1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Độ tin cậy của bộ câu hỏi và một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức về bệnh tăng huyết áp của người trưởng thành tại Hải Phòng

9 181 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 207,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức về tăng huyết áp của người trưởng thành và đánh giá độ tin cậy của bộ câu hỏi đã áp dụng với thiết kế mô tả cắt ngang.

Trang 1

ĐỘ TIN CẬY CỦA BỘ CÂU HỎI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIẾN THỨC VỀ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH

TẠI HẢI PHÒNG

Hoàng Thị Hải Vân, Lê Thị Tài, Lê Thị Hương

n t YH P YTCC Trư ng h Y H N Ngh n nh t h t nh hư ng n n th nh t ng h t ngư trư ng th nh

nh g t n h ụng th t t t ng ng T ng ngư trư ng th nh t H

Ph ng ư h ng n t h th n n ngh th ng g tr nh h n nh t

n th nh t ng h t (t t t 0 05) Tr nh h n hơn th h t hơn nh t ng

th n th nh t t hơn H ươ t n ụng tr ng h n th t ng h t th 4

nh n th H ươ t n n tr ng t ng ươ n g th h h 59 4 n th n t

n th nh t ng h t ngh n H Cr n h h h ng h t t n 0 2

h n nh h n n hơn 0 h ng t h n t nh nh t n t nh t n C

t tr nh n h nh t nh hư ng t n th nh t ng h t ngư trư ng th nh ngh th ng t n 95

Từ khóa: kiến thức, tăng huyết áp, yếu tố ảnh hưởng, phân tích nhân tố, độ tin cậy.

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp là một căn bệnh mạn tính phổ biến

nhất trên Thế giới và hiện nay đang trở thành một vấn

đề thu hút sự quan tâm của toàn xã hội [1] Việc Tổ

chức Y tế Thế giới (WHO) chọn chủ đề cho ngày Sức

khỏe Thế giới (World Health Day) năm 2013 là phòng

và kiểm soát bệnh tăng huyết áp càng cho thấy rõ hơn

mức độ ảnh hưởng của căn bệnh này Theo các chuyên

gia trong lĩnh vực tim mạch, tăng huyết áp là bệnh lý tim

mạch hay gặp nhất ở hầu hết các nước trên thế giới và

là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu

[2;3;4] với 9,4 triệu người tử vong mỗi năm trên toàn thế

giới và con số này không ngừng gia tăng theo thời gian

[2], cùng với đó là hậu quả di chứng nặng nề, suy giảm

chất lượng cuộc sống, đòi hỏi sự chăm sóc dài ngày và

tốn kém, gây thiệt hại to lớn cho gia đình và xã hội [1]

Tại Việt Nam, nếu trong thập kỷ 60, tỷ lệ tăng huyết

áp là khoảng 1% [5] thì đến năm 1992 tỷ lệ này là 11,2%

[6], năm 2001 là 16,3% và năm 2005 là 18,3% [5] Kết

quả nghiên cứu gần đây nhất cho thấy tỷ lệ tăng huyết

áp ở người từ 25 tuổi trở lên là 25,1% [7] Trong số

những người có tăng huyết áp có tới 51,6% không biết

h n h H ng Th H n n t YH P

YTCC trư ng h Y H N

h ngh n2002 h

Ng nh n 04 9 2014

Ng h th n 1 11 2014

mình bị tăng huyết áp, 38,9% biết mình có tăng huyết

áp nhưng không điều trị và 63,7% có điều trị nhưng chưa kiểm soát được [1] Với con số khoảng 9,8 triệu người Việt Nam (trên 10% dân số) không biết bị tăng huyết áp, hoặc tăng huyết áp nhưng không được điều trị hoặc có điều trị nhưng chưa kiểm soát được [1] thì việc phổ biến kiến thức tăng huyết áp giúp người dân biết cách phòng tránh là vô cùng quan trọng Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Độ tin cậy của bộ câu hỏi và một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức về bệnh tăng huyết áp của người trưởng thành tại Hải Phòng ” với mục tiêu tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức của người dân địa phương và đánh giá mức độ tin cậy của thang đo (bộ câu hỏi) kiến thức đã được áp dụng

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Địa điểm: Nghiên cứu được tiến hành tại hai

phường Lạc Viên và Gia Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng

2 Thời gian: từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 06

năm 2014

3 Đối tượng: Người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên

tính đến thời điểm nghiên cứu sống tại địa điểm nghiên cứu đồng ý tham gia nghiên cứu và có khả năng cung cấp thông tin

4 Phương pháp:

4.1 Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô

Trang 2

tả cắt ngang.

