1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả lọc máu liên tục trong điều trị ong đốt suy đa cơ quan ở trẻ em từ 2007-2016

8 70 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 335,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc khảo sát hiệu quả kỹ thuật lọc máu liên tục điều trị bệnh nhân ong đốt suy đa cơ quan. Nghiên cứu cho thấy vai trò cytokine gây viêm trong ong đốt suy đa cơ quan và hiệu quả của lọc máu liên tục, cải thiện tử vong, cứu sống nhiều bệnh nhân ong đốt biến chứng nặng.

Trang 1

KẾT QUẢ LỌC MÁU LIÊN TỤC TRONG ĐIỀU TRỊ ONG ĐỐT

SUY ĐA CƠ QUAN Ở TRẺ EM TỪ 2007 - 2016

Nguyễn Minh Tiến*, Phạm Văn Quang*, Phùng Nguyễn Thế Nguyên*, Trần Hoàng Út*, Lý Tố Khanh*,

Lâm Thị Thúy Hà*, Lê Vũ Phượng Thy*Mã Tú Thanh*, Võ Thanh Vũ*, Nguyễn Thị Bích Hằng*,

Hồ Thụy Kim Nguyên*, Vưu Thanh Tùng*, Thái Quang Tùng* , Bạch Nguyễn Vân Bằng*,

Nguyễn Tô Bảo Toàn*, Tạ Minh Hòa Hiệp*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát hiệu quả kỹ thuật lọc máu liên tục điều trị bệnh nhân ong đốt suy đa cơ quan

Phương pháp: Mô tả hồi cứu loạt ca

Kết quả: Có 36 trường hợp ong đốt suy đa cơ quan được thực hiện lọc máu liên tục, trung bình 6,4 tuổi, nhỏ

nhất 18 tháng Lọc máu liên tục cho thấy cải thiện tình trạng tổn thương các cơ quan Nồng độ cytokine gây viêm như TNF, IL1b, IL6 tăng cao trong máu ở thời điểm lúc bắt đầu lọc máu và giảm ở thời điểm 12, 24 giờ cũng như thải loại các hóa chất trung gian gây viêm qua dịch lọc

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy vai trò cytokine gây viêm trong ong đốt suy đa cơ quan và hiệu quả của lọc

máu liên tục, cải thiện tử vong, cứu sống nhiều bệnh nhân ong đốt biến chứng nặng

Từ khóa: ong đốt, hội chứng suy đa cơ quan, lọc máu liên tục tĩnh-tĩnh mạch

ABSTRACT

APPLICATION OF CONTINUOUS VENO-VENOUS HEMOFILTRATION ON TREATMENT OF BEE

STING COMPLICATED WITH MULTIPLE ORGAN DYSFUNCTION SYNDROME

Nguyen Minh Tien , Pham Van Quang, Phung Nguyen The Nguyen, Tran Hoang Ut, Ly To Khanh, Lam Thi Thuy Ha, Le Vu Phuong Thy, Ma Tu Thanh, Vo Thanh Vu, Nguyen Thi Bich Hang,

Ho Thuy Kim Nguyen, Vuu Thanh Tung, Thai Quang Tung , Bach Nguyen Van Bang,

Nguyen To Bao Toan, Ta Minh Hoa Hiep

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 5 - 2016: 37 - 44

Objective: Explore effectiveness of continuous renal replacement therapy (CRRT) on treatment of bee sting

complicated with multiple organ dysfunction syndromes (MODS)

Methods: Retrospective descriptive study of cases series

Results: 36 cases of bee sting complicated with MODS have been investigated level of proinflammatory

cytokines and given CVVH, average age of 6.4 years old, youngest of 18 months old CVVH showed that improved organ impairment Level of proinflammatory cytokines in blood such as TNF, IL1b, IL6 have been rising at the beginning of CVVH and falling at 12, 24 hours These inflammatory mediators have also been eliminated into effluent fluid

Conclusion: The study revealed the role of proinflammatory cytokines as a basis for CVVH on treatment of

bee sting with complications of MODS, reducing mortality and saving many patients with bee sting with severe complications

Keywords: bee sting, multiple organ dysfunction syndromes, continuous veno-venous hemofiltration

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ong đốt là tai nạn thường xảy ra trên thế

giới, nhất là các nước châu Á và châu Phi

Trong nọc ong vò vẽ thường có độc tố rất độc

Độc tố của ong bao gồm các amine có trọng

lượng phân tử thấp như acetylcholine,

histamine, serotonine và cathecolamine, các

protein có trọng lượng phân tử trung bình

như kinin, phospholipase A2, protease,

hyaluronidase,…, các độc tố tác động trực tiếp

hoặc gián tiếp qua các cytokine gây viêm, gây

ra tình trạng tổn thương đa cơ quan như tán

huyết, suy gan, suy thận, rối loạn tri giác, hội

chứng nguy kịch hô hấp cấp ARDS(7,10)

