1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nồng độ homocysteine huyết tương trên bệnh nhân mụn trứng cá được điều trị bằng isotretinoin uống

7 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 319,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mụn trứng cá là một bệnh da phổ biến, việc sử dụng isotretinoin uống trong điều trị mụn trứng cá cũng ngày một tăng dần vì đây có thể được xem là thuốc điều trị mụn hiệu quả nhất hiện nay. Đánh giá sự thay đổi nồng độ homocysteine huyết tương ở bệnh nhân mụn trứng cá điều trị với isotretinoin uống.

Trang 1

NỒNG ĐỘ HOMOCYSTEINE HUYẾT TƯƠNG TRÊN BỆNH NHÂN MỤN TRỨNG CÁ ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ

BẰNG ISOTRETINOIN UỐNG

Trần Thị Thúy Phượng*, Lê Thái Vân Thanh*

TÓM TẮT

Mở đầu: Mụn trứng cá là một bệnh da phổ biến, việc sử dụng isotretinoin uống trong điều trị mụn trứng cá

cũng ngày một tăng dần vì đây có thể được xem là thuốc điều trị mụn hiệu quả nhất hiện nay Tuy nhiên, Isotretinoin cũng gây ra nhiều tác dụng phụ đáng kể Một vài nghiên cứu trên thế giới đã kể đến tác dụng phụ tăng nồng độ homocysteine máu trong thời gian điều trị isotretinoin ở bệnh nhân mụn trứng cá Tăng homocysteine máu là yếu tố nguy cơ cho bệnh lý tim mạch và huyết khối Bên cạnh đó, một số nghiên cứu gần đây lại nhấn mạnh về tính an toàn và hiệu quả của việc điều trị với isotretinoin liều thấp Hiện tại, chưa có dữ liệu về tính an toàn và tác động của isotretinoin liều thấp lên nồng độ homocysteine huyết tương, đặc biệt trên đối tượng dân số Việt Nam

Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi nồng độ homocysteine huyết tương ở bệnh nhân mụn trứng cá điều trị với

isotretinoin uống

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu theo dõi dọc trên 63 bệnh nhân mụn trứng cá điều trị

với isotretinoin uống tại Bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh Nồng độ homocysteine huyết tương được ghi nhận trước lúc điều trị và tại thời điểm sau 6-8 tuần và 10-12 tuần sau điều trị

Kết quả: Liều isotretinoin uống trung bình là 0,373 ± 0,11 mg/kg/ngày (dưới 0,5 mg/kg/ngày) Nồng độ

homocysteine huyết tương sau điều trị tăng có ý nghĩa thống kê so với trước điều trị (p = 0,021) Thời gian điều trị càng dài, homocysteine càng tăng Tuy nhiên sự tăng này không vượt quá giới hạn bình thường của homocysteine trong máu Sự thay đổi nồng độ homocysteine huyết tương tương quan thuận với liều isotretinoin trung bình (r = 0,431 và p = 0,008)

Kết luận: Điều trị với isotretinoin liều thấp (dưới 0,5 mg/kg/ngày) gây tăng nồng độ homocysteine huyết

tương nhưng không tăng vượt quá giới hạn bình thường để gây nên những biến đổi lâm sàng

Key words: mụn trứng cá, nồng độ homocysteine huyết tương, isotretinoin liều thấp

ABSTRACT

PLASMA HOMOCYSTEINE LEVELS IN PATIENTS ON ORAL ISOTRETINOIN THERAPY FOR

ACNE VULGARIS

Tran Thi Thuy Phuong, Le Thai Van Thanh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 22 - No 1- 2018: 66 – 72

Background: Acne is a common disease In the last two decades, there has been an increasing use of

isotretinoin for treatment of acne vulgaris Isotretinoin has marked side effect It has been shown in some previous studies that the homocysteine level increases during the time of treatment acne with isotretinoin Hyperhomocysteinemia is a risk factor for cardiovascular disorder and venous thrombosis However, some recent studies emphasize the safety and efficacy of low dose isotretinoin therapy Little data exists on the safety and effect

on plasma homocysteine levels of this strategy, especially on Vietnamese patients

* Bộ môn Da Liễu – ĐHYD TP.HCM

Trang 2

Objective: Evaluate plasma homocysteine level in acne patients with oral isotretinoin therapy

Method: Prospective case series study on 63 acne patients treated with oral isotretinoin at University

