1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Biến chứng tụ dịch bạch huyết (Lymphocele) sau ghép thận

5 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 335,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tụ dịch bạch huyết (Lymphocele) là biến chứng ngoại khoa thường gặp ở bệnh nhân ghép thận. Chúng tôi trình bày 2 trường hợp bị biến chứng Lymphocele xảy ra sau ghép thận với mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của biến chứng Lymphocele hình thành sau ghép thận, chỉ định điều trị và biện pháp phòng ngừa biến chứng.

Trang 1

BIẾN CHỨNG TỤ DỊCH BẠCH HUYẾT (LYMPHOCELE)

SAU GHÉP THẬN

Trương Hoàng Minh*, Trần Thanh Phong*, Trần Lê Duy Anh*, Trần Hải Phong*, Đỗ Anh Đức*,

Lê Hoàng Thịnh*, Lê Thị Nghĩa*, Nguyễn Phước Hải**, Trang Thị Cẩm Nguyên**, Phan Văn Báu***

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Tụ dịch bạch huyết (Lymphocele) là biến chứng ngoại khoa thường gặp ở bệnh nhân ghép thận

Chúng tôi trình bày 2 trường hợp bị biến chứng Lymphocele xảy ra sau ghép thận với mục tiêu: Nghiên cứu đặc

điểm lâm sàng, cận lâm sàng của biến chứng Lymphocele hình thành sau ghép thận, chỉ định điều trị và biện pháp phòng ngừa biến chứng

Bệnh nhân và phương pháp: Hồi cứu mô tả 2 trường hợp lâm sàng từ tháng 2/2010 đến tháng 2/2018 tại

Bệnh viện Nhân Dân 115

Kết quả: Bệnh nhân nam 46 tuổi (BN số 1), ghép thận lần 2 (lần đầu thải ghép thể dịch, lấy bỏ thận ghép) và

bệnh nhân nữ 34 tuổi (BN số 2) ghép thận lần đầu Thời điểm xuất hiện biến chứng 1,5 tháng (BN số 1) và 2 tháng (BN số 2) sau ghép Khối u vùng thận ghép ở cả 2 BN, ảnh hưởng chức năng thận (BN số 2) Tụ dịch trên siêu âm và CT-Scan, chẩn đoán Lymphocele nhờ xét nghiệm dịch khi mổ Điều trị mổ mở tạo cửa sổ vào khoang sau phúc mạc Kiểm tra 3 tháng sau mổ không ghi nhận tái phát

Kết luận: Lymphocele hình thành sau ghép thận xẩy ra trong 2 tháng đầu sau ghép, phát hiện sớm nhờ siêu

âm và CT-Scan Có 1 trường hợp thận ứ nước và niệu quản giãn, tăng mức Creatinin/huyết thanh Điều trị mổ

mở dẫn lưu mở cửa sổ vào khoang phúc mạc là lựa chọn an toàn, ít tái phát

Từ khóa: Lymphocele, ghép thận

ABSTRACT

LYMPHOCELE FOLLOWING RENAL TRANSPLANTATION

Truong Hoang Minh, Tran Thanh Phong, Tran Le Duy Anh, Tran Hai Phong, Đo Anh Đuc,

Le Hoang Thinh, Lê Thi Nghia, Nguyen Phuoc Hai, Trang Thi Cam Nguyen, Phan Van Bau

* Ho Chi Minh City Journal Of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 4- 2018: 67 - 71

Objectives: Lymphocele is a common surgical complication of kidney transplant patients We reported two

cases of Lymphocele complications occurring after kidney transplantation with the objective: To research the

clinical and subclinical features of Lymphocele complications formation after renal transplantation, indications for treatment and prevention of complications.

Materials and Methods: Retrospective description of two clinical cases.

Results: The 46-year-old man (Patient No.1), the second kidney transplant (nephrectomy of first graff), and the 34-year-old woman (Patient No.2) The occurrence time: 1.5-2 months after transplant Mass at the pelvis

Trang 2

Conclusions: Lymphoceles formed after kidney transplantation occurred in the first 2 months after transplantation, early detection by ultrasonography and CT-Scan There was one case of hydronephrosis and dilatation of ureter, elevated serum creatinine / serum Surgical treatment with the marsupialization into the peritoneal cavity is a safe option, less recurrence.

