1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giá trị dự đoán độ ác tính u buồng trứng của mô hình IOTA ADNEX tại Bệnh viện Từ Dũ

7 191 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 335,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định giá trị chẩn đoán của mô IOTA ADNEX (International Ovarian Tumor Anaysis) ở ngưỡng cắt 10% trong dự đoán độ ác tính u buồng trứng tại Bệnh viện Từ Dũ.

Trang 1

GIÁ TRỊ DỰ ĐOÁN ĐỘ ÁC TÍNH U BUỒNG TRỨNG CỦA MÔ HÌNH IOTA ADNEX TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ

Lê Ngọc Diệp*, Tô Mai Xuân Hồng**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định giá trị chẩn đoán của mô IOTA ADNEX (International Ovarian Tumor Anaysis) ở

ngưỡng cắt 10% trong dự đoán độ ác tính u buồng trứng tại Bệnh viện Từ Dũ

Phương pháp: Thử nghiệm chẩn đoán Tất cả phụ nữ có chỉ định phẫu thuật vì khối u buồng trứng từ

tháng 01/01/2018 đến 10/05/2018, được siêu âm sử dụng mô hình IOTA- ADNEX đánh giá độ ác tính trước phẫu thuật Kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật u buồng trứng được xem là tiêu chuẩn vàng để đánh giá độ chính xác của siêu âm sử dụng mô hình IOTA-ADNEX

Kết quả: Nghiên cứu thu nhận được 522 phụ nữ đồng ý tham gia nghiên cứu, với 578 khối u, bao gồm 70

bệnh ung thư buồng trứng (13,4%) và 452 phụ nữ có u buồng trứng lành tính (86,6%) Có 56 bệnh nhân có u buồng trứng 2 bên trong nhóm nghiên cứu chiếm tỉ lệ 10,7% Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 38,7 ± 14,4, trong đó độ tuổi sinh sản chiếm 55,6% Ở ngưỡng cắt 10%, mô hình IOTA ADNEX có: Khả năng dự đoán đúng: 89,8% (KTC 95%: 87,3-92,3%), độ nhạy: 94,7% (KTC 95%: 89,7-99,8%), độ đặc hiệu: 89,4% (KTC 95%: 86,8-92,1%), diện tích dưới đường cong ROC: 0,965 (KTC 95%: 0,948 – 0,982)

Kết luận: Mô hình siêu âm IOTA ADNEX có hay không có CA125 ở ngưỡng cắt 10% có thể được dùng để

dự đoán độ ác tính của u buồng trứng tại bệnh viện Từ Dũ

Từ khóa: IOTA ADNEX, ung thư buồng trứng

ABSTRACT

EVALUATION OF IIOTA-ADNEX MODEL FOR PREDICTING OVARIAN CANCER IN TU DU HOSPITAL

Le Ngoc Diep,To Mai Xuan Hong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 207 - 213

Objectives: Determine the diagnostic test of IOTA ADNEX (International Ovarian Tumor Anaysis)

model in the cut-off point at 10% for predicting ovarian cancers in Tu Du hospital

Method: Diagnostic test All women who were indicated an operation from January 1 st , 2018 to May 10 th ,

2018, have performed an ultrasound using IOTA-ADNEX for prediction the presence of ovarian cancers in the pre-operation Histopathology is considered as a gold standard for evaluating the precision of IOTA-ADNEX model in ultrasound for ovarian cancers

Results: 522 women gave their consent to join in the research and there were 578 ovarian masses included

70 cases of ovarian cancers (13.4%) and 452 cases of benign masses (86.6%), and 56 cases of bilateral ovarian masses (10.7%) The average age of present women is 38.7 ± 14.4 years old, and 55% of them were in the reproductive age CA125 are indicated in all research women and 63.8% of them is less than 35 IU /ml IOTA ADNEX model at the cut-off point of 10% has showed the high positive predictive value 89.8% (95% CI: 87.3-92.3%), sensitivity 94.7% (95% CI: 89.7-99.8%), specificity 89.4% (95% CI: 86.8-92.1%), and AUC 0.965 (95% CI: 0.948 – 0.982)