Medical Center Ho Chi Minh City Plasma homocysteine concentration were measured at baseline and after 6-8 weeks of isotretinoin therapy

Results: The mean isotretinoin dose was 0.373 ± 0.11 mg/kg/day, which less than 0.5 mg/kg/day Plasma

homocysteine levels were significantly higher in acne patients on isotretinoin treatment (p = 0.021) But the mean latter homocysteine level was 9.30 ± 2.28 mol/l, which was in the normal range The increased degree of plasma homocysteine had positive correlation with oral isotretinoin dose (r = 0.431 and p = 0.008)

Conclusion: low-dose isotretinoin (less than 0.5 mg/kg/day) therapy caused increasing the plasma

homocysteine levels but they did not exceed the normal range to make the clinical disorders

Key words: acne vulgaris, plasma homocysteine levels, low dose isotretinoin

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mụn trứng cá là một bệnh da phổ biến, nhất

là ở lứa tuổi thanh thiếu niên Khả năng mắc

bệnh trong giai đoạn thanh thiếu niên có thể lên

đến 85-100%(2,3,8) Ở nước ta, tần suất mắc bệnh

mụn trứng cá cũng khá cao, bệnh chiếm 17,97%

tổng số bệnh da đến khám tại bệnh viện Da Liễu

thành phố Hồ Chí Minh năm 2006, chỉ đứng sau

bệnh Chàm(14) Mụn trứng cá mức độ nặng chiếm

10%, mức độ trung bình chiếm 33%, trong đó

mụn mức độ trung bình dai dẳng, không đáp

ứng điều trị hoặc mụn nặng thường để lại di

chứng(23) làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc

sống của bệnh nhân Isotretinoin được sử dụng

trong điều trị mụn trứng cá nặng hoặc trung

bình không đáp ứng với điều trị thông thường

Tỉ lệ đáp ứng với isotretinoin cao đi cùng với sự

giảm kích thước tuyến bã và giảm tiết bã nhờn

với trị liệu bằng isotretinoin vượt trội hơn so với

các phương pháp điều trị giảm tiết bã nhờn

khác(5) Tuy nhiên thuốc cũng có nhiều tác dụng

phụ trên da niêm, cơ xương, mắt, hệ thần kinh

trung ương và chuyển hóa Gần đây, Trên thế

giới đã có một số nghiên cứu về nồng độ

homocysteine huyết tương sau điều trị

isotretinoin ở bệnh nhân mụn trứng cá Việc gia

tăng homocysteine máu gây ra nhiều tác hại cho

cơ thể đã được ghi nhận trong y văn và trong các

nghiên cứu đã được công bố, trong đó tác hại nổi

bật là gây thuyên tắc mạch máu hoặc suy giảm

chức năng nhận thức và sa sút trí tuệ(6,7,9,26) Tuy

ngoài nước báo cáo về sự an toàn khi sử dụng isotretinoin uống, theo đó, sử dụng isotretinoin uống với liều thấp có thể để để lại tác dụng phụ không đáng kể lên các rối loạn chuyển hóa(1,19,24)

đồng thời các nghiên cứu về sự tăng nồng độ homocysteine máu ở bệnh nhân mụn trứng cá điều trị isotretinoin chưa nhất quán cũng như chưa có nghiên cứu nào trên bệnh nhân Việt Nam Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Nồng

độ homocysteine huyết tương trên bệnh nhân mụn trứng cá được điều trị bằng isotretinoin uống”, nhằm đánh giá sự thay đổi nồng độ homocysteine trong quá trình sử dụng isotretinoin uống trong thực tế lâm sàng ở Việt Nam đồng thời xem xét có cần thiết phải theo dõi nồng độ homocysteine máu ở những bệnh nhân được chỉ định isotretinoin uống hay không

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, điều trị

ở bệnh nhân mụn trứng cá trước điều trị isotretinoin uống có nồng độ homocysteine huyết tương trong giới hạn bình thường tại bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh từ tháng 9/2016 đến tháng 4/2017

Khảo sát nồng độ homocysteine huyết tương

ở bệnh nhân mụn trứng cá theo thời gian sử dụng isotretinoin uống

Xác định mối liên quan giữa sự thay đổi nồng độ homocysteine huyết tương với các đặc điểm lâm sàng và liều thuốc điều trị ở bệnh nhân mụn trứng cá điều trị bằng isotretinoin uống

