1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vạt da cân cẳng tay nhánh xuyên động mạch quay đầu xa che phủ mất da cổ tay do phỏng

6 133 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 383,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Che phủ mất da một phần cổ tay do phỏng bằng vạt da cân cẳng tay có nhánh xuyên động mạch quay (NXĐMQ) đầu xa mà không thể ghép da mỏng hay không có điều kiện làm vi phẫu được.

Trang 1

VẠT DA CÂN CẲNG TAY NHÁNH XUYÊN ĐỘNG MẠCH QUAY

ĐẦU XA CHE PHỦ MẤT DA CỔ TAY DO PHỎNG

Võ Văn Phúc*, Lê Thành Khỹm*, Phan Xuân Chính*, Lê Văn Lộc*, Tăng Thiện Quốc*, Phan Trung Hiếu*, Lê Xuân Giang*, Phạm Phước Tiến*, Hà Quang Lâm*,Nguyễn Thị Quỳnh Giao*,

Khúc Thị Được*, Trần Thị Mỹ Hạnh*, Lý Thị Minh Tâm*, Phan Thị Phương Trang*,

Ngô Thị Thanh Loan*, Phạm Thị Bích Vân*, Trần Lê Thanh Thảo*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Che phủ mất da một phần cổ tay do phỏng bằng vạt da cân cẳng tay có nhánh xuyên động mạch

quay (NXĐMQ) đầu xa mà không thể ghép da mỏng hay không có điều kiện làm vi phẫu được

Phương pháp: Tạo vạt da cân cẳng tay trước có cuống mạch NXĐMQ đầu xa che phủ khuyết hổng cổ tay

lộ gân xương với chiều dài < 10cm tính từ nếp gấp cổ tay

Kết quả: 34 bệnh nhân mất da cổ tay do phỏng; toàn là nam; mất da trước cổ tay 26 trường hợp (76,5%),

trước trong cổ tay 5 trường hợp (14,6%), trước và sau cổ tay 3 trường hợp (8,9%) Tất cả được dùng vạt da cân cẳng tay NXĐMQ: 29 trường hợp tốt (85,3%), 5 trường hợp khá (14,7%), không có thất bại; ra viện sau làm vạt

da trung bình 7,5 ngày

Kết luận: Dùng vạt da cân cẳng tay cuống đầu xa NXĐMQ cho kết quả tốt 85,3% trong những khuyết

hổng một phần mặt trước, bên hay sau cẳng tay chiều dài ≤ 10cm, lộ gân xương không thể ghép da mỏng được,

đỡ phải dùng những phẫu thuật lớn phức tạp hơn hoặc phải cắt cụt đáng tiếc

Từ khóa: Vạt da cân, vạt nhánh xuyên, nhánh xuyên đầu xa động mạch quay

ABSTRACT

USING THE FOREARM FASCIOCUTANEOUS FLAP BASED ON DISTAL PERFORATORS OF THE

RADIAL ARTERY COVERAGE THE SKIN DEFECTS OF THE WRIST

Vo Van Phuc, Le Thanh Khym, Phan Xuan Chinh, Le Van Loc, Tang Thien Quoc, Phan Trung Hieu,

Le Xuan Giang, Pham Phuoc Tien, Ha Quang Lam, Nguyen Thi Quynh Giao, Khuc Thi Đuoc,

Tran Thi My Hanh, Ly Thi Minh Tam, Phan Thi Phuong Trang, Ngo Thi Thanh Loan,

Pham Thi Bich Van, Tran Le Thanh Thao

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 5- 2018: 168 – 173

Objectives: Using the forearm fasciocutaneous flap based on distal perforators of the radial artery coverage

the soft-tissue defects of the wrist with exposed tendons, joints, and bone by the burns

Methods: Design the forearm fasciocutaneous flap based on distal perforators of the radial artery depend on

the anatomical landmark of the perforators of the radial artery, for covering the soft-tissue defects, which are less than 10cm of the length, in the wrist with exposed tendons, joints, and bone by the burns