4.2 Mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu

Đây là một phần nằm trong đề tài nghiên cứu độc

lập cấp nhà nước ĐTĐL.2012/G32, đơn vị chọn mẫu

được sử dụng là hộ gia đình với 400 hộ gia đình tại

mỗi tỉnh Tại mỗi hộ gia đình những người trưởng thành

sống tại gia đình được phỏng vấn về kiến thức, thái

độ, thực hành liên quan đến bệnh tăng huyết áp Tổng

cộng có 788 đối tượng tại thành phố Hải Phòng được

phỏng vấn

Cách chọn mẫu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu nhiều

giai đoạn:

- Tại 2 phường được chọn ngẫu nhiên, mỗi phường điều tra 200 hộ gia đình dựa trên danh sách của phường Hộ gia đình đầu tiên được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên đơn Các hộ gia đình tiếp theo được chọn theo phương pháp cổng liền cổng cho đến khi đủ 200 hộ

- Tại mỗi hộ gia đình, tất cả những người trưởng thành

đủ điều kiện có mặt tại thời điểm nghiên cứu được chọn phỏng vấn

4.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

Có 6 nhóm câu hỏi, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai hoặc không trả lời được 0 điểm Tổng số câu hỏi là 30 tương ứng với 30 điểm

Định nghĩa tăng huyết áp Giá trị huyết áp tối đa >140mmHg 1

Giá trị huyết áp tối thiểu >90 mmHg 1

Các triệu chứng của bệnh tăng

huyết áp

Các biến chứng của bệnh tăng

huyết áp

Các yếu tố nguy cơ của bệnh

tăng huyết áp

Tiền sử gia đình có người tăng huyết áp 1

Các biện pháp dự phòng tăng

huyết áp

Bảng 1 Các câu hỏi và điểm liên quan đến kiến thức về bệnh tăng huyết áp của người dân

Trang 3

Bảng 2 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

5 Xử lý và phân tích số liệu

- Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata và phân

tích bằng phần mềm SPSS 16.0

- Áp dụng thống kê mô tả bao gồm tính tỷ lệ phần trăm,

giá trị trung bình mô tả đặc điểm và kiến thức về bệnh

tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu

- Áp dụng test t, test ANOVA so sánh trung bình điểm

kiến thức giữa các nhóm

- Áp dụng phân tích hệ số tin cậy Cronbach’sAlpha để

kiểm tra mức độ chặt chẽ và tương quan giữa các biến

Tiêu chuẩn để chấp nhận các biến là:

- Hệ số tương quan so với biến tổng (Corrected item

total correlation) phù hợp: lớn hơn 0,3

- Các hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6

Phân tích nhân tố (EFA)

- Kiểm tra trị số KMO (Kaiser – Mayer – Olkin): Nếu 0,5

≤ KMO ≤ 1 thì phân tích nhân tố là thích hợp

- Kiểm định Bartlett xem xét giả thuyết H0: Nếu kiểm định này có ý nghĩa thống kê (sig < 0,05) thì các biến có tương quan với nhau trong tổng thể

- Hệ số tải nhân tố (Factor loading) là chỉ tiêu đảm bảo

ý nghĩa của EFA ≥0,5

+ Tỷ lệ giải thích sự thay đổi do các biến (Total variation explained) > 50%

6 Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được thông qua

Hội đồng đạo đức nghiên cứu trường Đại học Y Hà Nội thông qua, chấp thuận số 122/HDDD-ĐHYHN ngày 28 tháng 2 năm 2013

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Nhóm tuổi

Giới

Trình độ văn hóa

Trang 4

Có 35,0% đối tượng tham gia nghiên cứu ở nhóm tuổi trên 60 tuổi và chỉ có 7% ở nhóm tuổi từ 18 - 29 Trong đó,

nữ giới chiếm 56,3% nhiều hơn nam giới (43,7%) Trình độ học vấn chủ yếu là từ cấp III trở xuống và có 4 người trong tổng số 788 đối tượng nghiên cứu là không biết chữ chiếm 0,5%

2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức về tăng huyết áp của người trưởng thành.