Conclusion: IOTA ADNEX models with and without CA125 at cut-off point of 10% can routinely

*Bệnh viện Từ Dũ, **Bộ môn Phụ Sản, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: PGS.TS Tô Mai Xuân Hồng ĐT: 0903727069 Email: tomaixuanhong@ump.edu.vn

Trang 2

implement for predicting ovarian cancers in the Tu Du hospital

Keywords: IOTA-ADNEX models, ovarian cancer

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chẩn đoán tính lành ác của một khối u

buồng trứng trước phẫu thuật là một thách thức

trong thực hành lâm sàng phụ khoa vì có liên

quan đến việc tiên lượng dự đoán phẫu thuật

Nếu u buồng trứng lành tính, phẫu thuật nội soi

thường được áp dụng nhưng nếu nghi ngờ u

buồng trứng ác tính, cần phải có một hướng can

thiệp đầy đủ và đúng mức để cải thiện tỉ lệ sống

còn và chất lượng cuộc sống

Siêu âm được xem như một phương tiện đầu

tay trong đánh giá tính chất u buồng trứng lành

tính và ác tính trước phẫu thuật Từ năm 1999,

nhóm nghiên cứu khối u buồng trứng quốc tế

gọi tắt là IOTA ra đời với mục tiêu nhằm đồng

thuận về thuật ngữ, định nghĩa và phép đo để

mô tả đặc tính siêu âm của u buồng trứng Mô

hình ADNEX là một trong các mô hình được

nhóm IOTA xây dựng được nhắc đến với độ

chính xác cao và là mô hình tiên đoán đa lớp đầu

tiên về giai đoạn của ung thư buồng trứng(2,3)

Mô hình IOTA ADNEX được chính thức

triển khai từ năm 2016 tại bệnh viện Từ Dũ Trên

thực tế, mô hình ADNEX đòi hỏi những chuyên

gia siêu âm được đào tạo cũng như một máy

siêu âm chất lượng để đảm bảo giá trị tiên đoán

của mô hình Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa

có nghiên cứu nào tập trung về giá trị của mô

hình khi ứng dụng tại đây Vì vậy, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu: “Giá trị chẩn đoán u buồng

trứng ác tính của mô hình IOTA ADNEX tại

bệnh viện Từ Dũ là bao nhiêu” để trả lời cho câu

hỏi nghiên cứu: giá trị của mô hình này khi ứng

dụng tại bệnh viện Từ Dũ là như thế nào?

Mục tiêu

Xác định giá trị chẩn đoán của mô hình

IOTA ADNEX ở ngưỡng cắt 10% trong dự đoán

độ ác tính u buồng trứng tại Bệnh viện Từ Dũ

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Thử nghiệm chẩn đoán

Dân số mục tiêu

Tất cả bệnh nhân phẫu thuật tại bệnh viện

Từ Dũ vì khối u buồng trứng

Dân số nghiên cứu

Tất cả phụ nữ đến khám, nhập viện vì lý do

u buồng trứng và có chỉ định phẫu thuật từ 01/01/2018 đến 5/2018 tại bệnh viện Từ Dũ

Dân số chọn mẫu

Tất cả bệnh nhân phẫu thuật vì khối u buồng trứng tại bệnh viện Từ Dũ từ 01/01/2018 đến 10/05/2018 thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu

Tiêu chuẩn nhận vào

Tất cả bệnh nhân phẫu thuật vì khối u buồng trứng từ 01/01/2018 đến 10/05/2018 có kết quả siêu âm sử dụng mô hình IOTA- ADNEX trước phẫu thuật tại bệnh viện Từ Dũ, và đồng ý tham

gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Các tổn thương xác định không phải là u buồng trứng khi phẫu thuật hay khi có kết quả giải phẫu bệnh Bệnh nhân có tiền căn ung thư buồng trứng Bệnh nhân có thai Bệnh nhân dưới