Results: 34 patients with the soft-tissue defects of the wrist by the burns; in most cases is man; the anterior

wrist 26 cases (76.5%), the antero-medial wrist 5 cases (14.6%), the antero-posterior 3 cases (8.9%) Treatment with the forearm fasciocutaneous flap based on distal perforators of the radial artery: Good 29 cases (85.3%), passable good 5 cases (14.7%), no defeated; they are discharged after the using this flap 7.5 days

*Khoa Phỏng–Tạo Hình, BV Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: ThS.BS Võ Văn Phúc, ĐT: 0938700028 Email: phuchuong96@gmail.co

Trang 2

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 5 * 2018 Nghiên cứu Y học

Conclusions: Using the forearm fasciocutaneous flap based on distal perforators of the radial artery coverage

the soft-tissue partial defects of the wrist with exposed tendons, joints, and bone by the burns with successful results 85.3%, for avoiding the complicated operation or amputation in the forearm

Keywords: The fasciocutaneous flaps; perforator flaps; perforators of distal radial arteries

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện

nay, mặc dù tai nạn đã được cảnh báo nhiều

Tuy nhiên, con người vẫn không tránh khỏi

những tai nạn phỏng đáng tiếc xãy ra do thiếu

hiểu biết về an toàn trong lao động và sinh hoạt

hàng ngày

Tại khoa Phỏng bệnh viện Chợ Rẫy, tỷ lệ

phỏng ngày càng cao nhất là phỏng điện,

thương tổn thường gây hoại tử cổ tay, lộ gân cơ,

thần kinh, mạch máu, xương, khớp…mà đa số

không thể ghép da được hay bệnh nhân (BN)

không có điều kiện làm vạt vi phẫu Đây là một

khó khăn trong điều trị mà chúng tôi thường

gặp phải

Để bảo tồn chi thể, cố gắng giữ lại phần nào

hình dáng cẳng bàn tay cho bệnh nhân không

thể ghép da hay dùng kỹ thuật vi phẫu được;

dựa trên sự phân phối mạch máu phong phú

nuôi dưỡng vùng cẳng tay trước(1,2,3,7,8) nên

chúng tôi che phủ chỗ khuyết bằng vạt da – cân

cẳng tay đầu xa nhánh xuyên động mạch quay

(ĐMQ) cho những trường hợp mất da vùng cổ

tay một phần trước, bên hay sau ở những bệnh

nhân phỏng nhằm mục tiêu sau

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Che phủ những tổn thương mất da và mô

mềm một phần ở mặt trước bên hay sau cổ tay

do phỏng bằng vạt da cân cẳng tay đầu xa với

cuống nhánh xuyên từ động mạch quay

Mục tiêu cụ thể

Nắm vững điểm mốc giải phẫu của nhánh

xuyên từ động mạch quay

Mổ cắt lọc hoại tử cổ tay sớm để nhanh

chóng chuyển vạt da thích hợp

Đánh giá kết quả khi dùng vạt da cân cẳng

tay NXĐMQ

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả những bệnh nhân phỏng có tổn thươngphần mềm một phầnở mặt trước, bên hay sau cổ tay, còn động mạch quay, chiều dài vết thương không quá 10cm tính từ nếp gấp cổ tay Công trình được thực hiện tại khoa Phỏng – Tạo hình bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 11/2016 đến tháng 1/2018

Tiêu chuẩn loại trừ

Mất da lên 1/3 giữa hay 1/3 trên cẳng tay không còn mô mềm do các nhánh xuyên của ĐMQ nuôi dưỡng

Loại hình nghiên cứu

Tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng

Cỡ mẫu

34 trường hợp bị mất da cẳng tay do phỏng

lộ gân, xương, mạch máu mà không thể ghép da hay không có điều kiện làm vi phẫu được

Thực hiện phẫu thuật

Khám chọn bệnh đúng chỉ định, cho xét nghiệm tiền phẫu

Mổ cắt lọc hết hoại tử (1, 2, 3 lần… tùy vào tổn thương)

Chuyển vạt da cân cẳng tay cuống đầu xa che phủ chỗ khuyết dưới gây mê nội khí quản:

