trạng đường huyết tăng cao mạn tính

Điều này phù hợp với kết quả của chúng tôi

khi ghi nhận bất thường về vận tốc dẫn truyền

gặp ở hầu như tất cả các dây TK được khảo

sát Trong đó, bất thường về vận tốc dẫn

truyền của TK mác chiếm tỉ lệ cao nhất (mác

sâu: 96,0%; mác nông: 42,0%) Kết quả này

cũng thể hiện tính chất lan tỏa của tổn thương

TK ngoại biên do ĐTĐ mà các tác giả Aaron I

Vinik và Lê Quang Cường đã từng ghi nhận(4)

Khoảng trống glycat hóa trung bình ở nhóm nghiên cứu là 0,004 ± 0,714 % Khoảng trống glycat hóa trung bình trong nhóm nghiên cứu là 0,004 ± 0,714%, trong đó BN có khoảng trống glycat hóa thấp nhất là -1,8% và cao nhất là 1,4% Phương trình hồi quy tuyến tính giữa HbA1c và fructosamin ở nhóm nghiên cứu: HbA1c (%) = 0,0083 x fructosamine (µmol/L) + 5,17 (r = 0,612; P

< 0,0001) Kết quả này có sự tương đồng với nghiên cứu của các tác giả Emmanuel Cosson(3)

và Ananth U Nayak(1)

Do các biến số thời gian tiềm, biên độ, và vận tốc dẫn truyền của các dây TK đều có phân phối

bình thường nên chúng tôi tính hệ số Pearson (r)

để thể hiện mối tương quan giữa các chỉ số dẫn truyền thần kinh ngoại biên với khoảng trống

GG Chúng tôi chia các bệnh nhân thành 2 nhóm dựa rên chỉ số GG: nhóm có GG < +1 và nhóm

có GG < +1(3)

Bảng 3 So sánh các chỉ số dẫn truyền thần kinh vận động ngoại biên ở 2 nhóm BN có GG < +1 và GG ≥ +1

TK giữa-vận động

TK trụ-vận động

TK chày

TK mác sâu

Trang 5

Bảng 4 So sánh các chỉ số dẫn truyền thần kinh cảm giác ngoại biên ở 2 nhóm BN có GG < +1 và GG ≥ +1

TK giữa-cảm giác

TK trụ-cảm giác

TK quay-cảm giác

TK mác sâu

Với nhóm các dây TK vận động, chúng tôi

ghi nhận sự tương quan nghịch có ý nghĩa ở

mức trung bình giữa khoảng trống GG với vận

tốc dẫn truyền của đa số các dây TK vận động

ngoại biên, trừ TK giữa-vận động bên phải Sự

tương quan thể hiện rõ nhất ở dây TK mác sâu

trái (r = -0,491; P < 0,05) và phải (r = -0,400; P <

0,05) Trong khi đó, sự tương quan có ý nghĩa

giữa khoảng trống GG với thời gian tiềm và biên

độ điện thế chỉ ghi nhận rải rác ngẫu nhiên ở

một vài dây TK vận động Khi khảo sát trên 2

nhóm BN có khoảng trống GG < +1 và GG > +1,

chúng tôi cũng nhận thấy vận tốc dẫn truyền

thần kinh ở các dây vận động ngoại biên có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm, trừ

TK chày bên phải và TK mác nông bên phải Các

biến số thời gian tiềm và biên độ điện thế hầu

như đều không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa

hai nhóm GG < +1 và GG > +1 Về mặt điện sinh

ký, vận tốc dẫn truyền thần kinh chính là chỉ số

có giá trị hơn để đánh giá biến chứng thần kinh

ĐTĐ so với thời gian tiềm và biên độ điện thế Như vậy, khoảng trống GG có mối liên hệ rất rõ với biến chứng TK vận động trên các BN ĐTĐ Với nhóm các dây TK cảm giác, chúng tôi ghi nhận sự tương quan thuận có ý nghĩa giữa khoảng trống GG với thời gian tiềm và tương quan nghịch có ý nghĩa với vận tốc dẫn truyền ở hầu hết các các dây TK cảm giác ngoại biên Chúng tôi không ghi nhận sự tương quan có ý nghĩa thống kê giữa khoảng trống GG với biên