18 tuổi Bệnh nhân có u buồng trứng trong các ca

mổ cấp cứu Trường hợp không thu nhận được

mẫu gửi giải phẫu bệnh

Cỡ mẫu

Mẫu toàn bộ và liên tục từ 01/01/2018 đến

10/05/2018

Địa điểm

Khoa Phụ, Khoa Nội Soi, khoa Ung bướu phụ khoa- Bệnh viện Từ Dũ

Quy trình thực hiện nghiên cứu

Bước 1

Thu nhận tất cả bệnh nhân được nhập viện phẫu thuật u buồng trứng có siêu âm tại bệnh viện áp dụng mô hình ADNEX IOTA

Trang 3

Bước 2

Giải thích cho bệnh nhân để có được sự

đồng ý tham gia nghiên cứu và sau đó phỏng

vấn bằng bảng câu hỏi, kết hợp thu thập hồ sơ

bệnh án

Bước 3

Các bệnh nhân sau phẫu thuật có kết quả

giải phẫu bệnh là u thực thể buồng trứng được

đưa vào nghiên cứu có đối chiếu với kết quả

siêu âm

KẾT QUẢ

Có 522 phụ nữ tham gia nghiên cứu với

578 khối u, bao gồm 70 bệnh ung thư buồng

trứng (13,4%) và 452 cá thể có u buồng trứng

lành tính (86,6%) Có 56 bệnh nhân có u buồng

trứng 2 bên trong nhóm nghiên cứu chiếm tỉ lệ

10,7% Tuổi trung bình của quần thể nghiên

cứu là 38,7 ± 14,4, nhỏ tuổi nhất là 18 tuổi và

lớn nhất là 84 tuổi

Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Trong nhóm nghiên cứu, số u buồng trứng

không có phần đặc chiếm 54,5% U đặc chiếm tỉ

lệ thấp nhất (6,9%) (Bảng 1)

Trong nhóm ung thư buồng trứng nguyên

phát, ung thư biểu mô chiếm tỉ lệ cao nhất

(71,1%), tiếp theo đó là u ác tế bào mầm (15,8%), u

ác mô đệm dây giới bào (9,2%), u di căn hỗn hợp

ác tính (1,3%) Loại u có giải phẫu bệnh giáp biên

ác gồm 24 u, chiếm tỉ lệ 31,6% Có 1 bệnh nhân

với u buồng trứng 2 bên do thứ phát từ đường

tiêu hóa (Bảng 2)

Bảng 1 Phân loại khối u buồng trứng trên siêu âm

theo IOTA của mẫu nghiên cứu

U đơn thùy

U đơn thùy đặc

U đa thùy

U đa thùy đặc

U đặc

153

130

162

93

40

26,5 22,5 28,0 16,1 6,9

Bảng 2 Giải phẫu bệnh của nhóm u ác tính

(N=76)

Tỷ lệ (%)

Carcinom tuyến dịch trong 2 2,6 Carcinom tuyến dịch nhầy 10 13,2

U bọc dịch trong giáp biên ác 9 11,8

U bọc dịch nhầy giáp biên ác 11 14,5 Carcinom tuyến dạng nội mạc tử cung 12 15,8 Carcinom tế bào sáng

U Brenner ác

9

1

11,8 1,3

U tế bào mầm 12 15,8

U nghịch mầm

U túi noãn hoàng

4

3

5,3 3,9

U quái không trưởng thành 5 6,6

U mô đệm dây giới bào 7 9,2

U sợi giàu tế bào 4 5,3

U tế bào Sertoli-Leydig biệt hóa kém

4.U hỗn hợp

Tế bào trung mô và biểu mô ác tính 5.U di căn từ nơi khác

Tế bào nhẫn

1

1

1

2

2

1,3 1,3 1,3 2,6 2,6

Giá trị của mô hình IOTA ADNEX

Bảng 3 Đặc điểm phân bố các yếu tố trong mô hình IOTA ADNEX theo giai đoạn phẫu thuật ung thư buồng trứng