Thiết kế vạt

Trục vạt là đường thẳng nối từ điểm giữa

trước khuỷu tới mỏm trâm quay (tương ứng đường đi của động mạch quay) Đo kích thước tổn

thương khuyết hổng ở cổ tay để có kích thước vạt điểm xoay trên trục vạt và cách bờ trên mất

da #1 – 2 cm; lấy vạt da - cân có kích thước thích hợp ở măt trước cẳng tay nơi 1/3 giữa hay trên Chiều ngang tối đa ở cổ tay: từ gân cơ duỗi dài

ngón cái (phía bờ quay) tới gân cơ trụ sau (phía bờ trụ); chiều dài vạt có thể lấy tới nếp gấp

Trang 3

khuỷu(7) Thực tế, tùy theo kích thước mất da mà

lấy vạt da thích hợp Chú ý lấy chiều dài vạt đủ

dài, để phòng khi quay thiếu hụt chiều dài vạt

(Hình 1)

Hình1: Thiết kế vạt da

Garrot ở cánh tay sau dồn máu

Rạch da theo hình vẽ, bóc tách xuống lấy cả

cân để bảo đảm mạch nuôi Tách từ trên xuống

và từ trong ra ngoài Chú ý không tách xuống

quá điểm xoay để bảo đảm còn cuống mạch

nuôi (Hình 2)

Xoay vạt che chỗ khuyết ở cổ tay, khâu cố

định vạt, dẫn lưu có hút liên tục dưới vạt (Hình 3)

Khâu giảm diện tích và ghép da mỏng che chỗ lấy vạt

Băng gạc mỡ trên vạt và chỗ ghép da Đặt nẹp cẳng bàn tay

Sau mổ dùng kháng sinh hay không tùy lúc

mổ đánh giá thương tổn

Ghi nhận kết quả, tai biến chảy máu, tụ máu dưới vạt, hoại tử vạt…

Thay băng sau 48 giờ và cắt chỉ sau 7 ngày

Tiêu chuẩn đánh giá kết quả

Tốt: vạt da sống tốt

Khá: có hoại tử đầu vạt< 1cm, phải cắt lọc khâu lại hay ghép da mỏng sau đó

Trung bình: hoại tử nửa vạt

Xấu (thất bại): hoại tử hoàn toàn vạt da

Thu thập phân tích và xử lý số liệu

Thu thập với bảng biểu mẫu soạn trước

Dùng chương trình SPSS 20 và STATA 10.0

Các trung bình và độ lệch chuẩn sẽ tính cho

các biến số liên tục; các tỷ lệ tính cho các biến số

rời; nêu lên mối liên hệ nếu có giữa các yếu tố

với ý nghĩa thống kê

Dùng phép kiểm T để so sánh với các số

trung bình, phép kiểm 2 hay Phi & Cramer’s V

hoặc chính xác Fisher để so sánh các biến rời Tất

cả phép kiểm đều 2 đuôi, ngưỡng có ý nghĩa

thống kê khi p < 0,05

KẾT QUẢ

Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Tuổi: Trung bình là 39 tuổi, nhỏ nhất 17 tuổi, lớn nhất 63 tuổi Tập trung nhiều ở tuổi

34 - 40 (67,6%)

Giới: Toàn bộ là nam, 34 trường hợp

Điện tia lửa điện: 5 (14,7%), tia lửa điện: 2 (5,9%)

Trang 4

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 5 * 2018 Nghiên cứu Y học

Vị trí tổn thương mất da

Bảng 1: Vị trí mất da ở cẳng tay

Đa số ở mặt trước cẳng tay 26 trường hợp

Có 3 trường hợp vừa cả trước sau, lộ 1 phần 2

xương cẳng tay, có chỉ định cắt cụt của chuyên

khoa chỉnh hình nhưng BN không đồng ý

Kích thước tổn thương

Trung bình 34,97 cm2, nhỏ nhất: 4 cm2, lớn

nhất: 80 cm2

Tập trung ở khoảng 20  42 cm2 chiếm

91,2% các trường hợp

Các cơ quan thường bị lộ ra

Bảng 2: Cơ quan thường bị lộ trần

Đa số là lộ gân cơ 16 trường hợp (47,1%) và

gân xương 12 trường hợp (35,3%)