Trong 6 năm từ 1995-2000, có 202 trường hợp

ong đốt nhập viện tại bệnh viện Nhi đồng 1

Biểu hiện lâm sàng đa dạng, nhẹ chỉ đau, sừng

nề vết chích, đến nặng như sống phản vệ trong

giai đoạn sớm hay suy thận, suy đa cơ quan

trong giai đoạn muộn 19,8% bệnh nhân có suy

thận cấp Có 6 trường hợp nặng có suy suy đa cơ

quan, cần phải chạy thận nhân tạo và thẩm phân

phúc mạc nhưng thất bại và tử vong, chiếm tỉ lệ

2,9%(9) Trong khoảng 2 thập niên gần đây

phương pháp lọc máu liên tục được giới thiệu và

áp dụng cho những bệnh nhân nặng nằm tại

khoa hồi sức(7),(14),(6) Phương pháp này ngày càng

được hoàn thiện và áp dụng rộng rãi trên thế

giới và có hiệu quả rõ rệt không chỉ ở người lớn

mà cả trẻ em(2),(2),(9) Dựa vào nguyên lý đối lưu và

màng bán thấm cho phép loại bỏ những hóa chất

có trọng lượng phân tử từ thấp đến trung bình ra

khỏi máu bệnh nhân có hội chứng suy đa cơ

quan như TNFα , IL1 , IL5 ,IL6 , IL8 - đây là

những hóa chất trung gian gây đáp ứng viêm

toàn thân, nhiều tác giả đã áp dụng phương

pháp lọc máu liên tục thành công trên những

bệnh nhân này(2,3,8,14,6) trong đó có cả những bệnh

nhân ong đốt suy đa cơ quan Vì thế chúng tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài « Kết quả lọc máu liên

tục trong điều trị ong đốt suy đa cơ quan ở trẻ em từ

2007 - 2016 » ngõ hầu tìm hiểu sâu thêm về cơ

chế bệnh sinh ong đốt và đưa ra một phương

pháp điều trị thích hợp, hiệu quả, thể áp dụng ở các bệnh viện tỉnh có chuyên khoa nhi, giúp cải thiện tỉ lệ tử vong, cứu sống nhiều bệnh nhân ong đốt

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Khảo sát sự thay đổi cytokine và hiệu quả kỹ thuật lọc máu liên tục điều trị bệnh nhân ong đốt suy đa cơ quan

Mục tiêu chuyên biệt

Xác định đặc điểm dịch tễ, lâm sàng bệnh nhân ong đốt suy đa cơ quan

Khảo sát hiệu quả lọc máu qua so sánh tỉ lệ biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng, nồng độ cytokine trước sau lọc máu lần thứ nhất

Xác định tỉ lệ biến chứng liên quan đến kỹ thuật lọc máu: đông màng lọc, vỡ màng lọc, khí trong hệ thống, chảy máu, tắc catheter,

Xác định tỉ lệ sống còn, số lần lọc máu liên tục, số lần chạy thận nhân tạo, thời gian nằm viện

PHƯƠNG PHÁP - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Phương pháp nghiên cứu

Hồi cứu mô tả loạt ca

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả trẻ từ 1 – 15 tuổi bị ong đốt có suy đa

cơ quan nhập khoa hồi sức bệnh viện Nhi Đồng

1 trong thời gian từ 2007-2016

Cách chọn mẫu

Chọn mẫu liên tiếp không ngẫu nhiên

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tuổi 1-15 và suy đa cơ quan dựa theo tiêu chuẩn Goldstein(4)

Tiêu chuẩn loại trừ

Tuổi < 1 tuổi, không có sẵn máy lọc máu hoặc máy lọc máu hư, thân nhân không đồng ý cho phép thực hiện phương pháp lọc máu

Các bước tiến hành

Bệnh nhân được lấy máu xét nghiệm

Trang 3

cytokine và xét nghiệm khác khi bắt đầu tiến

hành lọc máu liên tục

- Xét nghiệm cytokine trong đợt lọc máu đầu

tiên: TNFα, IL1, IL6 trong máu lúc 0, 12, 24 giờ

và dịch lọc lúc 12, 24 giờ (kể từ thời điểm bắt đầu

lọc máu)

- Xét nghiệm khác: Ion đồ, Lactate, mỗi 6

giờ, khí máu, CN thận trong máu và dịch lọc

Bilirubin, SGOT, SGPT, NH3 thực hiện mỗi 12

giờ

Sau khi được quyết định lọc máu, bệnh nhân sẽ

được tiến hành lọc máu theo qui trình lọc máu

liên tục của khoa hồi sức như sau

- Máy BM25 hoặc máy Aquarius hoặc máy

PRISMA flex (đã được trang bị tại Khoa Hồi

Sức)