Trang 3

ĐỐI TƯỢNG- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân bị mụn trứng cá điều trị với

isotretinoin uống tại Phòng khám chăm sóc da,

cơ sở 1, bệnh viện Đại Học Y Dược thành phố

Hồ Chí Minh từ tháng 9/2016 đến tháng 4/2017

Tiêu chuẩn nhận vào

Được chẩn đoán mụn trứng cá trên lâm sàng

Được chỉ định cho uống isotretinoin

Bệnh nhân  18 tuổi

Có xét nghiệm nồng độ homocysteine trong

giới hạn bình thường trước khi sử dụng

isotretinoin uống

Không uống isotretinoin trong vòng 6 tháng

trước thời điểm tham gia nghiên cứu

Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu và

chấp nhận quay lại tái khám ít nhất sau 6-8 tuần

kể từ khi bắt đầu dùng thuốc

Tiêu chuẩn loại trừ

Đang được điều trị phối hợp một bệnh lý

khác

Có các yếu tố làm thay đổi homocysteine

máu như suy thận, suy gan, đang sử dụng các

thuốc chống động kinh phenytoin, L-dopa,

methotrexate, theophylline, penicillamin,

vitamin B12, vitamin B6, acid folic

Bệnh nhân không tuân thủ nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu hàng loạt ca, theo dõi dọc

(longitudinal study)

Phương pháp tiến hành

Đối tượng nghiên cứu thỏa mãn tiêu chuẩn

nhận bệnh thì sẽ được giải thích cặn kẽ về mục

tiêu, cách thức tiến hành nghiên cứu và ký vào

biên bản đồng ý tham gia nghiên cứu

Buổi gặp mặt đầu tiên: thu thập thông tin

chung về đối tượng nghiên cứu, đặc điểm lâm

sàng, cách sử dụng thuốc, kết quả xét nghiệm

trước điều trị

Buổi gặp thứ 2 và thứ 3, tại thời điểm 6-8 tuần và 10-12 tuần của điều trị: bệnh nhân được khám và đánh giá độ nặng, ghi nhận liều thuốc đang dùng (nếu có thay đổi), tính liều tích lũy và định lượng homocysteine trong huyết tương lần

n

Xử lý số liệu

Số liệu được nhập mã hóa và xử lí bằng phần

mềm SPSS 20.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 63 bệnh nhân, sau 10-12 tuần theo dõi còn lại 38 bệnh nhân Tỉ lệ bệnh nhân nữ cao hơn nhiều so với bệnh nhân nam Hầu hết các bệnh nhân đã từng điều trị mụn trứng cá trước đó với các phương pháp khác nhau kể cả isotretinoin uống (Bảng 1) Phần lớn bệnh nhân có tình trạng mụn trứng

cá trung bình và nặng với da nhờn chiếm đa số

và sang thương thường gặp là ở mặt Liều isotretinoin trung bình trong nghiên cứu là 0,373

± 0,11 mg/kg/ngày, với liều dùng hằng ngày là 20mg chiếm đa số (Bảng 2)

Sự thay đổi nồng độ homocysteine huyết tương trước (8,76 ± 2,22 mol/l) và sau điều trị

6-8 tuần (9,30 ± 2,26-8 mol/l) có ý nghĩa thống kê với p=0,021 < 0,05

Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ %

Trình độ học vấn

Tiền căn điều trị mụn trứng cá

Đã từng điều trị isotretinoin uống

Đã điều trị phương pháp khác ngoài isotretinoin

Thời gian bệnh

Trang 4

Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên

cứu

Đặc điểm lâm sàng Số lượng Tỉ lệ %

Loại da

Triệu chứng

cơ năng

Các loại sang

thương mụn

trứng cá

Phân bố vị trí

các sang

thương mụn

trứng cá

Di chứng sẹo

Độ nặng

Bảng 3: Liều Isotretinoin uống

Số lượng Tỉ lệ %

Liều hằng

ngày

Liều trung

bình hàng

ngày

< 0,5 mg/kg/ngày 58 92,1

Bảng 4: So sánh nồng độ homocysteine huyết tương

trước và sau điều trị 6 – 8 tuần

Trước điều trị Sau điều tri 6 – 8

tuần

P

8,76 ± 2,22

(µmol/L)

9,30 ± 2,28 (µmol/L)

0,021 (Pair Sample T Test)