Số lần mổ cắt lọc hoại tử

Trung bình 3 lần, ít nhất 1 lần, nhiều nhất 6 lần

Tập trung ở khoảng 2-4 lần chiếm 79,5% các

trường hợp

Thời điểm chuyển vạt da

Trung bình 26,5 ngày, ít nhất 7 ngày, lớn

nhất 49 ngày

Tập trung nhiều nhất vào 18 - 32 ngày chiếm

73,5% các trường hợp

Kích thước vạt da

Trung bình 58,35 cm2, nhỏ nhất 8 cm2, lớn

nhất 105 cm2

Tập trung nhiều nhất vào 48  60 Cm2

chiếm 76,5% các trường hợp

Đánh giá kết quả

Tốt 29 trường hợp (85,3%), Khá 5 trường hợp

(14,7%) Không có trung bình và xấu

Biểu đồ 1: Đánh giá kết quả

Các tai biến-biến chứng(TB-BC) thường gặp

Biểu đồ 2: Các tai biến và biến chứng hay gặp (số

trường hợp)

Thời gian từ ngày làm vạt da tới ra viện

Trung bình 7,5 ngày, ít nhất 3 ngày, lớn nhất

15 ngày

Tập trung nhiều nhất vào 7  8 ngày chiếm 79,4% các trường hợp

Thời gian nằm viện

Trung bình 38 ngày, ít nhất 17 ngày, lớn nhất

88 ngày

Tập trung nhiều nhất vào 2445 ngày chiếm 79,4% các trường hợp

BÀN LUẬN

Đặc điểm nhóm nghiên cứu

Trong nhóm nghiên cứuchúng tôi, toàn là

nam (100%), tuổi trung bình 39 tuổi Đây là đối

tượng lao độngchínhcủa xã hội Nói về tác nhân

phỏng phần lớn là điện tia lửa điện 27 (79,4%),

phần lớn xãy ra trong lao động và sinh hoạt hàng ngày Có sự phù hợp với xu thế đà phát triển của xã hội hiện nay

29

5

0 0 0

5 10 15 20 25 30 35

Kết quả

Tốt Khá T.bình Xấu

2

5

27

Rách ĐM quay (5.9%)

Hoai tử đầu vạt từ 1cm trở lại (14.7%)

Không TB-BC (79.4%)

Trang 5

Vị trí tổn thương ở cẳng tay

Đa số ở mặt trước cẳng tay 26 trường hợp

chiếm (76,5%), một số ít lấn sang trước trong (5

trường hợp) và có 3 trường hợp lan ra sau cổ tay

Qua nghiên cứu cho thấy tổn thương càng vòng

ra sau càng khó cho việc che phủ bằng vạt da

cân cẳng tay Tuy nhiên trong nghiên cứu chúng

tôi cả 3 trường hợp này đếu có chỉ định cắt cụt

của chuyên khoa chỉnh hình nhưng vì bệnh

nhân không đồng ý nên chúng tôi mạo muội làm

vạt da này cũng với hy vọng mong manh!

