Bài viết trình bày việc khảo sát sự phân bố của các vi khuẩn gây bệnh thường gặp và sự đề kháng sinh của chúng trong bệnh phẩm đàm và dịch rửa phế quản.
Trang 1SỰ KHÁNG THUỐC CỦA CÁC VI KHUẨN GÂY BỆNH
THƯỜNG GẶP TRONG BỆNH PHẨM ĐƯỜNG HÔ HẤP DƯỚI
TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HCM TRONG MỘT NĂM (01/5/2016-30/4/2017)
Nguyễn Ngọc Lân * , Cao Minh Nga*, Nguyễn Thị Thiên Kiều**
TÓM TẮT
Mở đầu: Theo tổ chức World Lung Foundation thì mỗi năm trên thế giới có khoảng 4,25 triệu người tử
vong vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp Trong đó kháng sinh đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp do vi khuẩn gây nên Sự đề kháng kháng sinh là vấn đề thời sự y học trên qui mô toàn cầu,
kể cả Việt Nam Tình trạng này làm làm tăng tỉ lệ bệnh tật, tử vong và cả gánh nặng chi phí Giám sát thường xuyên mức độ kháng kháng sinh của các vi khuẩn là rất cần thiết
Mục tiêu: Khảo sát sự phân bố của các vi khuẩn gây bệnh thường gặp và sự đề kháng sinh của chúng trong
bệnh phẩm đàm và dịch rửa phế quản
Phương pháp: Hồi cứu, mô tả cắt ngang Thu nhập dữ liệu về định danh vi khuẩn từ các loại bệnh phẩm và
kết quả kháng sinh đồ tại BV Đại Học Y Dược TP HCM trong một năm (01/5/2016-30/4/2017)
Kết quả: Trong một năm (01/5/2016-30/4/2017), phân lập được 1980 chủng vi khuẩn từ bệnh phẩm đàm và
dịch rửa phế quản Các loại vi khuẩn gây bệnh thường gặp là: Klebsiella spp (23,59%), Streptococcus spp (16,62%), Acinetobacter spp (15,51%), Staphylococcus spp (15,40%), Pseudomonas spp (12,12%), E.coli (10,40%) Có sự khác biệt về mức kháng thuốc giữa các nhóm vi khuẩn Các vi khuẩn đường ruột đều kháng với nhiều loại kháng sinh mức độ thấp hơn với các trực khuẩn gram âm không lên men Ghi nhận không có chủng vi khuẩn S aureus kháng Vancomycin (trong tổng số 138 chủng S.aureus phân lập được)
Kết luận: Cần sử dụng kháng sinh hợp lý trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn để hạn chế sự kháng thuốc
của vi khuẩn
Từ khóa: vi khuẩn gây bệnh, kháng kháng sinh
ABSTRACT
DRUG RESISTANCE OF COMMON PATHOGENIC BACTERIA IN LOWER RESPIRATORY TRACT
SAMPLES AT UNIVERSITY MEDICAL CENTER IN ONE YEAR (01/5/2016-30/4/2017)
Nguyen Ngoc Lan, Cao Minh Nga, Nguyen Thi Thien Kieu
Ho Chi Minh City Journal Of Medicine *Vol 22 - No 4- 2018: 381– 389
Introduction: According to the World Lung Foundation, there are about 4.25 million deaths worldwide
every year from acute respiratory infections In that, antibiotics play a very important role for treating bacterial respiratory tract infections Disease-causing microbes that have become resistant to antibiotic therapy are public health problems worldwide It makes morbidity, mortality and the costs for health increase dramatically The surveillance of antibiotic resistance of these bacteria is useful
Purpose: To investigate distribution of common pathogenic bacteria in sputum and bronchoalveolar ravage