Lành tính (N= 502)

Giáp biên ác (N=24)

Giai đoạn I (N= 37)

Giai đoạn II-IV (N=17)

Di căn thứ phát (N=2)

Tuổi TV (TPV) 35 (27-46) 46 (37-62) 43 (27-53) 52 (48-67) 57

CA 125 TV (TPV) 23,1 (13,8-49,4) 26,7 (13,5-105) 55 (32,9-108,4) 71,1 (25,9-277,2) 242 Đường kính lớn nhất của

khối u TV (TPV) 78,5 (62-100) 105 (65-157) 137 (94-167) 103 (80-137) 93,5

Có hiện diện mô đặc Số lượng (%) 144 (28,7) 15 (37,5) 32 (86,5) 17 (100) 2 (100)

Tỉ lệ mô đặc (nếu có) TV (TPV) 0,39 (0,26-0,68) 0,51 (0,37-1) 0,45 (0,26-0,77) 0,61(0,47-0,83) 1 (1)

Có nhiều hơn 10 thùy Số lượng (%) 50 (10) 14 (58,3) 19 (51,4) 5 (29,4) 0 (0)

Số nhú: 0

1

2

3

>3

Số lượng (%) 470 (93,6)

12 (2,4)

13 (2,6)

4 (0,8)

3 (0,6)

17 (70,8)

1 (4,2)

1 (4,2)

1 (4,2)

4 (16,7)

14 (37,8)

7 (18,9)

0 (0)

1 (2,7)

15 (40,5)

6 (35,3)

6 (35,3)

0 (0)

0 (0)

5 (29,4)

2 (100)

0

0

0

0

Trang 4

Lành tính (N= 502)

Giáp biên ác (N=24)

Giai đoạn I (N= 37)

Giai đoạn II-IV (N=17)

Di căn thứ phát (N=2)

Có bóng lưng Số lượng (%) 150 (29,9) 1 (4,2) 5 (13,5) 0 (100) 0 (100)

Có dịch ổ bụng Số lượng (%) 8 (1,6) 3 (12,5) 7 (18,9) (35,3) 0 (100)

TV: Trung vị - TPV: Tứ phân vị

Bảng 4 Giá trị của mô hình ADNEX có CA 125 tại

ngưỡng cắt 10%

XN (+) ≥10% 72 (56,7) 55 (43,3) 127

XN (-) <10% 4 (0,89) 447 (99,1) 451

Khả năng dự đoán đúng: 89,8% (KTC 95%:

87,3-92,3%)

Độ nhạy: 94,7% (KTC 95%: 89,7 - 99,8%)

Độ đặc hiệu: 89,4% (KTC 95%: 86,8 - 92,1%)

Giá trị tiên đoán dương: 57,0% (KTC 95%:

48,2 - 65,7%)

Giá trị tiên đoán âm: 99,1% (KTC 95%:

98,2-100%)

Bảng 5 Giá trị của mô hình ADNEX không có

CA125 tại ngưỡng cắt 10%

XN (+) ≥10% 70 (56,9) 53 (43,1) 123

XN (-) <10% 6 (1,3) 449 (98,7) 455

Khả năng dự đoán đúng: 89,8% (KTC 95%:

87,3-92,3%)

Độ nhạy: 92,1% (KTC 95%: 86,0-98,2%)

Độ đặc hiệu: 89,0% (KTC 95%: 86,3-91,8%)

Giá trị tiên đoán dương: 56,7% (KTC 95%:

48,1-65,3%)

Giá trị tiên đoán âm: 98,7% (KTC 95%: 97,6-99,7%)