Nhưng kết quả thành công bước đầu

Kích thước vết thương và kích thước vạt da

Diện mất da của chúng tôi trung bình 34,97

cm2 (tức khoảng 5 hay 6 cm chiều cao tính từ nếp

gấp cổ tay), so với Đỗ Lương Tuấn(4) (38,67 cm2),

kích thước của chúng tôi nhỏ hơn Tuy nhiên

trong giới hạn này việc phủ vạt da không đáng

lo ngại về kích thước vạt Trong nhóm này, kích

thước vạt da trung bình của chúng tôi khoảng

58,35 cm2 là che kín được chỗ khuyết; nhỏ hơn

với Đỗ Lương Tuấn(4) (58,96 cm2) Kinh nghiệm

là cần lấy vạt dài hơn dự tính 1 – 2 cm để dễ

dàng trong lúc che phủ Với 3 trường hợp sau

cắt lọc mất da đến # 10 cm chiều cao nên phải lấy

vạt lên gần tới nếp gấp khuỷu Tác giả

El-khatib(5) với kích thước vạt 8 x 14 cm, Đỗ Lương

Tuấn(4) có vạt 5,5 x 12 cm lành tốt Nhóm chúng

tôi có vạt 8 x 13 cm lành tốt, có lẽ do cuống vạt

mình phải uốn cong hơn để không gấp khúc

mạch nuôi nên chiều dài lớn hơn Đỗ Lương

Tuấn

Qua nghiên cứu thấy mặc dù tổn thương có

> 7 cm chiều cao từ nếp gấp cổ tay, sự phân bố

mạch nuôi tuy có ít hơn ởvị trí 2 cm và 7 cm từ

nếp gấp cổ tay(1,7) nhưng vẫn tồn tại mạch nuôi

và chúng ta cũng có thể dùng vạt nhánh xuyên

ĐMQ từ nửa trên để che khuyết hỗng ở nửa

dưới cẳng tay với sức sống khá mạnh(3,4,5,7) Tác

giả Ionnis và Ignatidis(6) còn dùng vạt này để che

những tổn thương ở cổ tay và bàn tay

Như vậy:

Nhờ hiện hữu các nhánh xuyên của động

lấy vạt da cân hay cân mỡ(4) che phủ chỗ khuyết hỗng ở cẳng tay, cổ tay, để tránh phải dùng những phẫu thuật lớn hơn, phức tạp hơn hay phải cắt cụt cẳng bàn tay

Trước đây, các tác giả đã dùng mạch quay làm động mạch cung cấp máu cho vạt(7) nhưng chúng tôi chỉ dùng những nhánh xuyên của động mạch quay, lấy cả da và cân để che phủ nơi lộ gân xương với cuống đầu xa(1,2,3,8) hãy còn an toàn Có một số tác giả chỉ dùng vạt cân

mỡ thôi(3,4,5,8) Cần nắm rõ 3 vị trí quan trọng của các cuống mạch ở vị trí dưới nếp khuỷu 4 cm, trên nếp cổ tay 7 cm và 2 cm phải tuyệt đối tôn trọng Tùy thuộc cuống đầu gần hay xa mà hy sinh nhóm cuống mạch dưới hay trên

Số lần mổ cắt lọc hoại tử và thời điểm làm vạt

da

Trung bình phải cắt lọc 3 lần mới làm vạt che phủ được, nhóm chúng tôi tập trung vào khoảng

2 - 3 lần cắt lọc (64,8%) Tuy nhiên cũng tuỳ vào tính chất tổn thương và thời điểm nhập viện mà

có sự thay đổi chút ít không đáng kể Có 1 trường hợp mổ cắt lọc 6 lần mới làm vạt

Thời điểm làm vạt da của chúng tôi trung

bình 26 ngày (tập trung vào 18 - 32 ngày chiếm

73,5%) có lâu hơn Đỗ Lương Tuấn(4) (2 tuần -

48%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,000

< 0,05) Có lẽ do bệnh nhân chúng tôi nhập viện trễ hơn nên mổ chậm hơn

Tuy vậy, sau làm vạt thì trung bình sau 7,5 ngày là ra viện (79,4%) so với Đỗ Lương Tuấn(4)

lành sau 8,7 ngày (96,77%) Sự khác biệt có ý

nghĩa (p = 0,000 < 0,05)

Như vậy có lẽ do phải cắt lọc lại nhiều lần

mà làm kéo dài thời điểm làm vạt da Do đó chúng ta cần cắt lọc triệt để và sớm hơn để nhanh chóng làm vạt che phủ tổn khuyết

Đánh giá kết quả dùng vạt da

Nhóm chúng tôi đạt tốt 29 trường hợp (85,3%) vạt da sống tốt, khá 5 trường hợp (14,7%): vạt da có hoại tử mép vạt < 1 cm cần cắt

Trang 6

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 5 * 2018 Nghiên cứu Y học

lọc sau đó và khâu kín được Không có trường

hợp nào hoại tử ½ hay toàn vạt So với Đỗ

Lương Tuấn(4) đạt tốt 77,42%, khá 19,5% Sự

khác biệt không có ý nghĩa (p > 0,05)