samples and its antibiotic resistance
** Bộ môn Vi sinh – Khoa Y – Đại học Y Dược TP HCM; ** Khoa Xét nghiệm – Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM
Trang 2Method: Retrospective, descriptive and cross-sectional methods were used Data of pathogenic bacteria and
antibiogram results were collected at University Medical Center in one year (01/5/2016-30/4/2017)
Results: In one year (01/5/2016-30/4/2017), 1980 pathogenic bacteria were isolated from sputum and
bronchoalveolar lavage samples All of them tested antibiotic sensitivity Six common bacteria were Klebsiella spp (23.59%), Streptococcus spp (16.62%), Acinetobacter spp (15.51%), Staphylococcus spp (15.40%), Pseudomonas spp (12.12%), E.coli (10.40%) Each bacterium had different level of antibiotic resistance The Enterobacteriacae was resistant to antibiotics with low level Pseudomonas and Acinetobacter were resistant to antibiotics in high level There was no vancomycine-resistant S.aureus in the survey (in total of 138 S.aureus isolated)
Conclusion: A reasonable antibiotic use is needed in treatment of infectious diseases to limit resistance of
pathogenic bacteria
Key words: pathogenic bacteria, antibiotic resistance
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo tổ chức World Lung Foundation thì
mỗi năm trên thế giới có khoảng 4,25 triệu người
tử vong vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp(166) Đây là
một trong những nguyên nhân lớn gây tử vong
trên thế giới, nhất là ở những nước có thu nhập
thấp và thu nhập trung bình
Kháng sinh đóng vai trò rất quan trọng trong
việc điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp do vi
khuẩn gây nên Tuy nhiên, một trong những vấn
đề thời sự trên qui mô toàn cầu, kể cả ở Việt
Nam là sự đề kháng kháng sinh Việc sử dụng
kháng sinh rộng rãi là một trong những nguyên
nhân quan trọng dẫn đến sự phát triển và gia
tăng của tình trạng kháng kháng sinh(1,4,133,155)
Trong số các nước thuộc mạng lưới giám sát các
căn nguyên kháng thuốc châu Á (ANSORP)(143),
Việt Nam có mức độ kháng penicillin cao và
kháng erythromycin đến 91,2% Kháng thuốc ở
vi khuẩn gram âm cũng được ghi nhận Đặc biệt,
khoảng 70% vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh
viện kháng với ít nhất một trong số các kháng
sinh điều trị nhiễm khuẩn thông thường(100,144,166)
Để thông tin kịp thời đến các Bác sĩ lâm sàng, hỗ
trợ trong việc sử dụng kháng sinh hợp lý và hiệu
quả, chúng tôi tiến hành khảo sát “Sự kháng
thuốc của vi khuẩn gây bệnh thường gặp trong
bệnh phẩm đường hô hấp dưới tại Bệnh viện Đại
học Y Dược TP HCM trong một năm
(01/5/2016-30/4/2017)
Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu sự phân bố của các vi khuẩn gây bệnh thường gặp trong bệnh phẩm đàm và dịch rửa phế quản tại Bệnh viện Đại Học Y Dược TP HCM trong một năm (01/5/2016-30/4/2017) Xác định mức độ kháng kháng sinh của các loại vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Mô tả hồi cứu- thiết kế cắt ngang