- Dịch lọc sử dụng: dung dịch Hemosol

- Catheter 2 nòng 6,5– 8F, 11 -12 F tùy bệnh

nhân

- Màng lọc Aquamax HF 03 cho trẻ < 40kg,

HF 07 cho trẻ  40 kg, PRISMA hoặc PRISMA

FLEX M60 hoặc M100

- Tốc độ lọc: 40ml/kg/h, Tốc độ bơm máu

4-6ml/kg/ph

- Kháng đông: Heparin liều tấn công 50 - 70

UI/kg tiêm tĩnh mạch, liều duy trì 10 – 20

UI/kg/giờ hoặc Fraxiparin liều tấn công 10-20

UI/kg, liều duy trì 5-10 UI/kg/giờ tuỳ bệnh nhân

Trong trường hợp có suy gan nặng liều

Fraxiparin sẽ giảm hoặc không sử dụng

Theo dõi

- Bệnh nhân được theo dõi quá trình lọc máu

bằng phiếu theo dõi lọc máu

- Sinh hiệu và theo dõi lượng xuất nhập được

theo dõi ít nhất mỗi 4 giờ

Thu thập số liệu

Trong quá trình lọc máu, bệnh nhân sẽ được

thu thập số liệu theo hồ sơ nghiên cứu kèm theo

Xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS 18.0 để phân tích

số liệu, sử dụng các phép paired-sample t test dành cho biến định lượng, phép kiểm Wilcoxon Signed Ranks Test dành cho biến định tính, ngưỡng ý nghĩa thống kê P < 0,05

KẾT QUẢ

Trong thời gian từ tháng 05/2007 – 30/06/2016, khoa Hồi sức bệnh viện Nhi đồng

1 nhận 132 trường hợp ong đốt trong có 36 trường hợp tổn thương đa cơ quan thoả tiêu chí nhận, được đưa vào lô nghiên cứu

Đặc điểm dịch tễ lâm sàng

Bảng 1- Đặc điểm dịch tễ lâm sàng

Tuổi (năm) 6,4 ± 3,2

(18 tháng – 15 tuổi) Giới: nam/nữ 20 (55,6%)/ 16 (44,4%) Cân nặng (kg) 19,6 ± 7,4 (10 – 45)

< 15kg 9 (25%)

Lý do ong đốt: chọc phá/tình cờ 30 (83,3%) / 6 (16,7%) Ngày bệnh trước lọc máu (ngày) 1,4 ± 0,2 (1-5) Thời gian từ lúc nhập viện – lọc máu

(giờ) 12,4 ± 3,6 (3-24) Loại ong đốt: vò vẽ/đất 35 (97,2%) /

1 (2,8%)

Số vết đốt 66,5 ± 28,7

(25-120)

Tỉ lệ vết đốt/cân nặng 3,8 ± 0,7

(1,52 – 10,5)

Tổn thương

cơ quan

Sốc (sốc phản vệ) 22 (61,1%) Suy hô hấp/ARDS 33 (91,7%) /

17 (47,2%) Suy thận cấp 26 (72,2%) Suy gan/tổn thương gan 28 (77,8%) / 6 (16,7%) Rối loạn tri giác/co giật 17 (47,2%)/

5 (13,9%) Rối loạn đông máu DIC nặng 14 (38,9%) Hội chứng tiêu cơ vân 36 (100%) Hội chứng tán huyết 36 (100%) Suy đa cơ quan 36 (100%) Điểm số PRISM 18,6 ± 3,5 Điểm số PELOD 17,6 ± 3,2

DIC Disseminated Intravascular Coagulation , PRISM Pediatric Risk of Mortality, PELOD Pediatric Logistic Organ Dysfunction

Trang 4

Can thiệp điều trị ngoài lọc máu liên tục

Bảng 2- Can thiệp điều trị ngoài lọc máu liên tục

Biện pháp hỗ trợ hô hấp CPAP/thở máy 5 (13,9%) /

27 (75%)

An thần trong thở máy Midazolam số ca/liều tối đa TB (mg/kg/giờ) 27 (0,24 ±

0,11) Fentanyl số ca/liều tối đa TB (mcg/kg/giờ) 19 (1,9 ± 0,4)

Biện pháp hỗ trợ tuần hoàn (chống sốc) 22 (61,1%)

Adrenalin TDD/TB 22

Adrenalin TTM 14 (0,54 ±

0,11) Tổng dịch truyền điện giải trung bình (ml/kg) 42,6 ± 12,8

Dopamine số ca/liều tối đa TB (mcg/kg/phút) 10 (8,4 ± 1,3)