Qua nghiên cứu thấy rằng sự tưới máu của

vạt rất phong phú(4,5,7), mặc dù tổn thương khá

lớn khiến vạt rộng hơn cũng tăng phần lo lắng

khi làm vạt; tuy vậy kết quả bước đầu cũng có

phần khích lệ! Mặc dù vậy nhưng mẫu hãy còn

nhỏ, chúng tôi sẽ còn nghiên cứu thêm

Các tai biến và biến chứng hay gặp

Rách động mạch quay: 2 trường hợp (5,9%)

do lúc mổ, bóc tách gốc vạt kéo cao nên rách

ĐMQ phải khâu lại nhưng kết quả tốt Do đó

nên cẩn thận khi làm gọn cuống

Hoại tử mép vạt đầu xa cũng cần chú ý

không nên làm vạt quá mỏng, cần lấy cân sâu

theo vạt để máu nuôi tốt hơn và dừng lại ngang

vị trí điểm xoay phía bờ quay của vạt

Một chú ý khi làm vạt:

Cần lấy chiều dài củavạt đủ che phủ dài hơn

dự tính 1 – 2 cm, phòng khi gốc quay lớn làm vạt

thiếu hụt

Khi bóc vạt nhớ bao gồm cân cơ về phía vạt

để giữ gìn mạch nuôi

Ưu điểm của vạt da cân là chỉ bóc tách vạt

một lần ở mặt phẳng cân- cơ; trong khi vạt cân

mỡ phải tách 2 lần: 1 ở da- mỡ và 1 ở cân – cơ

Thời gian sẽ lâu hơn vạt da – cân

KẾT LUẬN

Có 3 nhóm mạch xuyên từ động mạch quay

ra nuôi da ở mặt trước cẳng tay: 4cm dưới nếp

gấp khuỷu, 7 cm và 2 cm trên nếp gấp mặt trước

cổ tay Đây là cơ sở nuôi vạt da –cân vùng mặt

trước cẳng tay

Thời điểm chuyển vạt da cân che chỗ khuyết khi hoại tử cổ tay đã được cắt lọc sạch

Cần lấy vạt da đủ dài, bóc tách vạt cẩn thận

và cố định vạt không căng

Kết quả tốt khi dùng vạt cân da cẳng tay che chỗ khuyết cổ tay, sức sống cao, không đòi hỏi

kỹ thuật cao

Thiết nghĩ đây là một vạt da-cân cần thiết cho những thương tổn khuyết hỗng cổ tay trước

và trong, có thể thực hiện ở tuyến cơ sở, để hạn chế bớt những phẫu thuật lớn phức tạp hơn khi bệnh nhân không có điều kiện, hoặc phải chấp

nhận cắt cụt cẳng bàn tay đáng tiếc xảy ra TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Masquelet AC and Gilbert A (1995), Forearm flaps", Transfers

from the upper limb, Martin Dunitz, London, pp: 66-71

2 Chang J (2010), "Radial artery perforator flap", Hand Surg Am

35(2), pp 308-11

3 Chang SM et al (2003), "Distally based radial forearm flap with preservation of the radial artery: Anatomic, experimental, and

clinical studies", Microsurgery, pp 328-337

4 Đỗ Lương Tuấn (2010), "Nghiên cứu, ứng dụng vạt cân mỡ cẳng tay dựa trên các nhánh xuyên đầu xa của động mạch quay

che phủ khuyết hỗng cổ tay trước do điện cao thế ", Y học thành phố Hồ Chí Minh 14(4), pp 82-87

5 El-Khatib et al (1977), "Island Adipofascial Flap Based on Distal Perforators of the Radial Artery: An Anatomic and Clinical

Investigation", Plastic & Reconstructive Surgery 100(7), pp

1762-1766

6 Ignatiadis IA et al (2008), "Treatment of complex hand trauma

using the distal ulnar and radial artery perforator-based flaps", Injury 39(3), pp 116-24

7 Nguyễn Huy Phan (1999), Vat da cân cẳng tay, Kỹ thuật vi phẫu

mạch máu - thần kinh thực nghiệm và ứng dụng lâm sàng, Khoa học & kỹ thuật, Hà Nội, 267-289

8 Weinzweig N, Chen L and Chen ZW (1994), "The distally based radial forearm fasciosubcutaneous flap with preservation of the

radial artery: an anatomic and clinical approach", Plast Reconstr Surg 94(5), pp 675-684

Ngày nhận bài báo: 26/02/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 07/03/2018 Ngày bài báo được đăng: 25/09/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 13:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm