1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nạo vét hạch của phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô tuyến đại tràng phải

6 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 281,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày đánh giá số lượng, kích thước, vị trí, tỷ lệ di căn hạch qua phẫu tích bệnh phẩm ung thư biểu mô tuyến đại tràng phải được điều trị bằng phẫu thuật nội soi cắt nửa đại tràng phải.

Trang 1

NẠO VÉT HẠCH CỦA PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ

UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN ĐẠI TRÀNG PHẢI

Huỳnh Quyết Thắng*, Hồ Long Hiển **

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá số lượng, kích thước, vị trí, tỷ lệ di căn hạch qua phẫu tích bệnh phẩm ung thư

biểu mô tuyến đại tràng phải được điều trị bằng phẫu thuật nội soi cắt nửa đại tràng phải

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 80 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đại tràng phải được

phẫu thuật nội soi cắt nửa đại tràng phải, vét hạch hệ thống Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện K, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Ung Bướu Cần Thơ từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 6 năm

2016

Kết quả: Có 36 bệnh nhân nam và 44 bệnh nhân nữ; tuổi trung bình 54,8 ± 1,7 (20-87) 15 bệnh nhân

có vết mổ bụng cũ (18,8%) Khối u có kích thước trung bình là 4,9 ± 0,2 cm (1,5-6 cm) Có 992 hạch nạo vét, số hạch nạo vét được trung bình mỗi bệnh nhân là 12,4 ± 2,8 (6-43) Kích thước hạch trung bình từ 0,5 đến 1cm chiếm 589 hạch (59,4%) Vị trí hạch tập trung chủ yếu ở cạnh khối u và dọc các bó mạch hồi đại tràng, đại tràng phải và đại tràng giữa (80,1%) Tỷ lệ di căn hạch chung là 40%

Kết luận: Nạo vét hạch của PTNS điều trị ung thư biểu mô tuyến đại tràng phải đảm bảo nguyên tắc

ung thư học: số lượng hạch trung bình mỗi bệnh nhân là 12,4 hạch, tập trung chủ yếu ở cạnh khối u và dọc các động mạch hồi đại tràng, đại tràng phải và đại tràng giữa (80,1%) với kích thước từ 0,5-1cm (59,4%)

Tỷ lệ di căn hạch chung là 40%

Từ khóa: Phẫu thuật nội soi, ung thư đại tràng, nạo vét hạch

ABSTRACT

THE LYMPH NODE DISSECTION OF LAPROSCOPIC SURGERY FOR RIGHT COLON

CARCINOMA

Huynh Quyet Thang, Ho Long Hien

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 21 - No 2 - 2017: 301 - 306

Purpose: Evaluate the number, size, position, metastatic rate of lymph node dissected from the

specimen of laparoscopical right hemicolectomy for colon carcinoma

Methods: Cross-sectional study of 80 right colon carcinoma patients who underwent laparoscopical

right hemicolectomy This study was performed at K hospital, hospital of Hanoi Medical University and Cantho Oncology hospital from June 2012 to June 2016

Results: There were 36 male and 44 female patients; mean of age was 54.8 ± 1.7 (20-87) 15 patients

have previous operation history Mean of tumor size was 4.9 ± 0.2 cm (1.5-6 cm) The total number of harvested lymph nodes was 992, mean of nodes dissection for each patient was 12,4 ± 2.8 (6-43) The number of nodes dissection whose size from 0.5 to 1cm were 589 (59,4%) Lymph node’s location were mainly closed to the tumor edge and along arteries: ileocolic, right colic and middle colic arteries (80,1%) Metastatic rate of lymph nodes were 40%

Conclusion: Lymphadenectomy in Laparoscopical surgery for right colon carcinoma obeyed the

* Bộ môn Ung bướu – Trường Đại Học Y dược Cần Thơ ** Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ

Tác giả liên lạc: PGS TS Huỳnh Quyết Thắng ĐT: 0913.731.338 Email: thanghuynhphd@yahoo.com

Trang 2

oncological principles: mean of nodes dissection for each patient were 12,4; node’s locations were mainly closed to the tumor edge and along the ileocolic, right colic and middle colic arteries (80,1%) of which the mean size were from 0.5 to 1cm (59,4%) Metastatic rate of lymph nodes were about 40%

Keywords: Laparoscopy; Colon cancer; Lymphadenectomy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Kỷ nguyên của phẫu thuật nội soi (PTNS)

đại tràng được Jacob bắt đầu vào năm 1991(3)

Tuy nhiên sự áp dụng ban đầu dấy lên sự

tranh luận về tỷ lệ tái phát tại lỗ trocar, về mặt

ung thư học của PTNS như khả năng vét hạch,

nguyên tắc "no touch" Nhưng phẫu thuật nội

soi đã được áp dụng trên toàn thế giới trong

điều trị ung thư đại trực tràng (UTĐTT) và

từng bước khẳng định được tính ưu việt của

nó: tính thẩm mỹ cao hơn, giảm đau sau mổ,

bệnh nhân hồi phục nhanh, rút ngắn thời gian

nằm viện Tuy nhiên, câu hỏi về mặt ung thư

học vẫn được đặt ra là: PTNS có đảm bảo nạo

vét hạch đầy đủ không so với kỹ thuật mổ mở

quy ước cho ung thư đại tràng?(1) Theo Hiệp

hội Ung thư Hoa Kỳ (AJCC) và Hội liên hiệp

phòng chống ung thư quốc tế (UICC), số

lượng hạch nạo vét được phải đạt tối thiểu 12

hạch cho phẫu thuật UTĐTT nói chung mới

đủ để đánh giá giai đoạn di căn hạch Đánh

giá đúng giai đoạn ung thư đại tràng (UTĐT)

sau mổ giúp xác định phương pháp điều trị bổ

trợ tiếp theo và là yếu tố tiên lượng quan

trọng(6)

Trên thế giới, PTNS điều trị UTĐT đã được

chấp nhận kể từ khi có một thử nghiệm lâm

sàng ngẫu nhiên, đa trung tâm với số lượng

lớn bệnh nhân được báo cáo là an toàn về mặt

ung thư học(5,7,10) Sau đó, thử nghiệm lâm sàng

CLASICC đã xác nhận sự an toàn về mặt ung

thư học của PTNS đại trực tràng(11) Tương tự,

thử nghiệm lâm sàng COST đã kết luận phẫu

thuật nội soi gần như được chấp nhận là một

chọn lựa để điều trị UTĐT(7)

Hiện nay, trong nước đã có một số báo cáo

áp dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị ung

thư đại tràng, nhưng vấn đề trọng tâm về nạo

vét hạch trong UTĐT bằng PTNS vẫn còn hạn

chế Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng vét hạch của phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô tuyến đại tràng phải

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đại tràng phải được điều trị bằng PTNS tại Bệnh viện K, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Ung Bướu Cần Thơ

Tiêu chuẩn chọn bệnh

U ở vị trí đại tràng phải, có chẩn đoán mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến, kích thước

u ≤ 8cm, không xâm lấn các tạng lận cận, không có di căn xa, không có biến chứng thủng hoặc tắc ruột

Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 6/2012 đến 6/2016

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang

Các chỉ tiêu nghiên cứu

Đặc điểm bệnh nhân

Tuổi, giới, cân nặng, chiều cao, BMI, vị trí

u, kích thước u, tiền sử mổ bụng cũ

Kết quả nạo vét hạch

Số lượng, kích thước, vị trí các nhóm hạch nạo vét được qua phẫu tích bệnh phẩm Tình trạng di căn hạch theo các chặng, kích thước

và TNM

Quy trình điều trị

Bệnh nhân được PTNS theo một quy trình định trước bởi các phẫu thuật viên có kinh nghiệm (PTNS cắt đại trực tràng trên 50 ca)

Trang 3

Bệnh nhân được cắt đại tràng phải qua nội

soi và làm miệng nối ngoài cơ thể

Bệnh phẩm được phẫu tích tươi ngay sau

mổ bởi chính phẫu thuật viên Chúng tôi ghi

nhận số lượng, kích thước và vị trí phân bố các

nhóm hạch theo Hội ung thư đại trực tràng

Nhật Bản: H3 nhóm hạch dọc mạch máu chính

(bó mạch mạc treo tràng trên) Nhóm H2 hạch

trung gian (dọc động mạch hồi đại tràng, động

mạch đại tràng phải và động mạch đại tràng

giữa) Nhóm H1 hạch cạnh khối u (thành đại

tràng và cạnh đại tràng) Mỗi hạch sẽ được để

vào một lọ riêng biệt, cố định formol và được

nhuộm HE để xác định tình trạng di căn hạch

KẾT QUẢ

Đặc điểm bệnh nhân

Bảng 1 Đặc điểm bệnh nhân

Chiều cao (cm) 157,2 ± 0,7 (143-169)

BMI (kg/m2) 21 ± 0,3 (14,6-30,8)

Vị trí u

Đại tràng góc gan 29 (36,3)

Kích thước u (cm) 4,9 ± 0,2 (1,5-6)

Tiền sử mổ bụng cũ 15 (18,8)

Các giá trị được thể hiện là Trung bình ± sai số chuẩn

(khoảng) hoặc số trường hợp (%)

Nhận xét: Nghiên cứu có 36 bệnh nhân

nam và 44 bệnh nhân nữ Tuổi trung bình là

54,8 ± 1,7 (20-87) Chỉ số BMI trung bình 21 ±

0,3 (14,6-30,8) Vị trí u ở đại tràng lên 41 bệnh

nhân (51,2%), đại tràng góc gan 29 bệnh nhân

(36,3%) và manh tràng 10 bệnh nhân (12,5%)

Kích thước u trung bình là 4,9 ± 0,2 cm (1,5-6

cm) 15 bệnh nhân có vết mổ bụng cũ (18,8%)

Kết quả nạo vét hạch

Tổng số hạch nạo vét được trên 80 bệnh

nhân là 992 hạch Trong đó, nhóm hạch H3

(dọc bó mạch mạc treo tràng trên) có được 197

hạch (19,9%), nhóm H2 (dọc động mạch hồi

đại tràng, động mạch đại tràng phải và động mạch đại tràng giữa) có 417 hạch (42%) và nhóm H1 (hạch cạnh đại tràng và thành đại tràng) có 378 hạch (38,1%) Nhóm hạch kích thước 0,5-1cm chiếm tỷ lệ cao nhất 59,4% (589 hạch), nhóm hạch

< 0,5cm chiếm 36% (357 hạch) và nhóm hạch > 1cm chỉ có 4,6% (46 hạch)

Bảng 2 Kích thước và vị trí các nhóm hạch nạo vét

được

Nhóm H1 Nhóm H2 Nhóm H3 Tổng

Tổng 378 (38,1%) 417 (42%) 197 (19,9%) 992 (100%)

Trung bình số hạch nạo vét được trên mỗi bệnh nhân là 12,4 ± 2,8 hạch (6-43 hạch) Trong đó,

có 4,7 hạch cạnh khối u; 5,2 hạch trung gian và 2,5 hạch dọc bó mạch mạc treo tràng trên

Tỷ lệ di căn hạch ở nhóm hạch > 1cm là 82,6% (38/46 hạch) Nhóm hạch 0,5-1cm có tỷ lệ di căn là 47,2% (278/589 hạch) và nhóm hạch < 0,5cm có tỷ

lệ di căn thấp nhất 22,7% (81/357 hạch)

Bảng 3 Tỷ lệ di căn hạch theo các chặng

Di căn hạch Số trường hợp Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ di căn hạch chung là 40%; trong đó 7,5% bệnh nhân có di căn hạch cả 3 chặng

Bảng 4 Tỷ lệ di căn hạch theo TNM

Di căn hạch Số trường hợp Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ di căn hạch của nhóm nghiên cứu là 40% (32/80 bệnh nhân); trong đó chủ yếu là di căn từ 1-3 hạch (N1: 30%)

BÀN LUẬN

Nạo vét hạch trong UTĐT là một tiêu chuẩn ngoại khoa ung thư, là một yếu tố tiên lượng quan trọng(15) Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới số lượng hạch nạo vét được trong

Trang 4

phẫu thuật UTĐT: kỹ thuật mổ mở hay nội soi,

kinh nghiệm, thái độ phẫu tích bệnh phẩm,

kiến thức về nguyên tắc ung thư của phẫu

thuật viên, sự hợp tác giữa phẫu thuật viên và

các nhà giải phẫu bệnh để khám xét tất cả các

hạch nạo vét được(4,6,17)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 80 bệnh

nhân ung thư biểu mô tuyến đại tràng phải

được PTNS với kỹ thuật nạo vét hạch theo quy

trình thống nhất: Thắt mạch máu hồi đại

tràng, mạch máu đại tràng phải và đại tràng

giữa sát chỗ xuất phát từ bó mạch mạc treo

tràng trên và nạo vét hạch Nhóm H3 theo

Hiệp hội ung thư đại trực tràng Nhật Bản là

nhóm hạch mạch máu chính - bó mạch mạc

treo tràng trên Nhóm H2 hạch trung gian

(dọc động mạch hồi đại tràng, đại tràng phải,

và đại tràng giữa) Nhóm H1 hạch cạnh khối u

(thành đại tràng và cạnh đại tràng)(2) Với 80

bệnh nhân mổ nội soi, tổng số hạch nạo vét

được là 992 hạch Trong đó, vị trí hạch chủ yếu

tập trung ở nhóm H1 và H2 với số hạch lần

lượt là 378 hạch (38,1%) và 417 hạch (42%),

nhóm H3 chỉ có 197 hạch (19,9%)

Vấn đề quan trọng nhất trong việc tiên

lượng kết quả ung thư học lâu dài là số hạch

nạo vét được Hạch vùng cần phải được nạo

vét có hệ thống(4) Số lượng hạch tối thiểu được

đề nghị phải nạo vét là 6-17 hạch(8,18), và phải

có ít nhất 12 hạch trở lên đối với phẫu thuật

UTĐTT nói chung thì việc xếp giai đoạn lâm

sàng mới chính xác Nhờ đó việc chỉ định điều

trị hóa chất bổ trợ hay không sẽ được quyết

định(16) Tuy nhiên, số hạch vét được trung

bình là 12 cho tất cả ung thư đại tràng từ giai

đoạn I-IV với mọi kích thước Đối với mổ mở

quy ước, phẫu thuật không bị giới hạn bởi

kích thước khối u Nhưng đối với phẫu thuật

nội soi, chỉ mổ những u có kích thước ≤ 6cm

Vì vậy, việc nạo vét hạch trong phẫu thuật nội

soi có thể sẽ thu được số hạch ít hơn Tuy

nhiên, nghiên cứu của chúng tôi có số hạch

trung bình nạo vét được là 12,4 ± 2,8 hạch

(6-43 hạch), vì vậy kết quả của chúng tôi đã có

thể đáp ứng được yêu cầu đặt ra về nạo vét hạch trong khi mổ và đủ để đánh giá giai đoạn

di căn hạch theo tiêu chuẩn quốc tế và chỉ dẫn của NCCN(16)

Một nghiên cứu được đánh giá rất cao trên thế giới của Hội đồng y khoa Hoàng Gia Anh quốc báo cáo năm 2005 là CLASICC Trial(9), thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đa trung tâm

so sánh giữa mổ nội soi và mổ mở UTĐTT Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá kết quả ung thư học của 2 phương pháp phẫu thuật qua tiêu chuẩn nạo vét hạch Kết quả nghiên cứu trên 794 bệnh nhân tại 27 trung tâm với 32 phẫu thuật viên chuyên khoa UTĐTT chia làm

2 nhóm, 526 bệnh nhân mổ nội soi, 268 bệnh nhân mổ mở Số hạch nạo vét được của 2 nhóm là tương đương 12 (8-17) hạch nhóm PTNS và 12,5 (8-19) hạch nhóm mổ mở Nghiên cứu này đã chứng minh được nạo vét hạch của PTNS điều trị UTĐTT không kém hơn phẫu thuật mổ mở

Kuhry E tổng kết 33 thử nghiệm lâm sàng

đa trung tâm so sánh đối chứng 2 phương pháp PTNS và mổ mở UTĐTT từ năm 1998 đến 2007, nhưng chỉ có 12 nghiên cứu cho kết quả ung thư học xa 5 năm sau mổ với 3346 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, trong đó chỉ có 9 nghiên cứu thống kê số lượng hạch nạo vét được Kết quả khi phân tích số liệu thì thấy số lượng hạch nạo vét được bằng PTNS ít hơn so với phẫu thuật mổ mở, nhưng khi dùng thuật toán Random effects so sánh kết quả này sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê(12)

Lourenco T tại Viện nghiên cứu sức khỏe Hoàng Gia Anh tổng kết đánh giá hiệu quả của PTNS so với mổ mở UTĐTT trên 4500 bệnh nhân từ năm 1997 đến 2005 trên thế giới Trong 18 nghiên cứu thì có 12 nghiên cứu đề cập đến số hạch nạo vét được, 7/12 nghiên cứu

có số hạch nạo vét được của PTNS ít hơn mổ

mở, 2/12 nghiên cứu ghi nhận PTNS nạo vét hạch được nhiều hơn mổ mở và 3/12 nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt về số hạch nạo vét được của 2 phương pháp mổ(13)

Trang 5

Bảng 5 Số hạch nạo vét được của một số tác giả

Tác giả (năm) Số hạch nạo vét

Mổ nội soi Mổ mở

Kaiser (2004) 13,3 (1-32) 14 (3-27)

Các giá trị được thể hiện là trung bình (khoảng) hoặc

Trung bình ± độ lệch chuẩn Nguồn: theo Lourenco T

(2008) (13)

Kích thước hạch cũng là yếu tố dự báo di

căn hạch Chúng ta hay suy nghĩ những hạch

to thường là hạch di căn nên khi đã tìm ra

hạch lớn thì việc phẫu tích và xét nghiệm

những hạch nhỏ còn lại sẽ bị coi nhẹ, bỏ sót

Phân tích 80 bệnh nhân của chúng tôi, kích

thước hạch thường gặp từ 0,5-1cm chiếm đa số

với 589 hạch (59,4%), hạch < 0,5cm có 357 hạch

(36%) và hạch > 1cm chỉ có 46 hạch (4,6%)

Braat A.E phân tích gợp 30 nghiên cứu về

kích thước hạch ghi nhận: hạch trên 1cm

đường kính cho tỷ lệ di căn hạch từ 90% đến

100%, hạch dưới 0,5cm có tỷ lệ di căn hạch từ

66% đến 77%(4) Nghiên cứu của chúng tôi ghi

nhận tỷ lệ di căn hạch theo kích thước hạch

thấp hơn, tỷ lệ di căn hạch ở nhóm hạch > 1cm

chỉ có 82,6% (38/46 hạch), nhóm hạch 0,5-1cm

có tỷ lệ di căn là 47,2% (278/589 hạch) và nhóm

hạch <0,5cm có tỷ lệ di căn thấp 22,7% (81/357

hạch)

Di căn hạch trong UTĐT cũng tuân theo

nguyên lý chung di căn theo đường bạch

huyết của các bệnh lý ung thư Thông thường

tế bào ung thư di trú từ khối u nguyên phát tới

chặng hạch gần nhất cạnh khối u, sau đó tiến

triển di trú đến các chặng hạch xa hơn Kết

quả trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tuân

theo nguyên lý này: tỷ lệ di căn hạch 1 chặng

cạnh khối u là 17,5%, di căn hạch 2 chặng (cạnh khối u và trung gian) là 15% và di căn hạch 3 chặng là 7,5% Toàn bộ nhóm nghiên cứu có tỷ lệ di căn hạch chung là 40% Tỷ lệ di căn hạch là một yếu tố tiên lượng độc lập với thời gian sống thêm và tái phát sau mổ Di căn hạch trong ung thư nói chung và UTĐT nói riêng còn một cơ chế nữa không tuân thủ trình

tự các chặng hạch từ gần tới xa, tế bào ung thư

có thể bỏ qua các chặng hạch ở gần đi tới chặng hạch xa hơn Khái niệm này gọi là di căn nhảy cóc “skip metastasis” Điều này giải thích tại sao có những trường hợp UTĐT không có di căn hạch cạnh khối u và hạch trung gian mà đã có di căn hạch ở bó mạch mạc treo tràng trên hay thậm chí đã có di căn gan tại thời điểm chẩn đoán(19,20) Nghiên cứu của chúng tôi không có hiện tượng nhảy cóc trong di căn hạch, 6 trường hợp di căn hạch dọc bó mạch mạc treo tràng trên đều đã có di căn hạch cạnh khối u và hạch trung gian Khi xếp hạng di căn hạch theo TNM, chúng tôi ghi nhận chủ yếu là di căn từ 1-3 hạch (N1) 30%,

và di căn từ 4 hạch trở lên (N2) là 10%

KẾT LUẬN

Nạo vét hạch của PTNS điều trị ung thư biểu mô tuyến đại tràng phải đảm bảo nguyên tắc ung thư học với số lượng hạch trung bình nạo vét được mỗi bệnh nhân là 12,4 hạch Vị trí hạch chủ yếu tập trung ở cạnh khối u và dọc các bó mạch hồi đại tràng, đại tràng phải

và đại tràng giữa (80,1%) với kích thước từ 0,5-1cm (59,4%) Tỷ lệ di căn hạch chung là 40%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abraham NS, et al (2007), “Meta-analysis of non-randomized comparative studies of short-term outcomes

laparoscopic resection for colorectal cancer”, ANZ J Surg,

77, pp 508-516

2 Akiyama M, et al (1999), Japanese classification of colorectal carcinoma, pp 19-20

3 Bittner R (2006), “Laparoscopic surgery – 15 years after

clinical introduction”, World J surg, 30, pp 1190-1203

4 Braat AE, et al (2005), “Lymphatic staging in colorectal cancer: pathologic, molecular, and sentinel node

technique”, Dis colon rectum, 48, pp 371-383

Trang 6

5 COLOR Study Group (2000), “COLOR: a randomized

clinical trial comparing laparoscopic and open resection

for colon cancer”, Dig Surg, 17, pp 617-622

6 Edge SB, et al (2010), “Colorectal cancer”, AJCC cancer

staging handbook, 7nd edition, pp 173-174

7 Fleshman J, Sargent DJ, Green E, Anvari M, Stryker SJ,

Beart RWJr, et al (2007), “Laparoscopic colectomy for

cancer is not inferior to open surgery based on 5-year data

from the COST Study Group trial”, Ann Surg, 246, pp

655-662

8 Goldstein NS, Sanford W, Coffey M, Layfield LJ (1996),

“Lymph node recovery from colorectal resection

specimens removed for adenocarcinoma Trends over

time and a recommendation for a minimum number of

lymph nodes to be recovered”, Am J Clin Pathol, 106, pp

209-216

9 Guillou PJ, Quirke P, Thorpe HC, et al (2005), “Short -

term endpoints of conventional versus laparoscopic –

assisted surgery in patients with colorectal cancer (MRC

CLASICC Trial): multicenter randomized controlled

trial”, The Lancet, 365, pp 1718-1726

10 Jayne DG, Guillou PJ, Thorpe H, Quirke P, Copeland J,

Smith AM, et al (2007), “Randomized trial of

laparoscopic-assisted resection of colorectal carcinoma:

3-year results of the UK MRC CLASICC Trial Group”, J Clin

Oncol, 25, pp 3061-3068

11 Jayne DG, Thorpe HC, Copeland J, Quirke P, Brown JM,

Guillou PJ (2010), “Five-year follow-up of the Medical

Research Council CLASICC trial of laparoscopically

assisted versus open surgery for colorectal cancer”, Br J

Surg, 97, pp 1638-1645

12 Kuhry E, Schwenk W, Gaupset R (2008), “Long – term

results of laparoscopic colorectal cancer resection”, The

Cochrane collaboration Published by Wiley & Sons, pp 1-63

13 Lourenco T, Murray A, Grant A, et al (2008),

“Laparoscopic surgery for colorectal cancer: safe and

effective? A systematic review”, Surg Endosc, 22, pp

1146-1160

14 Marusch F, Gastinger I, Schneider C, Scheidbach H, Konradt J, Bruch HP, et al (2001), “Importance of conversion for results obtained with laparoscopic

colorectal surgery”, Dis Colon Rectum, 44, pp 207-214

15 Milsom W, Bohm B, Nakajima K (2006), Laparoscopic

colorectal surgery, Springer 2 nd editions, pp 188-202

NCCN practice guidelines in oncology - V.2 2009 Rectal cancer (Internet) Washington: NCCN; c2012 (cited 2012

http://www.ccchina.net/UserFiles/2009-4/20/20094200133667.pdf

17 Priolli DG, et al (2009), “Metastatic lymph node ratio as an independent prognostic variable in colorectal cancer:

study of 113 patients”, Tech Coloproctol, 13, pp 113-121

18 Tekkis PP, Smith JJ, Heriot AG, Darzi AW, Thompson

MR, Stamat- akis JD, et al (2006), “A national study on lymph node retrieval in resectional surgery for colorectal

cancer”, Dis Colon Rectum, 49, pp 1673-1683

19 Yagci G, Unlu A, Kurt B, et al (2007), “Detection of micrometastases and skip metastases with ex vivo sentinel

node mapping in carcinoma of the colon and rectum”, Int

J Colorectal Dis, 22, pp 167-173

20 Yano H, Saito Y, Kirihara Y, et al (2006), “Tumor invasion

of lymph node capsules in patients with Dukes C

colorectal adenocarcinoma”, Dis Colon Rectum 49, pp

1867-1877

Ngày nhận bài báo: 07/12/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/12/2016 Ngày bài báo được đăng: 05/04/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 13:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w