Dobutamine số ca/liều tối đa TB

(mcg/kg/phút) 7 (7,6 ± 1,4)

Noradrenaline số ca/liều tối đa TB

(mcg/kg/phút) 4 (1,1 ± 0,23)

Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm đo CVP 22 (61,1%)

Đặt catheter động mạch đo HAĐMXL 36 (100%)

Hydrocortisone TM 22

Pipolphen TB 22

Ranitidin TTM 16

Điều trị khác

Điều chỉnh toan chuyển hóa 24 (66,7%)

Điều trị hạ đường huyết 14 (38,9%) Truyền máu (hồng cầu lắng) 13 (36,1%)

CVP central nervous pressure: Áp lực tĩnh mạch trung tâm

HAĐMXL: huyết áp động mạch xâm lấn TB: trung bình

TTM: truyền tĩnh mạch, TM tĩnh mạch

Thay đổi cytokine trong máu và dịch lọc

Bảng 3- Thay đổi cytokine trong máu và dịch lọc

(n=31)

Cytokine (pg/ml) To T12 T24 P*

TNFα máu 26,1±3.5 21,4±3,6 20,6±3,4 NS IL1 máu 22,4±1,2 7,6±1,1 6,2±1,3 <0.05 IL6 máu 109,8±26,5 101,7±28,3 84,4±23,5 <0.05 TNFα dịch lọc 8,3±2,4 11,4±3,1 NS IL1 dịch lọc 7,3±1,5 0,6±0,4 <0.05 IL6 dịch lọc 16,2±6,1 46,5±11,3 <0.05

*Phép kiểm Paired Samples T Test, ngưỡng ý nghĩa P<

0.05, NS: non-significant

Đặc điểm lọc máu đợt đầu

Bảng 4: Đặc điểm lọc máu đợt đầu

Phương pháp CVVH/CVVHDF 32 (88,9%)/4 (11,1%) Thời gian lọc máu trung bình (giờ) 30,6 ± 2,5 Ngày bệnh trước lọc máu (ngày) 1,4 ± 0,5 Thể tích dịch thay thế (ml/kg/giờ) 40,1 ± 2,2 Thể tích dịch thẩm tách (ml/kg/giờ) 20,4 ± 3,1 Thể tích dịch lấy (ml/kg/giờ) 1,2 ± 0,5 Loại dịch thay thế/thẩm tách

Hemosol 36 Tốc độ bơm máu ml/kg/phút 5,2 ± 1,2 Fraxiparin/

Heparin/ không chống đông

29 (80,6%)/

5 (13,9%)/2 (5,5%) Catheter 2 nòng 6.5F-8F/11F-12F 10 (27.8%)/

26 (72.2%) Biến chứng: Đông màng lọc 6 (16,7%) Khí hệ thống 7 (19,4%) Tụt huyết áp 11 (30,5%) Nhiễm trùng huyết liên quan

catheter 5 (13,9%)

CVVH: continuous venovenous hemofiltration, CVVHDF: continuous venovenous hemodiafiltration

Diễn tiễn tổn thương các cơ quan trước và sau lọc máu lần đầu

Bảng 5- Diễn tiễn tổn thương các cơ quan trước và sau lọc máu lần đầu

Cơ quan T0 sau lọc máu T12 sau lọc máu T24 sau lọc mu P*

Tri giác GCS (điểm) 10,7 ± 2,1 13,6 ± 3,4 < 0.05

Nhịp tim 136,8 ± 12,1 128,3 ± 9,3 106,7 ± 5,4 < 0.05

Gan

SGOT/AST (UI/l) 8892,6 ± 2143,7 5164,7 ±1273,5 3148,3 ± 1014,3 < 0.05 SGPT/ALT (UI/l) 4153,7 ± 946,4 3151,6 ±834,5 2215,7 ± 654,5 < 0.05 Bilirubin TP (µmol/L) 148,6 ± 16,8 138,7 ± 12,5 141,6 ± 12,5 NS NH3 (µmol/L) 204,7 ± 54,6 136,8 ± 33,9 96,7 ± 20,4 < 0.05 Thận Ure (mmol/L) 9.8 ± 0.7 5.8 ± 0.3 4,1 ± 2,2 < 0.05

Creatinin (µmol/L) 247,3 ± 24,8 183,7 ± 14,6 121,3 ± 12,4 < 0.05 Tiểu Hb Hb niệu (+) 27 (75%) 12 (33,3%) <0.05** Tiêu cơ vân CPK (UI/l) 38246,8± 6347,3 15873,6 ± 6257,4 <0.05

Myoglobin niệu 12 (33,3%) 3 (8,3%) <0.05**

Trang 5

Cơ quan T0 sau lọc máu T12 sau lọc máu T24 sau lọc mu P*

Hô hấp ARDS (PaO2/FiO2< 200) 17 (47,2%) 3 (8,3%) <0.05**

AaDO 2 386,3 ± 36,7 146,2 ± 32,6 < 0.05

Chuyển hóa

Na+ (mmol/L) 131,3±4,6 135,2±2,4 133,6±2,4 NS

K+ (mmol/L) 5,8±1,3 3,6±0,3 3,4±0,2 < 0.05

Ca++ (mmol/L) 1,06±0,08 1,07±0,12 1,06±0,14 NS Lactate 5,5±0,7 3,8±0,2 2,7±0,4 < 0.05 Kiềm toan pH 7,25±0,04 7,31±0,06 7,37±0,06 < 0.05

HCO3- 12,6±1,2 17,5±1,3 22,5±1,6 < 0.05 PELOD 18,6 ± 3,5 14,5 ± 2,2 8,3 ± 1,4 <0,05 PRISM 17,6 ± 3,2 13,2 ± 2,4 7,8 ± 1,3 < 0,05

* Phép kiểm Paired Samples T Test, **phép kiểm Wilcoxon Signed Ranks Test, ngưỡng ý nghĩa P < 0.05, NS: non-significant

Kết quả điều trị

Bảng 6- Kết quả điều trị

Số lần lọc máu 2,5 ± 1,3 (1-6)

Số lần chạy thận nhân tạo 1,3 ± 0,6 (0-4)

Thời gian nằm khoa hồi sức

(ngày) 11,4 ± 6,7

Sống/chết 33 (91,6%) / 3 (8,4%)

BÀN LUẬN

Trong thời gian gần 10 năm từ 5/2007 –

6/2016, khoa Hồi sức bệnh viện Nhi đồng 1 tiếp

nhận 36 trường hợp trẻ bị ong đốt tổn thương đa

cơ quan, được đưa vào lô nghiên cứu, tuổi trung

bình 6,4 tuổi, nhỏ nhất 18 tháng, lớn nhất là 15

tuổi Hoàn cảnh xảy ra ong đốt thường do chọc

phá tổ ong (83,3%), phần lớn do bị ong vò vẽ đốt

(97,2%) với số vết đốt trung bình là 66,5 vết,

nhiếu nhất là 120 vết, tỉ lệ vết đốt/cân nặng trung

bình 3,8, tất cả đều trên 1,5 – là một trong những

yếu tố tiên lượng nặng(9)

Tình trạng lúc nhập viện biểu hiện nặng với

sốc (61,1%), suy hô hấp (91,7%) trong đó biểu

hiện nặng là hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển

ARDS (47,2%), suy gan (77,8%), suy thận cấp

(72,2%), rối loạn tri giác (47,2%), co giật (13,9%),

rối loạn đông máu DIC (38,9%), tán huyết, huỷ

cơ nặng (100%) đưa đến hậu quả 100% trẻ bị hội

chứng suy đa cơ quan theo tiêu chuẩn của

Goldstein(5)

Can thiệp điều trị ngoài lọc máu liên tục

bao gồm hỗ trợ hô hấp thở CPAP, đặc biệt là

thở máy (75%) với an thần midazolam và

fentanyl ít tác phụ tăng tiết đường thở hay tụt

huyết áp Sốc phản vệ do ong đốt được điều trị adrenalin TB, và 14 trường hợp phải truyền adrenalin, truyền dịch điện giải chống sốc, 10 trường hợp phải phối hợp dopamin truyền tĩnh mạch, 7 trường hợp phải phối hợp với dobutamin, 4 trường hợp phải phối hợp thêm noradrenalin dưới hướng dẫn đo và theo dõi

áp lực tĩnh mạch trung tâm CVP (61,1%) và huyết áp động mạch xâm lấn (100%) Các trường hợp sốc phản vệ đều được sử dụng hydrocortisone, pipolphen, trong đó có 16 trường hợp phối hợp thêm thêm ranitidin (bảng 2)

Khảo sát 31 trường hợp trẻ ong đốt suy đa cơ quan về nồng độ các cytokine gây viêm quan trọng như TNF, IL1, IL6 trong máu, ghi nhận nồng độ TNF tăng cao trong máu (bình thường