Bảng 6 Diện tích dưới đường cong ROC của mô

hình ADNEX có CA 125 và mô hình ADNEX không

có CA 125

Mô hình ADNEX

Diện tích dưới đường cong ROC

Có CA 125 0,965 0,948 – 0,982 <0,001

Không có CA

125 0,961 0,943 – 0,978

<0,001

Kết quả kiểm định Hanlay –McNeil: Không

có sự khác biệt AUC giữa hai mô hình ADNEX

và ADNEX không có CA125 với Z = 0,4 và

p=0,34

Giá trị chẩn đoán ung thư buồng trứng của

hai mô hình là tương đương nhau

Hai mô hình này có giá trị tương đồng trong chẩn đoán ung thư buồng trứng lành ác với diện tích dưới đường cong ROC của 2 mô hình như nhau (p=0,34)

Ở ngưỡng cắt khuyến cáo của nghiên cứu IOTA ADNEX (10%), khả năng chẩn đoán đúng của cả 2 mô hình là 89,8%

Biểu đồ 1 So sánh diện tích dưới đường cong ROC

của mô hình ADNEX có sử dụng yếu tố CA125 và không có sử dụng yếu tố CA 125

BÀN LUẬN

Về điểm cắt 10%

Ngưỡng cắt 10% là ngưỡng cắt được kiểm nghiệm ở trung tâm trong nhóm IOTA và ngoài nhóm IOTA, thực hiện bởi người siêu âm ở những trình độ khác nhau vẫn cho kết quả đáng tin cậy(4) Vì thế, chúng tôi khảo sát giá trị của mô hình IOTA ADNEX khi thực hiện tại bệnh viện

Từ Dũ với ngưỡng cắt 10%

Bảng 7 cho thấy, so với ngưỡng cắt do IOTA

đề nghị, ngưỡng cắt tối ưu trong nghiên cứu của chúng tôi không khác biệt, đây là cơ sở cho việc

đề xuất chọn ngưỡng cắt này trong thực hành, nhằm đáp ứng được nhu cầu chẩn đoán ung thư trước phẫu thuật trong một đơn vị y tế chuyên

Trang 5

khoa phụ sản nhưng cũng có chuyên khoa ung

thư như bệnh viện Từ Dũ(4)

Bảng 7 Giá trị của mô hình siêu âm ADNEX tại

ngưỡng cắt tối ưu

ADNEX có CA

125

ADNEX không có

CA 125

Diện tích dưới đường

cong (KTC 95%)

0,965 (0,948 – 0,982)

0,961 (0,943 – 0,978) Điểm cắt tối ưu 10,4% 8,85%

Độ đặc hiệu 89,2% 88,6%

Hệ số Youden 0,839 0,833

Likelihood ratio (+) 8,77 8,31

Nhóm IOTA cũng không đề xuất một cách

chung thuật toán áp dụng với các ngưỡng cắt cố

định, vì nhóm cho rằng, mô hình sẽ được sử

dụng trong hoàn cảnh lâm sàng nào là rất quan

trọng(3,4)

Diện tích dưới đường cong ROC

Chúng tôi ghi nhận diện tích dưới đường

cong ROC của mô hình ADNEX có và không có

CA 125 là 0,965 và 0,961 cho thấy cả 2 mô hình

này đều có giá trị cao

Giá trị chẩn đoán của siêu âm IOTA ADNEX có

CA 125 và không có CA 125

Khi so sánh giá trị của mô hình ADNEX có

CA 125 và không có CA125 nhận thấy không có

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p= 0,691) mặc

dù độ nhạy của mô hình có CA 125 có cao hơn

mô hình không có CA 125 Trong nhóm nghiên

cứu của chúng tôi, mô hình ADNEX có CA 125

bỏ sót 4 trường hợp ác tính, mô hình ADNEX

không có CA125 bỏ sót 5 trường hợp ác tính

Nếu chúng ta càng ít bỏ sót trường hợp ác tính,

bệnh nhân càng có lợi và về mặt lâm sàng, vì vậy

mô hình CA125 có lợi hơn Thực tế lâm sàng tại

bệnh viện Từ Dũ, tất cả các bệnh nhân đều được

thực hiện xét nghiệm CA125 huyết thanh Tuy

vậy, nhóm IOTA cũng khuyến cáo, nếu không

có sẵn xét nghiệm CA125, có thể thực hiện 2

bước: (1) dùng mô hình ADNEX để đưa các

bệnh nhân có nguy cơ ung thư ở ngưỡng mong

đợi, thường là 10%, (2) làm thêm xét nghiệm

CA125, nhằm phân định rõ nguy cơ ung thư

theo các nhóm giai đoạn để có kế hoạch can

thiệp tùy năng lực của cơ sở y tế

Nghiên cứu của Van Calster và cộng sự(5) cho thấy: Việc thiếu giá trị của CA125 ít có tác động