Sự thay đổi nồng độ homocysteine huyết

tương sau điều trị 6-8 tuần (8,96 ± 1,99 mol/l) và

sau điều trị 10-12 tuần (9,94 ± 2,56 mol/l) có ý

nghĩa thống kê với p=0,002 < 0,05 (Bảng 5)

Sự thay đổi nồng độ homocysteine huyết tương tương quan thuận với liều isotretinoin trung bình, nghĩa là liều isotretinoin càng cao thì

sự thay đổi homocysteine càng lớn (Bảng 6)

Bảng 5: So sánh nồng độ homocysteine huyết tương

trong khoảng thời gian từ 6-8 tuần đến 10-12 tuần (n=38)

Sau điều tri 6 – 8 tuần

Sau điều tri 10 – 12 tuần

P

8,96 ±1,99 (µmol/L)

9,94 ± 2,56 (µmol/L)

0,002 (Pair Sample T Test)

Bảng 6: Sự tương quan giữa liều điều trị isotretinoin

uống và mức tăng homocysteine huyết tương ở nhóm tăng homocysteine sau 6 – 8 tuần

mg/kg/ngày

Hệ số tương

(Pearson Test)

Bảng 7: Mối liên quan giữa sự tăng homocysteine

huyết tương và liều isotretinoin

Liều nồng độ homocysteine huyết tương sau 6 - 8 tuần

điều trị Tổng OR: 4,15 (KTC 95%:

1,04 – 16,50)

p = 0,034

(2 Test)

Tăng Không tăng

Liều ≥ 0,44 mg/kg/ngày

Liều < 0,44 mg/kg/ngày

Bệnh nhân được điều trị với isotretinoin liều

≥ 0,44 mg/kg/ngày có nguy cơ tăng homocysteine cao hơn bệnh nhân được điều trị với liều Isotretinoin <0,44 mg/kg/ngày có OR là 4,15 (KTC 95%: 1,04 – 16,50) với p = 0,034

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi có bệnh nhân chủ yếu là giới nữ vì đặc thù nơi thực hiện nghiên cứu là Phòng khám chăm sóc da với bệnh nhân đến khám chủ yếu là nữ Đặc điểm về tuổi và thời gian bệnh tương tự với các nghiên cứu trước đây được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh

và một số nghiên cứu nước ngoài(13,16,21) Thời gian mắc bệnh > 24 tháng chiếm đa số 76,2% Trong đó 19% bệnh nhân đã từng uống

Trang 5

Chứng tỏ những bệnh nhân được chỉ định

isotretinoin trong mẫu nghiên cứu có tình trạng

bệnh dai dẳng, đã từng không đáp ứng với trị

liệu khác

Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm lâm sàng mụn trứng cá trong

nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng với

các nghiên cứu trước Tuy nhiên tỉ lệ bệnh nhân

có triệu chứng ngứa và đau thấp hơn trong khi

các tổn thương mụn trứng cá nặng như nang cục

và mức độ nặng tính theo thang điểm GAGs trên

bệnh nhân của chúng tôi chiếm tỉ lệ cao

hơn(13,16,15,18)

Liều isotretinoin

Bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi

được điều trị với liều isotretinoin trung bình là

0,373 ± 0,11 mg/kg/ngày, với mức liều dao động

từ 0,14 mg/kg/ngày đến 0,67 mg/kg/ngày Mức

liều này tương tự như mức liều isotretinoin uống

bệnh nhân được sử dụng trong nghiên cứu của

tác giả Nguyễn Thị Trà My(16) Trong đó chỉ có

7,9% bệnh nhân dùng liều  0,5 mg/kg/ngày

Điều này cho thấy bệnh nhân chủ yếu được sử

dụng isotretinoin liều thấp Liều khuyến cáo sử

dụng isotretinoin là liều 0,5-1mg/kg/ngày, với

liều này, hiệu quả điều trị cao nhưng tác dụng

phụ của thuốc rất nhiều(25) Bất lợi của việc sử

dụng liều cao còn là sự bùng phát mụn sau 3-6

tuần điều trị có thể do liên quan đến sự chết theo

chương trình của các tế bào tuyến bã Dùng

isotretinoin liều dưới 0,2 mg/kg/ngày có thể

ngăn được hiện tượng này(19) Gần đây cũng có

nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng isotretinoin

liều thấp cũng đem lại hiệu quả điều trị và thời

gian tái phát lâu(1,19,24) Với xu hướng sử dụng liều

isotretinoin thấp như hiện nay, cần thiết phải có

các nghiên cứu theo dõi liệu sử dụng isotretinoin

liều thấp có gây ra những tác dụng phụ như khi

sử dụng liều cao hay không

Liều 20 mg/ngày được sử dụng nhiều trong

nghiên cứu của chúng tôi sở dĩ vì khi quy đổi

theo cân nặng trung vị là 50 kg, liều 20mg/ngày

tương đương với liều trung bình trong ngày là

0,4 mg/kg/ngày, gần với liều khuyến cáo và isotretinoin uống thường có chế phẩm viên 20

mg, thuốc được cho 1 lần/ ngày để bệnh nhân dễ

sử dụng, dễ tuân thủ, tiết kiệm chi phí Đây là cũng là liều được báo cáo có hiệu quả giảm tần suất các tác dụng phụ nặng cũng như giảm chi phí điều trị trong nhiều nghiên cứu(1,4,20,21)

So sánh nồng độ homocysteine trước và sau điều trị 6-8 tuần

So với nồng độ homocysteine huyết tương trước điều trị (8,76 ± 2,22 mol/l), nồng độ homocysteine sau điều trị 6-8 tuần cao hơn có ý nghĩa thống kê (9,30 ± 2,28 mol/l) Điều này phù hợp với một số nghiên cứu trước đây trên thế giới(22,17,10,11)

Tuy nhiên những giá trị homocysteine huyết tương sau điều trị vẫn nằm trong giới hạn bình thường Khác với các nghiên cứu nước ngoài đã thực hiện trước đây, hầu như đều được khảo sát trên các đối tượng sử dụng isotretinoin uống liều 0,5 mg/kg/ngày, liều isotretinoin uống trung bình của chúng tôi khá thấp 0,37  0,11 mg/kg/ngày Điều này chứng tỏ sử dụng isotretinoin liều thấp làm thay đổi nồng độ homocysteine trong huyết tương tuy nhiên sự thay đổi này không vượt quá giới hạn để gây ra các biến đổi sinh học Kết quả này tương tự như các nghiên cứu sử dụng isotretinoin liều thấp khác khi khảo sát về nồng độ men gan và mỡ

cứu đầu tiên khảo sát tác dụng của isotretinoin liều thấp lên nồng độ homocysteine huyết tương

So sánh nồng độ homocysteine huyết tương trong khoảng thời gian từ 6-8 tuần đến 10-12 tuần

Tại thời điểm 10-12 tuần, nồng độ homocysteine huyết tương của nhóm 38 bệnh nhân còn lại cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nồng độ homocysteine huyết tương của nhóm này tại thời điểm 6-8 tuần và cao hơn có ý nghĩa thống kê so với thời điểm ban đầu Điều này chứng tỏ nếu được tiếp tục dùng isotretinoin thì

Trang 6

nồng độ homocysteine huyết tương tiếp tục

tăng Thời gian dùng càng dài, nồng độ

homocysteine huyết tương càng tăng Tuy thời

gian điều trị khuyến cáo là 6 tháng, bác sĩ thường

tiếp tục chỉ định isotretinoin cho đến khi bệnh

nhân sạch sang thương mụn với thời gian dùng

trong mụn trứng cá trên mặt là 4 tháng và lên

đến 18 tháng với các trường hợp mụn ở thân

mình(19) Mặc dù vậy, ở mốc 10-12 tuần, nồng độ

homocysteine huyết tương trung bình vẫn nằm

trong giới hạn bình thường

Sự tương quan giữa liều điều trị isotretinoin

uống và mức tăng homocysteine huyết tương ở

nhóm tăng homocysteine sau 6 – 8 tuần

Trong những trường hợp tăng homocysteine

sau 6-8 tuần điều trị, chúng tôi ghi nhận mức độ

tăng homocysteine huyết tương có mối tương

quan với liều isotretinoin uống trung bình hằng

ngày (r = 0,431 và p = 0,008) Đây là tương quan

thuận, mức độ tương quan vừa và có ý nghĩa

thống kê, tức là khi liều isotretinoin uống trung

bình hằng ngày càng tăng thì nồng độ

homocysteine huyết tương tăng càng nhiều so

với giá trị trước điều trị Mối tương quan này

được thể hiện qua phương trình hồi quy tuyến

tính y = 4.6178x - 0.0212 Hiện nay, nhiều nghiên

cứu cho thấy sử dụng isotretinoin liều thấp cũng

có hiệu quả trong điều trị mụn trứng cá, trong

khi chúng tôi nhận thấy sự tăng homocysteine

máu phụ thuộc liều isotretinoin, vậy nên vấn đề

sử dụng isotretinoin liều thấp trong điều trị mụn

trứng cá nên được đặt ra(1,19,24)