< 11pg/ml) giảm không đáng kể ở giờ thứ 12, 24 sau khi bắt đầu đợt lọc máu đầu tiên mặc dầu đã được lọc thải ra dịch lọc một lượng đáng kể (bảng 2) Điều này chứng tỏ các tế bào viêm khi

bị kích hoạt bởi độc tố ong tiếp tục sản xuất và phóng thích ra TNF (25kDa) Trong khi đó IL1 (bình thường < 14,5pg/ml) tăng cao trong máu trước khi lọc máu và giảm nhanh có ý nghĩa ở giờ thứ 12, 24, nhờ được thải loại nhanh qua màng lọc máu liên tục để vào dịch lọc nhờ có trọng lượng phân tử trung bình thấp 17kDa IL6 (24kDa) là cytokine có nồng độ cao nhất trong máu so với TNF, IL1 (bình thường IL6 < 1,23pg/ml) và được thải loại tương đối nhanh qua màng lọc máu liên tục, nhưng vẩn còn tồn tại lâu trong máu do các tế bào viêm tiếp tục sản

xuất bởi sự đả kích của độc tố ong Theo Vera

Trang 6

Petricevich(10) độc tố của ong gồm những phân tử

trọng lượng thấp (amine) đến trung bình, cao

không những gây tổn thương trực tiếp các cơ

quan, gây tán huyết, hủy cơ, tổn thương tế bào

gan, dẫn đến suy gan, tổn thương tế bào ống

thận mô kẽ, gây suy thận, mà còn kích hoạt đáp

ứng miễn dịch cơ thể, từ đó kích hoạt tế bào

viêm chủ yếu là đại thực bào và tế bào lympho T

sản xuất các cytokine gây phản ứng viêm toàn

thân gây sốc phản vệ hay dẫn đến tổn thương

các cơ quan như thận, gan, tuần hoàn R Rhathi

Sharmila(13) ghi nhận một trường hợp trẻ 12 tuổi

chỉ bị một vết ong đốt nhưng xuất hiện hội

chứng suy đa cơ quan và tử vong sau đó nên

đưa giả thuyết tổn thương các cơ quan liên quan

đến cytokine ngoài tác động của nọc ong Ngoài

ra, theo Franca(4), độc tố ong và phospholipase

A2 vẫn tồn tại với nồng độ cao sau khi bị ong

đốt Đây là cơ sở cho việc áp dụng phương pháp

lọc máu liên tục với màng lọc có tính thấm cao có

thể loại bỏ các độc tố ong có trọng lượng phân tử

trung bình đến thấp, cũng như các cytokine gây

viêm có trọng lượng phân tử trung bình mà nổi

trội là TNF, IL1, IL6 ra khỏi cơ thể, cắt đứt quá

trình bệnh lý và giảm thiểu tổn thương cơ quan

do các chất này gây ra

Tất cả các trẻ trong lô nghiên cứu của chúng

tôi được tiến hành lọc máu sớm trung bình 12,4

giờ sau nhập viện với phần lớn là phương thức

lọc máu tĩnh mạch tĩnh mạch liên tục CVVH

88,9%, phương thức lọc thẩm tách máu

CVVHDF 11,1%, với các thông số tốc độ bơm

máu trung bình 5,1 ml/kg/phút, dịch thay thế

được chọn là hemosol có thành phần điện giải

gần tương tự như huyết tương, không chứa kali,

đặc biệt dung dịch đệm là HCO3 rất cần thiết

trong trường hợp có suy gan hay toan chuyển

hóa máu, với thể tích thay thế trung bình

40,3ml/kg/giờ, thể tích dịch thẩm tách trung bình

20,4ml/kg, thể tích dịch lấy ra trung bình

1,2ml/kg/giờ, phần lớn chống đông bằng

Fraxiparin (80,6%) vì bệnh nhân có tổn thương

gan nặng và tiểu cầu giảm Hiệu quả của lọc

máu thể hiện qua sự cải thiện lâm sàng, cận lâm

sàng – thải loại CPK, men gan (bảng 5) đặc biệt

là cải thiện tình trạng suy hô hấp Sự cải thiện còn thể hiện qua sự giảm nồng các cytokin gây viêm trong máu trước và sau khi lọc máu cũng như sự hiện diện các cytokine này trong dịch lọc (bảng 3)

Trong 36 bệnh nhân của chúng tôi, có 26 (72,2%) bệnh nhân suy thận cấp(15), kết quả cho thấy lọc máu liên tục có hiệu quả trong việc thay thế thận, loại bỏ những chất độc trong cơ thể như urê, creatinine, đảm bảo cân bằng điện giải, đặc biệt cải thiện tình trạng tăng kali máu do tán huyết, hủy cơ, phóng thích kali vào máu cũng như do không thải trừ được vì suy thận cấp và tránh được hiện tượng tăng kali máu trở lại như trong chạy thận nhân tạo ngắt quãng Trong nghiên cứu của tác giả N.H Nhân, nhiều trường hợp ong đốt suy thận cấp phải chạy thận định kỳ trung bình 6,3 đợt(7) hoặc của tác giả NXB Huyên, 84% bệnh nhân suy thận cấp do ong đốt phải chạy thận nhân tạo trên 3 lần(8) và tử vong nếu có kèm tổn thương đa cơ quan Theo tác giả Bellomo(2), NH Phu(10), trong trường hợp suy đa

cơ quan, việc chạy thận nhân tạo hoặc lọc màng bụng tỏ ra không hiệu quả Do đó lọc máu liên tục trên bệnh nhân này đã giúp giải quyết vấn