Key words: Lymphocele, kidney transplantation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Biến chứng tụ dịch bạch huyết (Lymphocele)

hình thành ở bệnh nhân sau ghép thận là một

trong những biến chứng ngoại khoa thường gặp,

có tỉ lệ từ 0,6- 49% tùy theo từng trung tâm(2,3,4)

Thường Lymphocele không có triệu chứng,

nhưng có thể là nguyên nhân chèn ép vào thận

ghép, niệu quản, bàng quang, mạch máu thận

ghép gây suy giảm chức năng thận ghép, phù

chi dưới và đặc biệt làm thuyên tắc tĩnh mạch

chậu ngoài(1)

Có nhiều phương pháp điều trị dẫn lưu ổ

Lymphocele, chúng tôi trình bày 2 trường hợp

lâm sàng với mục tiêu: Nghiêncứu đặc điểm lâm

sàng, cận lâm sàng của biến chứng Lymphocele

hình thành sau ghép thận, chỉ định điều trị và biện pháp phòng ngừa biến chứng

BỆNH NHÂN - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Hồi cứu mô tả các trường hợp lâm sàng từ tháng 2/2010 đến tháng 2/2018 tại Bệnh viện Nhân Dân 115 Có 2 bệnh nhân được chẩn đoán Lymphocele

Ghi nhận tiền sử bệnh, triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị và theo dõi sau 3 tháng điều trị

KẾT QUẢ

Qua 2 trường hợp nhập khoa Ngoại niệu – ghép thận, chúng tôi thu nhận kết quả sau:

Bảng 1 Lý do nhập viện và triệu chứng của bệnh nhân

Khối u hố chậu trái

Đi tiểu bình thường

Không đau Khối u hố chậu phải

Đi tiểu lắt nhắt, thiểu niệu

Creatinin/huyết thanh: 1,4 mg/dl CRP: 1,06 mg/dl Siêu âm: Tụ dịch cực dưới, sau thận ghép

CT-Scan: Tụ dịch mặt sau, cực dưới thận ghép

Urê/HT: 69 mg/dl Creatinin/huyết thanh: 2,9 mg/dl CRP: 1,05 mg/dl Siêu âm: Tụ dịch cực dưới thận ghép lượng lớn CT-Scan: Tụ dịch quanh thận ghép

Trang 3

A B C

Hình1: A và B: Hình ảnh CT-Scan (lát cắt ngang, dọc thận ghép), C: Hình ảnh siêu âm vùng thận ghép

Hình 2: A và B: Hình ảnh bệnh nhân trước mổ C: Hình ảnh vết mổ dẫn lưu ổ Lymphocele

Bảng 2 Kết quả điều trị

ổ bụng

Mổ mở thăm dò, dẫn lưu + mở cửa sổ vào khoang

ổ bụng

Tổn thương cơ quan

lân cận

/ngày Dẫn lưu khô sau 1 ngày, rút ngày thứ 3 sau mổ

Cắt chỉ ngày 8 sau mổ

Ra viện: chức năng thận bình thường

Thuốc sau mổ: Rocephin 2g/ngày, Perfalgan 1g x 3

/ngày Dẫn lưu khô sau 3 ngày rút, ngày thứ 5 sau mổ Creatinin/HT về bình thường ngày 3 sau mổ

Cắt chỉ ngày 8 sau mổ

Ra viện: chức năng thận bình thường

BÀN LUẬN

Lymphocele được định nghĩa là hiện tượng

tụ dịch bạch huyết ở khoang ngoài phúc mạc

triệu chứng, ảnh hưởng đến chức năng thận ghép hoặc chèn ép vào cơ quan lân cận thì phải điều trị(2) Cả 2 TH biến chứng Lymphocele kể