Bảng 3 Mối liên quan giữa giới tính, trình độ học vấn và nhóm tuổi với các kiến thức về bệnh tăng huyết áp

Biến

Nhóm biến về triệu chứng bệnh tăng huyết áp

Nhóm biến về biến chứng bệnh tăng huyết áp

Nhóm biến về các yếu tố nguy

cơ bệnh tăng huyết áp

Nhóm biến về

dự phòng bệnh tăng huyết áp

Tổng điểm chung

Điểm trung bình 2,4 ± 1,0 2,6 ± 1,5 4,4 ± 2,8 3,7 ± 2,5 13,7 ± 7,0

Giới

p = 0,53a p = 0,98a p = 0,47a p = 0,70a p = 0,6a

Trình độ học vấn

p = 0,06a p = 0,000 a* p = 0,01 a p = 0,15 a p = 0,002 a*

Nhóm tuổi

p = 0,000 b* p = 0,000 b* p = 0,000 b* p = 0,000 b* p = 0,000 b*

* p < 0,05 (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh giữa các nhóm)

a: test t; b: test ANOVA

Điểm trung bình kiến thức về biến chứng bệnh tăng huyết áp và tổng điểm chung cao hơn ở những người có trình độ học vấn từ cấp III trở lên (p< 0,05) Nhóm tuổi 18-29 có điểm trung bình ở các nhóm kiến thức và tổng điểm chung đều thấp hơn các nhóm tuổi còn lại (p< 0,05) và nhóm tuổi ≥ 60 có điểm cao nhất Không có sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê giữa hai giới

3 Kết quả phân tích đánh giá độ tin cậy các nội dung đánh giá kiến thức về bệnh tăng huyết áp và phân tích nhân tố

Các nhóm

Tương quan biến – tổng (hệ số tin cậy)

Hệ số Cronbach’s Alpha

Định nghĩa

0,704

Bảng 4 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo

Trang 5

Kiến thức về triệu chứng bệnh tăng huyết áp

0,305

Kiến thức về biến chứng tăng huyết áp

0,620

12 Tăng huyết áp có thể gây ra tử vong nếu

Kiến thức về các yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp

0,784

Kiến thức về cách dự phòng bệnh tăng huyết áp

0,821

Các nhóm

Tương quan biến – tổng (hệ số tin cậy)

Hệ số Cronbach’s Alpha

Trang 6

Có 25/30 biến trong mô hình có hệ số tương quan tổng phù hợp lớn hơn 0,3 và hệ số Cronbach’s Alpha của 4/5 nhóm biến lớn hơn 0,6 nên thang đo thỏa mãn yêu cầu khi thực hiện kiểm định độ tin cậy của thang đo, do đó phù hợp để thực hiện bước phân tích nhân tố EFA tiếp theo với việc loại bỏ 5 biến có hệ số tương quan với biến tổng < 0,3

Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy 0,891

Bartlett’s Test of

Bảng 5 KMO and Bartlett’s Test (Kiểm định Kaiser – Mayer – Olkin và kiểm định Bartlett’s)

Bảng 6 Kết quả phân tích nhân tố Các nhóm

Hệ số tải nhân tố (Factor Loading)

8 Tăng huyết áp có thể gây ra tử vong nếu không được điều trị 0,651

Trang 7

24 Ăn ít đường/ít muối 0,712

Các nhóm

Hệ số tải nhân tố (Factor Loading)

- KMO = 0,891 > 0,5 nên phân tích nhân tố là thích hợp

- Giá trị p của kiểm định Bartlett’s (Bartlett’s test) = 0,000 < 0,05 chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể

- Kết quả hệ số tải nhân tố của các biến cho thấy có 4 biến có hệ số < 0,5

-Tỷ lệ giải thích sự thay đổi về kiến thức do các biến là 59,43%

IV BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không

có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính và

kiến thức về bệnh tăng huyết áp, giữa trình độ học vấn

và nhóm kiến thức về triệu chứng, các yếu tố nguy cơ

và dự phòng tăng huyết áp (p > 0,05) Liên quan có ý

nghĩa thống kê được tìm thấy giữa yếu tố trình độ học

vấn và nhóm kiến thức về biến chứng bệnh tăng huyết

áp (p < 0,05) cụ thể là: người có trình độ học vấn từ phổ

thông trung học trở lên có tổng điểm trung bình về kiến

thức cao hơn 1,15 lần so với người có trình độ học vấn

dưới THPT Và đặc biệt điểm nhóm kiến thức về biến

chứng tăng huyết áp của người có trình độ học vấn từ

THPT trở lên cao gấp 1,19 lần người có trình độ học

vấn dưới THPT Sự khác biệt này có thể do sự tiếp cận

với các thông tin về sức khỏe của nhóm có trình độ học

vấn dưới THPT ít hơn Kết quả này cũng phù hợp với

nghiên cứu hiểu biết của người dân về bệnh tăng huyết

áp và các yếu tố ảnh hưởng của Nguyễn Lân Việt và

cộng sự tiến hành tại 8 tỉnh đại diện cho 8 vùng sinh thái

vào năm 2010 [1]

Trong nghiên cứu này nhóm tuổi 18 - 29 có điểm

trung bình ở các nhóm kiến thức và tổng điểm chung

đều thấp hơn các nhóm tuổi còn lại (p < 0,05), nhóm

tuổi 30 - 39, 40 - 49 cũng có điểm trung bình ở các

nhóm kiến thức và tổng điểm chung cao hơn nhóm tuổi

50 - 59 và nhóm tuổi ≥ 60 có điểm trung bình cao nhất

Điều này có thể được giải thích theo sự chệnh lệch về

tỷ lệ nhóm tuổi tham gia nghiên cứu Những người trẻ

tuổi có cuộc sống bận rộn hơn, chưa có nhiều thời gian

cũng như chưa nhận thức được tầm quan trọng của

việc nắm bắt các thông tin về sức khỏe vì vậy họ ít quan

tâm nhất đến các kiến thức về bệnh tật Mặt khác, nhóm

tuổi đi làm là những người có cơ hội thường xuyên được

cập nhật các vấn đề sức khỏe và đối tượng ≥ 60 tuổi

là những đối tượng có nguy cơ cao về bệnh tăng huyết

áp nên họ quan tâm hơn đến các kiến thức về tăng huyết áp Một giả thiết khác có thể do người lớn tuổi có nhiều thời gian tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng hơn như đọc báo, nghe đài, xem ti vi nên có

cơ hội tiếp cận với các chương trình phòng chống bệnh tăng huyết áp hiện rất được chú trọng thông tin qua các phương tiện này

Kết quả kiểm tra độ tin cậy của 30 biến quan sát

đo lường kiến thức bệnh tăng huyết áp của chúng tôi cho thấy 25/30 biến có hệ số tương quan với biến tổng đạt trên 0,6 với các hệ số Cronbach’s Alpha của 4/5 nhóm >0,3 Cụ thể nhóm biến “định nghĩa tăng huyết áp”, nhóm biến “kiến thức về các triệu chứng tăng huyết áp”, nhóm biến “kiến thức về các biến chứng tăng huyết áp”, nhóm biến “kiến thức về các yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp”, nhóm biến “kiến thức về các biện pháp dự phòng” với hệ số Cronbach’s Alpha lần lượt là 0,704; 0,305; 0,620; 0,784; 0,821 Riêng có nhóm biến

“kiến thức về các triệu chứng” có hệ số Cronbach’s Al-pha nhỏ hơn 0,6 nên bị loại, kết quả này cũng phù hợp với hệ số tương quan so với biến tổng của các biến trong nhóm nhỏ hơn 0,3, tức là mức độ phân biệt giữa các cá thể là rất thấp [8,9] Như vậy kết quả phân tích cho thấy các thang đo dùng trong mô hình đảm bảo độ tin cậy cho phép với điều kiện loại nhóm biến liên quan đến kiến thức về triệu chứng của bệnh tăng huyết áp Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Erkoc

và cộng sự trong nghiên cứu phát triển thang đo, độ tin cậy và tính giá trị của thang đo kiến thức về bệnh tăng huyết áp Trong nghiên cứu này các nhóm biến số về biến chứng, các yếu tố nguy cơ liên quan đến lối sống đều có hệ số Cronbach’Alpha > 0,6 [8; 9]

Sau khi loại bỏ 5 biến có hệ số Cronbach’Alpha < 0,6; 25 biến đo lường thuộc 4 nhóm kiến thức là “định nghĩa tăng huyết áp”, “kiến thức về biến chứng tăng

Trang 8

huyết áp”; “kiến thức về các yếu tố nguy cơ tăng huyết

áp” và “kiến thức về các biện pháp dự phòng tăng huyết

áp” được sử dụng trong phân tích nhân tố tiếp theo Kết

quả trị số KMO có giá trị bằng 0,891 (0,5 < KMO < 1)

và kiểm định Bartlett có p = 0,000 < 0,05 chứng tỏ các

biến trong tổng thể có mối liên quan với nhau Khi xem

xét tới hệ số tải nhân tố, 4 biến bao gồm: yếu tố nguy

cơ ăn nhiều chất béo, yếu tố nguy cơ ít vận động, yếu

tố nguy cơ tuổi cao, yếu tố nguy cơ căng thẳng tinh thần

có hệ số tải nhân tố < 0,5 nên các biến này sẽ tiếp tục

bị loại 21 biến còn lại đều có hệ số tải nhân tố >0,5 cho

thấy mức độ phù hợp của dữ liệu đã được đảm bảo và

giá trị phương sai cộng dồn bằng 59,43% cho biết các

biến được sử dụng trong phân tích này giải thích được

59,43% sự biến thiên của dữ liệu (đảm bảo điều kiện

tổng phương sai cộng dồn > 50%)