đề suy thận cấp và những biến chứng của suy thận cấp, cũng như suy gan cấp và các biến chứng khác của ong đốt như ARDS, hủy cơ vân trong khi chờ các cơ quan ngoài thận như gan, phổi phục hồi để chạy thận nhân tạo ngắt quãng Trong 36 bệnh nhân ong đốt, có 28 (77,8%) trẻ suy gan cấp nặng Kết quả lọc máu cho thấy các chỉ số như SGOT/AST, SGPT/ALT, bilirubin, NH3 giảm nhanh, bệnh nhân bớt vàng da nhiều trên lâm sàng và gan không tổn thương thêm Sau khi chuyển sang chạy thận nhân tạo thì không thấy biểu hiện tổn thương gan trở lại Lọc máu có thể loại bỏ những chất độc có vai trò gây hôn mê gan như NH3,… từ đó giúp cải thiện tri giác (bảng 3) Lọc máu liên tục có hiệu quả trên bệnh nhân suy gan cấp cũng đã được LTD Tuyết báo cáo(15)

Trang 7

Trong nghiên cứu của tác giả NXB Huyên(8)

có 2 bệnh nhân biểu hiện ARDS xảy ra sớm

trong vòng 3 ngày, 2 bệnh nhân này phải thở

máy và một trường hợp tử vong Trong nghiên

cứu của chúng tôi có 17 bệnh nhân có biểu hiện

ARDS (bảng 5) được lọc máu ngay dưới sự hỗ

trợ CPAP, thở máy Biểu hiện này trên bệnh

nhân ong đốt có thể do độc tố tác động trực tiếp

lên màng phế nang mao mạch hay qua phản ứng

viêm toàn thân dẫn đến tổn thương màng phế

nang mao mạch hoặc tình trạng dư thừa nước

Việc lọc máu liên tục có thể lạo bỏ những hóa

chất trung gian gây viêm có trọng lượng phân tử

trung bình, lấy đi lượng nước dư thừa hoặc có

thể lấy đi chính những độc tố ong Có thể chính

việc giải quyết nhanh chóng những yếu tố có thể

gây ra tình trạng trên mà biểu hiện ARDS cải

thiện nhanh chóng ở 14 bệnh nhân trong nghiên

cứu của chúng tôi, chỉ sau 1 đợt lọc máu Theo

L.T.D Tuyết, lọc máu liên tục có thể lấy đi một

lượng dịch lớn cũng như giải quyết tình trạng

suy đa cơ quan trong đó có suy hô hấp dựa vào

cơ chế lọc máu như trên(15) Lọc máu liên tục

giảm được số trường hợp tiểu hemoglobin và

myoglobin (bảng 5)(17)

Trước đây, những trường hợp có rối loạn

huyết động học hoặc trẻ nhỏ có chỉ định chạy

thận, thường chúng tôi phải thực hiện thẩm

phân phúc mạc Trong nghiên cứu chúng tôi có 9

bệnh nhân dưới 15 kg, nhập viện trong tình

trạng sốc, suy hô hấp, suy gan nặng Chúng tôi

đã áp dụng thành công phương pháp lọc máu

liên tục trên trẻ nhỏ tuổi và huyết động không

ổn định Tốc độ bơm máu chỉ 40-60ml/phút Với

tốc độ bơm máu thay đổi từ 20-200ml/phút, lọc

máu có thể thay đổi tùy huyết động và cân nặng

bệnh nhân và để tránh mất khối lượng hồng cầu

ngoài cơ thể thường chúng tôi mồi thêm máu

vào hệ thống dây - quả lọc máu để đảm bảo đủ

lượng hồng cầu cần thiết cho vận chuyển oxy

đến mô cơ thể sử dụng Như vậy lọc máu liên

tục có thể áp dụng cho những bệnh nhân có rối

loạn huyết động hoặc bệnh nhân nhỏ tuổi có chỉ

định điều trị thay thế thận trong tương lai

Biến chứng liên quan đến lọc máu liên tục được ghi nhận bao gồm đông màng lọc (16,7%), khí hệ thống lọc (19,4%), nhiễm trùng huyết liên quan catheter (13,9%) (bảng 4)