Trang 4

đường, béo phì, bất thường về đông máu, sử

dụng liều cao thuốc lợi tiểu, chậm hồi phục chức

năng thận ghép, thải ghép, quá trình bóc tách

quá mức ở rốn thận khi lấy thận để ghép và bóc

tách mạch máu chậu để ghép(3) Ngoài ra, ảnh

hưởng của việc sử dụng thuốc ức chế mTOR còn

nhiều bàn cãi(3).Chúng tôi ghi nhận bệnh nhân

nam có tiền sử thải ghép thể dịch trước khi ghép

lần 2 Tác giả Zietek Z cũng cho rằng sau khi lấy

bỏ thận ghép là yếu tố nguy cơ làm gia tăng biến

chứng Lymphocele(5) Vấn đề phẫu tích ở rốn

thận ghép trong quá trình lấy thận và ghép thì

chúng tôi không khai thác được

Về chẩn đoán dễ dàng nhận thấy trên siêu

âm, CT-Scan bụng có tiêm thuốc cản quang Tuy

nhiên, siêu âm khó khăn loại trừ rò nước tiểu từ

trong hệ niệu Chụp CT-Scan có lợi chẩn đoán

phân biệt rò từ đường niệu Nếu rò tại vị trí cắm

lại niệu quản vào bàng quang, chụp bàng quang

thì rặn tiểu sẽ chẩn đoán dễ dàng với thuốc cản

quang thoát ra ngoài bàng quang Xạ hình thận

là phương tiện tốt để chẩn đoán rò từ đường

niệu Chọc hút dịch làm xét nghiệm ghi nhận

Ure và Creatinin/ dịch tương đương với nồng độ

trong huyết thanh là xét nghiệm chẩn đoán

dương tính Cả 2 trường hợp của chúng tôi chụp

CT-Scan không ghi nhận thuốc cản quang thoát

ra ngoài đường niệu Chúng tôi không chọc dò

vì ổ tụ dịch ở mặt sau thận ghép, vùng hố chậu

nên sợ làm tổn thương thận ghép và mạch máu

vùng chậu nên chủ động mổ thăm dò, lấy dịch

làm xét nghiệm xác định dịch Lymphocele

Theo y văn, có nhiều phương pháp điều trị

Lymphocele, mổ mở hay mổ nội soi ổ bụng để

mở cửa sổ dẫn lưu dịch Lympho vào khoang ổ

bụng Dần dần tổ chức bạch huyết quanh thận

ghép sẽ xơ hóa dần và hết tiết dịch Chúng tôi

chủ động mổ mở nhằm kiểm tra xem có rò

đường niệu hay không, đồng thời tạo cửa sổ

thông ổ tụ dịch với khoang phúc mạc Mặt khác

ổ tụ dịch ở sau thận ghép, thấy còn khá xa tới

khoang phúc mạc trên hình ảnh CT-Scan nên

không chỉ định mổ nội soi

Sau khi kiểm tra chắc chắn không có tổn

thương hệ tiết niệu, chúng tôi dùng bột cầm máu phun lên những vị trí nghi ngờ tiết dịch lymphocele, đồng thời vừa dẫn lưu ổ mổ ra ngoài vừa dẫn lưu vào khoang phúc mạc Một số tác giả cho rằng chỉ cần dẫn lưu vào khoang phúc mạc là đủ và thực hiện qua nội soi ổ bụng

là lựa chọn ưu tiên(4)

Mổ lại theo đường mổ ghép thận cũ gặp nhiều khó khăn như dính, chảy máu Do vậy nếu tiếp cận được qua nội soi ổ bụng là lý tưởng Do đây là những ca đầu nên chúng tôi không thực hiện Tuy nhiên, phải khẳng định tụ dịch là Lymphocele mới thực hiện nội soi mở cửa sổ vì nếu rò từ đường niệu sẽ gây viêm phúc mạc do nước tiểu Tác giả Marcelo Lopes de Lima ghi nhận có 8% biến chứng tổn thương niệu quản phải mổ lại(2)

Tùy theo kích thước cửa sổ vào ổ phúc mạc

và sử trí đốt những vị trí nghi ngờ tiết Lympho

mà có thể tái phát Lymphocele sau mổ, tác giả Marcelo Lopes de Lima cũng ghi nhận tỉ lệ tái phát là 4% sau 45 ngày điều trị(2) Theo Zietek Z,

tỉ lệ tái phát nếu chỉ chọc hút qua da là 100%, dẫn lưu qua da dưới hướng dẫn siêu âm là 50%, mổ nội soi qua ổ bụng tạo cửa sổ là 75%, mổ mở có kết tốt nhất(5)

Chúng tôi theo dõi 3 tháng chưa ghi nhận tái phát Việc phòng ngừa biến chứng lymphocele phải thực hiện từ tiến trình lấy thận và tiến trình ghép thận Kinh nghiệm của chúng tôi là cột mỡ quanh rốn thận khi tiến hành lấy thận ở người cho, đồng thời cột các tổ chức quanh mạch máu vùng chậu ở người nhận khi bóc tách mạch máu

để khâu nối với mạch máu thận ghép, tránh dùng dao đốt Điều này có thể chứng minh qua gần 200 trường hợp ghép thận tại BVND 115 nhưng chưa ghi nhận trường hợp nào bị Lymphocele Cả 2 trường hợp chúng tôi trình bầy ở trên là ghép ở nơi khác chuyển tới

KẾT LUẬN

Qua 2 trường hợp biến chứng Lymphocele hình thành sau ghép thận xẩy ra trong 2 tháng đầu sau ghép, phát hiện sớm nhờ siêu âm Có 1

Trang 5

trường hợp ổ tụ dịch chèn ép vào đường niệu

gây thận ứ nước độ 1, tăng mức Creatinin/huyết

thanh Chẩn đoán xác định nhờ CT-Scan và xét

nghiệm dịch Điều trị mổ mở dẫn lưu mở cửa sổ vào

khoang phúc mạc là lựa chọn an toàn, ít tái phát

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bzoma B, Kostro J, Debska-Slizien A et al (2016), “Treatment of

the Lymphocele after kidney transplantation: A single-center

experience”, Transplant Proc; 48(5), p 1637-40

2 de Lima ML, Moro JC et al (2012), “Laparoscopic treatment of

lymphoceles after renal transplantation”, Int Braz JUrol; 38(2),

ISSN: 1677-6119, p; 1-7

3 Ranghino A, Segoloni GP, Lasaponara F et al (2015), “Lymphatic disorders after renal transplantation: new insights for an old

complication”, Clin Kidney J; 8(5), p 615-22

4 Shaver TR, Swanson SJ, Carlos FB et al (1993), “The optimal treatment of lymphoceles following renal transplantation”,

Transplant Int; 6(2), p.108-110

5 Zietek Z, Sulikowski T, Tejchman K et al (2007), “Lymphocele

after kidney transplantation”, Transplant Proc; 39(9), p 2744-7

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/06/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 13:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w