về việc phân biệt giữa các khối u lành tính và ác tính: diện tích dưới đường cong khi có CA125 là 0,943 và là 0,932 khi CA125 không được đưa vào

mô hình như một yếu tố dự đoán Mức chênh lệch diện tích dưới đường cong ROC ở mô hình

có và không có CA125 rất thấp Trong nghiên cứu của chúng tôi, sự khác biệt này là không có ý nghĩa, tương tự như các nghiên cứu của Van Calster, A Sayasneh

Mặc dù mô hình ADNEX tiên lượng nguy

cơ ung thư buồng trứng dựa trên các yếu tố bao gồm cả mức CA 125 trong huyết thanh, nhưng các ứng dụng trực tuyến và điện thoại

di động cho phép tính toán rủi ro mà không có thông tin này Khi đó, chương trình đưa ra cảnh báo: “Tính toán kết quả không có mức CA125 huyết thanh? Điều này tùy chọn nhưng

sẽ làm giảm sự phân biệt giữa các khối u giai đoạn II-IV và các phân nhóm ác tính khác” Theo nhóm IOTA, xét nghiệm CA125 huyết thanh không phải lúc nào cũng sẵn có tại bệnh viện Thực tế trong nghiên cứu của nhóm IOTA, trong giai đoạn xác thực của nghiên cứu IOTA ADNEX, có 31% số ca không có xét nghiệm này

Vì vậy, nếu thiếu dữ liệu của CA125, trước tiên hãy áp dụng mô hình ADNEX không có CA125 huyết thanh và sử dụng những dự đoán nguy cơ này để phân biệt các khối u ở 2 mức: lành tính và

ác tính Sau đó, nếu nguy cơ mắc bệnh ác tính cao, CA-125 có thể được đưa vào để cập nhật các

dự đoán nguy cơ của u giáp biên, ung thư giai đoạn I, giai đoạn II-IV và ung thư di căn thứ phát(5,6) Bằng cách này, việc đo nồng độ CA-125 trong huyết thanh có thể chỉ giới hạn ở những bệnh nhân có nguy cơ ung thư buồng trứng

Phân tích những trường hợp âm tính giả

Có 4 trường hợp u giáp biên bị bỏ sót trước phẫu thuật theo ngưỡng cắt 10% của mô hình ADNEX, trong đó có 3 u bọc dịch trong và 1 u bọc dịch nhầy Không có u nào là u đa thùy đặc hay u đặc Cả 4 u đều không có chồi và không có