Kết quả điều trị lọc máu liên tục trong ong đốt cứu sống 33 trường hợp, tỉ lệ thành công 91,6%(17), có ba trường hợp tử vong do một trường hợp biến chứng nhiễm trùng huyết liên quan đến catheter, hai trường hợp sốc kéo dài do điều trị chống sốc phản vệ chưa thoả đáng như truyền tĩnh mạch adrenaline, tiêm nhắc lại hydrocortisone, pipolphen cũng như truyền dịch chống sốc, đo CVP, huyết áp động mạch xâm lấn

và phối hợp thuốc vận mạch Số lần lọc máu trung bình là 2,5 và khoảng 1,3 đợt chạy thận ngắt quãng sau đó Thời gian nằm khoa Hồi sức trung bình là 11,4 ngày

KẾT LUẬN

Qua áp dụng lọc máu liên tục 36 trường hợp ong đốt biến chứng suy đa cơ quan, cho thấy hiệu quả của phương pháp lọc máu liên tục trong điều trị biến chứng sớm của ong đốt như sốc, ARDS cũng như giai đoạn muộn của bệnh như suy thận cấp, suy gan cấp Việc áp dụng phương pháp này trong giai đoạn sớm có thể lấy

đi những độc tố ong cũng như những hóa chất trung gian gây viêm nhằm ngăn chặn và cắt đứt quá trình sinh lý bệnh của độc tố ong gây ra, góp phần cải thiện tử vong, cứu sống nhiều bệnh nhân ong đốt nặng

Kỹ thuật này đang được chuyển giao có các bệnh viện tỉnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bellomo R FM, Parkin G et al (1995), Severe acute renal failure:

A comparison of acute continuous hemodiafiltration and conventional dialytic therapy Nephron, 71: p 59-64

2 Bellomo RRC (1999), Continuous renal replacement therapy in intensive care unit Intensive Care Med, 25: p 781-789

3 Franca FO BL, Fan HW (1994), Severe and fatal mass attacks

by 'killer' bees (Africanized honey bees Apis mellifera scutellata) in Brazil: clinicopathological studies with measurement of serum venom concentrations Q J Med, 87(5):

p 269-82

4 Goldstein B, Giroir B, Randolph A (2005) International pediatric sepsis consensus conference: Definitions for sepsis

Trang 8

and organ dysfunction in paediatrics Pediatr Crit Care

Med;6:2-8

5 Goldstein SL CH, Graf CD et al (2001), Outcome in children

receiving continuous venovenous hemofiltration Pediatrics,

2001 107: p 1309-1312

6 Lê Thị Diễm Tuyết (2003), Kết quả bước đầu áp dụng phương

pháp lọc máu liên tục taị khoa điều trị tích cực hội nghị

chuyên đề hồi sức cấp cứu và chống độc toàn quốc lần thứ IV:

p 134-139

7 Nguyễn Hữu Nhân (2000), Biểu hiện lâm sàng và yếu tố tiên

lượng do ong đốt, Tạp chí Y học TP Hồ chí Minh p 78

8 Nguyễn Xuân Bích Huyên (2003), Tổng kết các trường hợp

ong vò vẽ đốt hội nghị chuyên đề hồi sức cấp cứu và chống

độc toàn quốc lần thứ IV-2003, 2003: p 150-154

9 Petricevich VL (2004), Cytokine and nitric oxide production

following severe envenomation, Current Drug Targets -

Inflammation & Allergy 2004, 3 (3): pp 325-332(8)

10 Phu NH and TT Hien (2002), hemofitration vesus peritoneal

dialysis in acute renal failure N Engl J Med, 347(12): p

895-902

11 Pinsky MR et al (1993), Serum cytokine levels in septic

shock-Relation to multiple-system organ failure and mortality,

Chest Feb;103(2):565-75

12 Rathi Sharmila R, Multiple Organ Dysfunction Syndrome

Following Single Wasp Sting Indian Journal of Pediatrics,

2007, 74: 1111-1112

13 Ronco C BR (2002), Acute renal failure and multiple organ dysfunction in the ICU: From renal replacement therapy (RRT) to multiple organ support therapy (MOST) Int J Artif Organs, 2002 25: p 733-747

14 Schetz M (1997)., Evidence-based analysis of the role of hemofiltration in sepsis and multiorgan dysfunction syndrome Curr Opin Crit Care, 1997 3: p 434-441

15 Zhang L, Meleg-Smith S, Batuman V (2001), "Acute tubulointerstitial nephritis after wasp stings", Am J Kidney Dis, 38 (6), pp.E33

16 Zhang R, Kang Y , Fu P , Cao Y (2012) Myoglobin clearance by continuous venous-venous haemofiltration in rhabdomyolysis with acute kidney injury: a case series, Injury

May;43(5):619-23 Epub 2010 Sep 16

17 Zheng Wang, Wu Jin (2009), "Efficacy of blood purification

therapy for multiple organ dysfunction syndrome induced by

beesting in children, CLINICAL EXPERIENCE, Vol 11 , Issue (9) :773-775

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/8/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 13:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w