độ điện thế của các dây thần kinh cảm giác ngoại biên Như vậy, khoảng trống GG càng tăng thì thời gian tiếm càng kéo dài và vận tốc dẫn truyền càng giảm Tuy nhiên, khi khảo sát trên 2 nhóm BN có khoảng trống GG < +1 và GG > +1, chúng tôi không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa

về các chỉ số dẫn truyền ở hầu hết các dây cảm giác ngoại biên

Qua kết quả khảo sát các bất thường điện sinh ký về vận động và cảm giác ngoại biên,

Trang 6

chúng tôi đều ghi nhận sự tương quan có ý

nghĩa giữa vận tốc dẫn truyền và khoảng trống

GG So sánh giữa các dây cảm giác và vận động,

chúng tôi nhận thấy khoảng trống GG có mối

tương quan chặt hơn với vận tốc dẫn truyền vận

động Như vậy, khá nhiều những bằng chứng

cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa khoảng

trống glycat hóa (GG) với các biến chứng thần

kinh của ĐTĐ với biểu hiện là tình trạng rối loạn

các chỉ số dẫn truyền thần kinh ngoại biên ở các

dây giữa, trụ, quay, chày, mác nông, mác sâu

Kết quả thường xấu ở những BN có khoảng

trống GG thuộc nhóm dương tính (≥ +1) Trong

khi đánh giá HbA1c, chúng tôi lại không ghi

nhận được sự liên quan có ý nghĩa thống kê

Điều này dựa trên cơ sở sinh lý bệnh là khi

khoảng trống GG tăng, đồng nghĩa với tăng

cường quá trình glycat hóa các protein nội bào,

nhất là các enzyme tham gia vào hoạt động

chuyển hóa các chất, dẫn đến làm giảm hoặc mất

chức năng của các protein, đưa đến các phản

ứng chuyển hóa bất lợi hiếm khi xảy ra trên

người bình thường(7)

KẾT LUẬN

Qua khảo sát khoảng trống glycat hóa trên

50 bệnh nhân ĐTĐ điều trị ngoại trú tại Bệnh

viện Đại học Y Dược Tp.HCM, chúng tôi rút ra

những kết luận sau:

1 Khoảng trống glycat hoá trung bình trong

nhóm nghiên cứu là 0,004 ± 0,714%, dao động từ

-1,8 đến 1,4%

2 Ghi nhận mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa khoảng trống glycat hóa và vận tốc dẫn truyền thần kinh ngoại biên ở đa số các dây giữa, trụ, quay, chày, mác nông, mác sâu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ananth UN, Martin RH, David RM, Alan N, Baldev MS (2011) Evidence for Consistency of the Glycation Gap in Diabetes

Diabetes Care, 34, 1712-1716

2 Anath UN, Paul B, Baldev MS (2013) Association of Glycation Gap With Mortality and Vascular Complications in Diabetes Diabetes Care, 39, 1-7

3 Emmanuel C, Isabela B, Camille Cussac P, Qinda C, Sabrina C, Yaha J, Minh TN, Nathalie C, Paul V (2013) Glycation Gap Is Associated With Macroproteinuria but Not With Other Complications in Patients With Type 2 Diabetes Diabetes Care,

36, 2070-2076

4 Lê Quang Cường (1997) Tốc độ dẫn truyền thần kinh ở người

Việt Nam trưởng thành bị Đái tháo đường Tạp chí Y học thực hành, 4, 9-11

5 Nguyễn Mai Hoà (2008) Khảo sát điện cơ trên bệnh nhân Đái

tháo đường mãn tính Tạp chí Y học TPHCM, 12(1), 352-358

6 Partanen J, et al (1995) Natural history of peripheral neuropathy in patients with non-insulin-dependent diabetes

mellitus New England Journal Medicine, 89-94

7 Santiago RS, Javier R, Jose MC, Felipe FC, Felix C (2011) Progression of Nephropathy in Type 2 Diabetes: The Glycation Gap Is a Significant Predictor after Adjustment for

Glycohemoglobin (Hb A1c) Clinical Chemistry, 57(2), 264-271

8 Santiago RS, Javier R, Jose MG, Felipe FC (2012) Estimation of the Glycation Gap in Diabetic PatientsWith Stable Glycemic Control Diabetes Care, 35, 2447-2450

9 Valensi P, et al (1997) Diabetic peripheral neuropathy: effects

of age, duration of diabetes, glycemic control, and vascular

factors Journal of Diabetes Complications, 11, 27-34

Ngày nhận bài báo: 18/11/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/12/2016 Ngày bài báo được đăng: 01/03/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 13:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w