Trang 6

phần đặc trong u Trong đó, có 3 u có nhiều hơn

10 thùy Nguy cơ ác tính của các u này từ

2,6-6,1% Khi sử dụng mô hình không có CA 125, có

6 u bị bỏ sót, trong đó có 1 u đặc theo siêu âm

Tất cả các u này đều là u giáp biên ác

Phân biệt u giáp biên từ các khối u lành

tính hoặc ung thư giai đoạn I có thể là một

thách thức đối với các nhà giải phẫu bệnh, sự

không đồng thuận trong đánh giá kết quả giải

phẫu bệnh có thể cho kết quả chẩn đoán không

chính xác cho mô hình ADNEX trong những

trường hợp này(6) Nghiên cứu của Wouter

Froyman thực hiện loại các u giáp biên ác ra

khỏi phân tích Tác giả nhận định: có khó khăn

trong phân loại u giáp biên thành lành tính

hay ác tính, mặt khác, các khối u buồng trứng

giáp biên hiếm khi đứng trước nguy cơ ung

thư biểu mô buồng trứng xâm lấn Trong

nghiên cứu của Sayasneh A(3) ông giải thích là

giải phẫu bệnh được đọc tại các trung tâm ung

thư Nếu có sự sai khác biệt, mẫu được kiểm

chứng tại một trung tâm của trường đại học

Phân tích những trường hợp dương tính giả

Dương tính giả của mô hình ADNEX trong

nghiên cứu của chúng tôi gặp ở nhiều loại u như

bọc dịch trong, bọc dịch nhầy, u bì, u quái

trưởng thành, u quái giáp, u sợi lành, u vỏ bào

lành, lạc nội mạc tử cung buồng trứng và gặp

trong cả 5 phân loại của IOTA Mô hình có

CA125 có nhiều hơn 5 ca dương tính giả so với

mô hình không có CA125 Có 3/55 trường hợp

dương tính giả có nhiều hơn 3 chồi trong u 81%

các u bị chẩn đoán nhầm ác tính ở ngưỡng cắt

10% có phần đặc trong u 43/55 ca không có bóng

lưng và 3 ca có dịch ổ bụng Đây là các yếu tố

làm dự đoán nguy cơ không lành tính cao lên

Mục đích của sàng lọc ung thư buồng trứng

là làm giảm tử vong do ung thư buồng trứng Để

thực hiện điều này, việc sàng lọc cần phát hiện

ung thư ở giai đoạn sớm, tức là tỷ lệ phát hiện

ung thư buồng trứng giai đoạn I-II nên cao Tuy

nhiên, sự thay đổi chiến lược trong phát hiện

sớm ung thư buồng trứng chỉ được thể hiện ở

hai trong số ba thử nghiệm ngẫu nhiên có đối

chứng về sàng lọc ung thư buồng trứng, và không có nghiên cứu nào cho thấy có bằng chứng về việc làm giảm tử vong do ung thư buồng trứng trong nhóm được sàng lọc Trong hai thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đã hoàn thành về sàng lọc ung thư buồng trứng, siêu âm theo đánh giá chủ quan của người đọc Kết quả

là, nhiều bệnh nhân bị bệnh lành tính được lên

kế hoạch phẫu thuật, tức là, một số lượng lớn các

ca phẫu thuật đã được thực hiện để phát hiện một ca ung thư Wouter Froyman(1) dự đoán rằng giá trị tiên đoán dương của tầm soát có thể được cải thiện nếu các phương pháp IOTA được

sử dụng để xác định kết quả tầm soát bất thường Cho đến nay, mô hình IOTA chưa được thực hiện trong việc sàng lọc ung thư buồng trứng trong dân số

Phân tích trên nhóm có u buồng trứng 2 bên có đặc tính lành ác khác nhau

Mô hình siêu âm ADNEX có các yếu tố như tuổi, trung tâm ung thư hay không, CA125, dịch

ổ bụng sẽ giống nhau khi phân tích 2 u buồng trứng trên cùng 1 bệnh nhân Trên 4 bệnh nhân

có u hai bên có đặc tính lành ác khác nhau, chỉ có

1 trường hợp dương tính giả cho u lành tính Các trường hợp còn lại đều cho dự đoán tỉ lệ ung thư phù hợp tại ngưỡng cắt 10%

Các tác động lên quyết định lâm sàng của

mô hình ADNEX cũng giống với bất kỳ các xét nghiệm khác: không áp dụng một quy tắc cố định duy nhất để đưa ra một kết luận cho mọi bệnh nhân Các mô hình rủi ro nhằm cung cấp các ước tính nguy cơ chính xác cho từng bệnh nhân Các ước tính này được sử dụng như thế nào, thảo luận với bệnh nhân hoặc đưa ra quyết định phụ thuộc vào nhiếu yếu tố khác, như mong muốn của bệnh nhân, tuổi, bệnh lý đi kèm, các quy định y tế của mỗi địa phương