Mối liên quan giữa sự tăng homocysteine

huyết tương và liều isotretinoin

Bệnh nhân được điều trị với Isotretinoin liều

≥ 0,44 mg/kg/ngày có nguy cơ tăng homocysteine

cao hơn gấp 4,15 lần bệnh nhân được điều trị với

liều isotretinoin <0,44 mg/kg/ngày (KTC 95%:

1,04 – 16,50) với p = 0,034 (<0,05) Mức liều 0,44

mg/kg/ngày gần bằng 0,5 mg/kg/ngày là mức

liều gần với liều isotretinoin được khuyến cáo sử

dụng khởi đầu trên bệnh nhân mụn trứng cá

nặng Nên chăng khi điều trị isotretinoin với liều

0,5 mg/kg/ngày cần lưu ý theo dõi nồng độ homocysteine máu trong quá trình điều trị

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

Qua thực hiện nghiên cứu trên 63 bệnh nhân mụn trứng cá được điều trị bằng isotretinoin uống, chúng tôi nhận thấy điều trị với liều thấp isotretinoin, nồng độ homocysteine huyết tương trung bình sau điều trị 6-8 tuần cao hơn nồng độ homocysteine trung bình trước điều trị có ý nghĩa thống kê và nồng độ này tiếp tục tăng có ý nghĩa thống kê khi theo dõi đến 10-12 tuần, tuy nhiên các các chỉ số này đều nằm trong giới hạn bình thường Ngoài ra, sự thay đổi nồng độ homocysteine huyết tương tương quan thuận với liều isotretinoin trung bình Bệnh nhân điều trị với liều isotretinoin  0,44 mg/kg/ngày có nguy cơ tăng homocysteine cao hơn gấp 4,15 lần bệnh nhân được điều trị với liều < 0,44 mg/kg/ngày Vậy nên dùng isotretinoin liều thấp trong khoảng 6-8 tuần không làm tăng homocysteine huyết tương, tuy nhiên việc sử dụng với liều cao hơn hay trong khoảng thời gian dài hơn cần phải lưu ý về vấn đề theo dõi nồng độ homocysteine máu và cần được nghiên cứu thêm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Amichai B, Shemer A, Grunwald MH (2006), Low-dose

isotretinoin in the treatment of acne vulgaris J Am Acad

Dermatol, 54 (4): 644-6

2 Andrea LZ, Emmy MG, Diane MT (2012), Acne vulgaris and

acneiform eruption, Fitzpatrick's Dermatology in general

medicine Mc Graw Hill p 897-917

3 Bhate K, Williams HC (2013), Epidemiology of acne vulgaris

Br J Dermatol, 168 (3): 474-85

4 Brito Mde F, Sant'Anna IP, Galindo JC, Rosendo LH, Santos JB (2010), Evaluation of clinical adverse effects and laboratory alterations in patients with acne vulgaris treated with oral

isotretinoin An Bras Dermatol, 85 (3): 331-7

5 Charakida A, Mouser PE, Chu AC (2004), Safety and side

effects of the acne drug, oral isotretinoin Expert Opin Drug Saf,

3 (2): 119-29

6 Collaboration Homocysteine Studies (2002), Homocysteine and risk of ischemic heart disease and stroke: a meta-analysis

Jama, 288 (16): 2015-22

7 den Heijer M, Rosendaal FR, Blom HJ, Gerrits WB, Bos GM (1998), Hyperhomocysteinemia and venous thrombosis: a

meta-analysis Thromb Haemost, 80 (6): 874-7

8 Griffiths C, Barker J, Bleiker T, Chalmers R, Creamer D (2016),

"Rook's Textbook of Dermatology, 4 Volume Set", John Wiley &

Trang 7

9 Hotoleanu C., Porojan-Iuga M., Rusu M L., Andercou A

(2007), Hyperhomocysteinemia: clinical and therapeutical

involvement in venous thrombosis Rom J Intern Med, 45 (2):