Như vậy mô hình nghiên cứu mối liên quan của các

nhóm biến số với kiến thức về bệnh tăng huyết áp của

người trưởng thành tại quận Ngô Quyền được hiệu

chỉnh lại như sau: tổng số 21 biến có thể sử dụng để

xây dựng mô hình chia làm 4 nhóm biến (4 nhóm nhân

tố) Đó là: Nhóm 1 là nhóm biến định nghĩa về bệnh

tăng huyết áp gồm 2 biến (có hệ số tải nhân tố từ 0,644

đến 0,758); nhóm 2 là nhóm biến kiến thức về biến

chứng gồm 6 biến (có hệ số tải nhân tố từ 0,501 đến

0,707); nhóm thứ 3 là nhóm biến về các yếu tố nguy cơ

liên quan đến lối sống gồm 5 biến (có hệ số tải nhân tố

từ 0,571 đến 0,704); nhóm thứ 4 là nhóm biến về các

biện pháp dự phòng gồm 8 biến (có hệ số tải nhân tố từ

0,534 đến 0,712)

V KẾT LUẬN

- Yếu tố trình độ học vấn và nhóm tuổi có ảnh hưởng

đến kiến thức về bệnh tăng huyết áp của người trưởng

thành tại Hải Phòng (test t, p < 0,05) Những người có

trình độ học vấn cao hơn thì có hiểu biết hơn, nhóm tuổi

càng cao thì kiến thức về bệnh càng nhiều hơn Không

có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính và

kiến thức về bệnh tăng huyết áp

- Phân tích hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân

tố cho thấy các biến sử dụng trong bộ câu hỏi về kiến thức tăng huyết áp là nhất quán, phù hợp Bộ câu hỏi đảm bảo tính giá trị và độ tin cậy khi áp dụng

Lời cảm ơn

Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Đề tài độc lập cấp nhà nước ĐTĐL.2012/G32 đã cho phép các tác giả

sử dụng số liệu để viết bài báo này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Lân Việt (2011), Phòng chống bệnh tăng

huyết áp - Giảm gánh nặng bệnh tật Chương trình quốc gia phòng chống Tăng huyết áp

2 WHO (2013), The top 10 causes of death Factsheet,

No 310.

3 WHO (2013), A Global brief on hypertension

Gene-va, Switzeland 40

4 WHO (2013), High Blood Pressure - Global and

Re-gional Overview

5 Phạm Gia Khải và cs (2003), Điều tra dịch tễ học

tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tại các tỉnh phía

Bắc Việt Nam 2001-2002 T h T h h t

N 33, 9 - 34.

6 Trần Đỗ Trinh and CS (1992), Báo cáo tổng kết công

trình điều tra dịch tễ học bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam

T h h t N 16, 129 - 136.

7 Nguyễn Lân Việt (2012), Dịch tễ học tăng huyết áp

và các nguy cơ tim mạch ở Việt Nam 2001-2009, Đại hội Tim mạch toàn quốc lần thứ 13 Hạ Long

8 Cam MO & Baysan Arabaci (2010), Quantitative and

qualitative steps on attitute scale construction T r h

rn r h N r ng 2, 59 - 71.

9 Sultan Baliz Erkoc, et al.(2012), Hypertension

Knowledge-Level Scale (HK-LS): A Study on Develop-ment, t n t nt rn t n rn

n r n nt r h n P H th 9, 1018 -

1029

Summary THE RELIABILITY OF THE QUESTIONNAIRE AND SOME FACTORS AFFECTING TO THE KNOWLEDGE OF THE HYPERTENSION AMONG

THE ADULTS IN HAI PHONG

This study aims to understand the factors affecting the knowledge on the hypertension among the adults and

Trang 9

interviewed Results showed that there were correlations between the statistical significance level of education, age groups on the knowledge of hypertension (t test, p <0.05) Higher education levels are more informed and higher age groups and disease knowledge Twenty one variables used in the questionnaire on knowledge of hypertension knowledge belong to four groups Twenty - one of four groups of variables thirty variables explain 59.43% of the vari-ation of the results of hypertension knowledge of the sample Cronbach's alpha coefficients for all the variables is 0.732 and for the four groups were greater than 0.6 option proved questionnaire This study shows that this question-naire is consistency and reliable The higher education and the old age are the factors affected on the knowledge of the hypertension in the adults in Hai Phong city; with a statistically significant of 95%

Keywords: hypertension; knowledge; determinants; factor analysis; reliability

Ngày đăng: 15/01/2020, 13:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w