Về phương pháp nghiên cứu

Một hạn chế của nghiên cứu của chúng tôi là các phương pháp chẩn đoán đã được xác nhận trên những bệnh nhân trải qua phẫu thuật Giới hạn thứ hai là chúng tôi không đọc đối chứng giữa các bác sĩ siêu âm Các bác sĩ đọc siêu âm

Trang 7

theo mô hình ADNEX trong nghiên cứu đều có

trên 10 năm kinh nghiệm và được xác nhận qua

việc cho phép thực hiện tại khoa sau huấn luyện

Theo nghiên cứu của nhóm IOTA về mô hình

ADNEX, mô hình này vẫn giữ nguyên giá trị khi

ứng dụng ra ngoài nhóm(5) Một nghiên cứu khác

về ứng dụng mô hình ADNEX trên nhóm bác sĩ

siêu âm và cả bác sĩ phụ khoa trải qua đào tạo

huấn luyện cũng cho thấy mô hình giữ nguyên

được giá trị(3)

KẾT LUẬN

Qua phân tích 522 bệnh nhân với 578 khối u

buồng trứng được phẫu thuật từ 3/01/2018 đến

10/05/2018 tại bệnh viện Từ Dũ, chúng tôi ghi

nhận kết quả như sau:

Ở ngưỡng cắt 10%, dùng giải phẫu bệnh là

tiêu chuẩn vàng để xác nhận đặc tính lành ác của

khối u, mô hình IOTA ADNEX có:

Khả năng dự đoán đúng: 89,8% (KTC 95%:

87,3-92,3%)

Độ nhạy: 94,7% (KTC 95%: 89,7 - 99,8%)

Độ đặc hiệu: 89,4% (KTC 95%: 86,8 - 92,1%)

Diện tích dưới đường cong ROC: 0,965 (KTC

95%: 0,948 – 0,982)

Mô hình siêu âm IOTA ADNEX có CA125 và

mô hình siêu âm IOTA ADNEX không có CA125

có giá trị tương đồng trong chẩn đoán ung thư buồng trứng lành ác với diện tích dưới đường cong ROC của 2 mô hình như nhau (p=0,34)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Froyman W, Wynants L, Landolfo C et al (2017) "Validation

of the Performance of International Ovarian Tumor Analysis (IOTA) Methods in the Diagnosis of Early Stage Ovarian Cancer

in a Non-Screening Population" Diagnostics, 7: 32

2 Meys EMJ, Jeelof LS, Achten NMJet al (2017) "Estimating risk

of malignancy in adnexal masses: external validation of the ADNEX model and comparison with other frequently used

ultrasound methods” Ultrasound Obstet Gynecol Medscape, 49(6):

784-792

3 Sayasneh A, Ferrara L, De Cock B, Saso S, Al-Memar M, et al

(2016), "Evaluating the risk of ovarian cancer before surgery using the ADNEX model: a multicentre external validation

study" Br J Cancer, 115(5): 542-8

4 Tô Thị Thục Trang (2014) Giá trị của HE4 trong chẩn đoán ung

thư biểu mô buồng trứng tại bệnh viện Từ Dũ, Đại học Y Dược

Luận văn chuyên khoa 2, Đại học Y Dược, tr 57

5 Van Calster B, Van Hoorde K, Valentin L, Testa AC, Fischerova

D et al (2014) "Evaluating the risk of ovarian cancer before surgery using the ADNEX model to differentiate between benign, borderline, early and advanced stage invasive, and secondary metastatic tumours: prospective multicentre

diagnostic study" BMJ: British Medical Journal, pp.349

6 Van Gorp T, Cadron I, Despierre E, Daemen A, Leunen K et al

(2011) "HE4 and CA125 as a diagnostic test in ovarian cancer: prospective validation of the Risk of Ovarian Malignancy

Algorithm" Br J Cancer, 104 (5): 863-70

Ngày nhận bài báo: 30/11/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 08/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 13:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w