Đối tượng nghiên cứu
Là những vi khuẩn gây bệnh phân lập được
từ các bệnh phẩm đàm và dịch rửa phế quản của những bệnh nhân nội và ngoại trú tại Bệnh viện Đại Học Y Dược TP HCM, có chỉ định cấy vi khuẩn và làm kháng sinh đồ trong một năm (01/5/2016-30/4/2017)
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Các vi khuẩn phân lập được theo thời gian
và địa điểm nêu trên, có đầy đủ kết quả kháng sinh đồ theo tiêu chuẩn của từng loại vi khuẩn
Tiêu chuẩn loại trừ
Những vi khuẩn cùng loại trên cùng bệnh nhân trong những lần phân lập sau Nghi ngờ tạp nhiễm, ngoại nhiễm
Phương pháp nghiên cứu
Phân lập, định danh vi khuẩn gây bệnh theo thường qui của Tổ chức Y tế Thế giới và xác định
Trang 3mức độ kháng kháng sinh của các vi khuẩn phân
lập được bằng phương pháp khuếch tán trên
thạch Kirby-Bauer theo hướng dẫn của
CLSI-2014 (Hoa kỳ) với đĩa giấy tẩm kháng sinh của
hãng Bio-Rad tại Bộ môn Vi sinh, Khoa Y, Đại
học Y Dược TP HCM
Thu nhập và nhập dữ liệu vào mẫu “Phiếu
nghiên cứu’’ cho từng loại vi khuẩn
Xử lý kết quả theo các phương pháp thống
kê y học
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong một năm (01/5/2016-30/4/2017), Khoa
Vi sinh của Bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM
đã nhận được 2616 mẫu bệnh phẩm đàm và dịch
rửa phế quản, Trong đó, 1826 mẫu phân lập
được vi khuẩn chiếm 69,80%, với tổng số chủng
vi khuẩn phân lập được từ mẫu đàm và dịch rửa
phế quản được nghiên cứu là 1980 chủng (có 154
mẫu bệnh phẩm phân lập được 2 loại vi khuẩn)
và thu được các kết quả sau:
Kết quả cấy – định danh vi khuẩn gây bệnh
Bảng 1: Kết quả nuôi cấy vi khuẩn tổng quát
Mẫu phân lập được vi khuẩn 1826 69,80
Mẫu phân lập được nấm men 350 13,38
Mẫu không phân lập được vi khuẩn 440 16,82
Bảng 2: Sự phân bố các vi khuẩn gây bệnh phân lập
được trong mẫu đàm (N=1980)
1 Streptococcus spp
Streptococcus viridans
Streptococcus pneumoniae
Streptococcus spp [1]
329
210
39
80 16,62
3 Staphylococcus spp
Staphylococcus aureus
Staphylococcus spp.[2]
305
138
167 15,40
4 Klebsiella spp
Klebsiella pneumoniae
Klebsiella spp.[3]
467
445
22 23,59
6 Enterobacter spp
Enterobacter aerogenes Enterobacter cloaceae
52
43
9 2,63
Nhóm Trực khuẩn gram âm không lên
Pseudomonas aeruginosa
Pseudomonas spp.[4]
240
229
11 12,12
9 Acinetobacter spp
Acinetobacter baumanii Acinetobacter spp.[5]
307
303
4 15,51
10 Stenotrophomonas maltophilia 14 0,71
Các vi khuẩn khác [6] 16 0,80
(1)Streptococcus spp khác S viridans, S pneumonia; (2)Staphylococcus spp khác S aureus; (3)Klebsiella spp khác K pneumonia; (4)Pseudomonas spp khác P aeruginosa; (5)Acinetobacter spp khác A baumanii; (6)Citrobacter freundii, Chryseobacterium indologenes, Elizabethkingia meningoseptica, Haemophilus spp., Hafnia alvei, Moraxella catarrhalis, Pantoea agglomerans, Providencia spp.