159-64

10 Kamal M, Polat M (2015), Effect of different doses of

isotretinoin treatment on the levels of serum homocysteine,

vitamin B 12 and folic acid in patients with acne vulgaris: A

prospective controlled study J Pak Med Assoc, 65 (9): 950-3

11 Karadag AS, Tutal E, Ertugrul DT, Akin KO (2011), Effect of

isotretinoin treatment on plasma holotranscobalamin, vitamin

B12, folic acid, and homocysteine levels: non-controlled study

Int J Dermatol, 50 (12): 1564-9

12 Lee YH, Scharnitz TP, Muscat J, Chen A, Gupta-Elera G, Kirby

JS (2016), Laboratory Monitoring During Isotretinoin Therapy

for Acne: A Systematic Review and Meta-analysis JAMA

Dermatol, 152 (1): 35-44

13 Nguyễn Thanh Hùng (2012), "Tỉ lệ hiện mắc

Propionibacterium acnes và sự đề kháng in vitro đối với

kháng sinh ở bệnh nhân mụn trứng cá thông thường tại bệnh

viện Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh năm 2011-2012", Luận

án bác sĩ chuyên khoa cấp II, Đại học Y Dược TP HCM

14 Nguyễn Thanh Minh (2006), "Tỉ lệ hiện mắc và các yếu tố liên

quan đến mụn trứng cá trên học sinh phổ thông trung học cơ

sở", Luận văn Thạc Sĩ Y Học, Đại Học Y Dược Thành phố Hồ

Chí Minh

15 Nguyễn Thị Hồng Nhung (2013), "Đặc điểm lâm sàng và chất

lượng cuộc sống của bệnh nhân mụn trứng cá tại bệnh viện

Da Liễu thành phố Hồ Chí Minh", Luận văn thạc sĩ y học, Đại

Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

16 Nguyễn Thị Trà My (2016), "Nghiên cứu về tác dụng phụ của

isotretinoin uống trên bệnh nhân mụn trứng cá tại bệnh viện

đại học y dược thành phố hồ chí minh", Luận văn Thạc sỹ y

học, Đại học Y Dược Tp HCM

17 Polat M, Lenk N, Bingol S, Oztas P, Ilhan MN, Artuz F, Alli N

(2008), Plasma homocysteine level is elevated in patients on

isotretinoin therapy for cystic acne: a prospective controlled

study J Dermatolog Treat, 19 (4): 229-32

18 Poli F, Dreno B, Verschoore M (2001), An epidemiological

study of acne in female adults: results of a survey conducted

in France Journal of the European Academy of Dermatology and

Venereology, 15 (6): 541-545

19 Rademaker M (2013), Isotretinoin: dose, duration and relapse

What does 30 years of usage tell us? Australas J Dermatol, 54

(3): 157-62

20 Rao PK, Bhat RM, Nandakishore B, Dandakeri S, Martis J, Kamath GH (2014), Safety and efficacy of low-dose isotretinoin in the treatment of moderate to severe acne

vulgaris Indian J Dermatol, 59 (3): 316

21 Rasi A, Behrangi E, Rohaninasab M, Nahad ZM (2014), Efficacy of fixed daily 20 mg of isotretinoin in moderate to

severe scar prone acne Adv Biomed Res, 3: 103

22 Schulpis KH, Karikas GA, Georgala S, Michas T, Tsakiris S (2001), Elevated plasma homocysteine levels in patients on

isotretinoin therapy for cystic acne Int J Dermatol, 40 (1): 33-6

23 Tan JK, Bhate K (2015), A global perspective on the

epidemiology of acne Br J Dermatol, 172 Suppl 1: 3-12

24 Yap FB (2016), Safety and efficacy of fixed-dose 10 mg daily

isotretinoin treatment for acne vulgaris in Malaysia J Cosmet

Dermatol

25 Zaenglein AL, Pathy AL, Schlosser BJ, Alikhan A, Baldwin

HE, Berson DS, Bowe WP, Graber EM, Harper JC, Kang S (2016), Guidelines of care for the management of acne

vulgaris Journal of the American Academy of Dermatology, 74 (5):

945-973 e33

26 Zylberstein DE, Lissner L, Bjorkelund C, Mehlig K, Thelle DS, Gustafson D, Ostling S, Waern M, Guo X, Skoog I (2011), Midlife homocysteine and late-life dementia in women A

prospective population study Neurobiol Aging, 32 (3): 380-6

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 28/02/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 13:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w