Biểu đồ 1: Mức độ hay gặp của các loại vi khuẩn
thường gặp nhất
Kết quả kháng sinh đồ
Kết quả kháng sinh đồ được trình bày trong biểu đồ 2 – biểu đồ 7
Trang 4Biểu đồ 6: Mức độ kháng kháng sinh của
vi khuẩn Acinetobacter spp (N=307)
Biểu đồ 5: Mức độ kháng kháng sinh của
vi khuẩn Pseudomonas spp (N=240)
Biểu đồ 3: Mức độ kháng kháng sinh của vi
khuẩn S.aureus (N=138)
Biểu đồ 2: Mức độ kháng kháng sinh của vi khuẩn Streptococcus spp (N=329)
Biểu đồ 4: Mức độ kháng kháng sinh của vi
khuẩn Staphylococcus spp khác S.aureus (N=167)
Trang 5Bảng 3: Tính trạng ESBL của vi khuẩn đường ruột
(N=750)
ESBL (+)
Klebsiella spp 133 17,73
Enterobacter spp 5 0,67
Theo Bảng 3, trong tổng số 750 vi khuẩn
đường ruột được phân lập, vi khuẩn tiết ESBL
trong nghiên cứu này có Klebsiella spp.,
Enterobacter spp., E.coli và Proteus spp., trong đó
Klebsiella spp chiếm tỷ lệ cao nhất với 17,73 %
Trong đó, kết quả khảo sát riêng từng loại vi
khuẩn cho thấy: tỷ lệ E coli sinh ESBL là 45,63%
(94/206 chủng E coli), Klebsiella spp sinh ESBL là
28,48% (133/467 chủng Klebsiella spp.), Proteus
spp sinh ESBL là 12,00% (5/52 chủng Proteus
spp.), Enterobacter spp sinh ESBL là 9,62% (3/25
chủng Enterobacter spp.) (Biểu đồ 8)
trong tổng số 683 vi khuẩn đường ruột được
phân lập, vi khuẩn AmpC (+) ở nghiên cứu này
chiếm 7,8% (có Klebsiella spp., E.coli và
Enterobacter spp lần lượt chiếm 4,4%, 2,5%, và
0,9% ) (bảng 4)
Bảng 4: Tính trạng AmpC của vi khuẩn đường ruột
(N=683)
AmpC (+)
Klebsiella spp 30 4,4
Enterobacter spp 6 0,9
Ở Biểu đồ 9, kết quả khảo sát riêng từng loại
vi khuẩn cho thấy: tỷ lệ Enterobacter spp AmpC
(+) là 12,50% (6/48 chủng Enterobacter spp.), E coli AmpC (+) là 8,63% (17/197 chủng E coli ),
Klebsiella spp AmpC (+) là 6,85% (30/438 chủng
Klebsiella spp.)
Biểu đồ 7: Mức độ kháng kháng sinh của của nhóm trực khuẩn đường ruột gram
âm
Trang 6Biểu đồ 9: Tỷ lệ từng chủng vi khuẩn đường ruột
AmpC (+)
BÀN LUẬN
Kết quả cấy – định danh vi khuẩn gây bệnh
Kết quả cấy vi khuẩn dương tính
Kết quả thể hiện ở Bảng 1 cho thấy, trong
một năm (01/5/2016-30/4/2017), chúng tôi phân
lập được 1980 chủng vi khuẩn từ 2616 mẫu bệnh
phẩm đàm và dịch rửa phế quản (có 350 mẫu
bệnh phẩm phân lập được nấm men, có 1826
mẫu bệnh phẩm phân lập được 1 loại vi khuẩn,
có 154 mẫu bệnh phẩm phân lập được 2 loại vi
khuẩn) Tỉ lệ trung bình bệnh phẩm cấy có vi
khuẩn mọc là 69,80% (1826/2616 mẫu)
Kết quả định danh vi khuẩn
Kết quả nghiên cứu thể hiện ở Bảng 2 cho
thấy sự phân bố của 1980 chủng vi khuẩn phân
lập được Trong ba nhóm vi khuẩn gây bệnh
thường gặp, nhóm cầu khuẩn gram dương
chiếm 32,68%, nhóm trực khuẩn đường ruột
gram âm chiếm tỉ lệ 37,88%, tiếp theo là nhóm
trực khuẩn gram âm không lên men – gồm hai
loại vi khuẩn rất thường gặp trong nhiễm khuẩn
bệnh viện(1,2,5,9,14) - chiếm tỉ lệ thấp hơn (28,64%)
Trong nghiên cứu này, Klebsiella spp (23,59%),
Acinetobacter spp (15,51%) và P.aeruginosa
(12,12%) cũng là ba trong những tác nhân chính
gây nhiễm khuẩn bệnh viện phân lập được trong
mẫu đàm (lần lượt chiếm 30,5%, 7% và
19,1%_trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Sử
Minh Tuyết(7) Tỷ lệ nhiễm Acinetobacter spp
(15,51%) còn cao; điều này phù hợp với những cảnh báo chung về sự gia tăng của vi khuẩn
Acinetobacter spp trong nhiễm khuẩn bệnh viện
trong thời gian gần đây(1,8,9)
Các vi khuẩn ít gặp như Stenotrophomonas
maltophilia, Burkholderia cepacia chiếm tỷ lệ lần
lượt là 0,71% và 0,30% Các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn hô hấp có trong mẫu đàm thường gặp
nhất trong nghiên cứu này gồm Klebsiella spp
(23,59%), Streptococcus spp (16,62%),
Acinetobacter spp (15,51%), Staphylococcus spp
(15,40%), Pseudomonas spp (12,12%), E.coli
(10,40%) Kết quả này có sự khác biệt trong nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thủy Trinh(122): các tác nhân vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất
ở nhiễm khuẩn hô hấp là Moraxella catarrhalis (27,45%), Klebsiella spp (22,35%), Acinetobacter spp (9,41%) và Enterobacter spp (9,41%) Sự khác
biệt này có thể do sự khác nhau về cỡ mẫu và do
đặc trưng riêng của mỗi bệnh viện
Mức độ kháng kháng sinh của các loại vi khuẩn thường gặp
Tỉ lệ kháng kháng sinh của nhóm cầu khuẩn Gram dương
Streptococcus spp
Trong nghiên cứu này, Streptococcus spp là
tác nhân gây nhiễm khuẩn hô hấp thường gặp
trong mẫu đàm, chiếm 16,62% (Bảng 2) Trong khảo sát của chúng tôi ở Biểu đồ 2, Streptococcus
spp đã kháng lại rất cao đối với các kháng sinh Erythromycin (90,27%), Doxycyline (88,85%), Clindamycin (85,58%); đề kháng trên 50% với Levofloxacin (68,39%) Tuy nhiên còn nhạy với Linezoid (100%), Vancomycin (100%)
Staphylococcus spp
Là vi khuẩn thuộc nhóm các vi khuẩn gây bệnh thường gặp trong nhiễm khuẩn hô hấp được phân lập từ mẫu đàm và dịch rửa phế quản Trong đó (biểu đồ 3 và 4):
S.aureus đã đề kháng lại rất cao đối với các kháng sinh
Penicillin G (97,08%), Cefoxitin (85,93%), Erythromycin (82,61%), Clindamycin (78,26%), Ciprofloxacin (72,99%), Levofloxacin (67,41%) Còn
Trang 7nhạy với các kháng sinh Vancomycin (100%) và
Linezolid (100%)
Staphylococcus spp.( khác S.aureus) cũng có
mức độ kháng kháng sinh tương tự như
S.aureus Chúng đề kháng rất cao đối với các
kháng sinh Penicillin G (97,60%), Cefoxitin
(86,34%), Erythromycin (85,63%), Ciprofloxacin
(76,65%), Levofloxacin (71,95%), Clindamycin
(64,68%), Còn nhạy với các kháng sinh
Vancomycin (100%) và Linezolid (100%) Hạn
chế dùng kháng sinh Vancomycin và Linezolid
trong trường hợp chủng vi khuẩn còn nhạy với
các kháng sinh khác để tránh hiện tượng kháng
thuốc, vì hiện nay kháng sinh này là loại tốt
dùng để điều trị những bệnh nặng hoặc nhiễm
khuẩn huyết do cầu khuẩn Gram dương
Tỉ lệ kháng kháng sinh của nhóm trực khuẩn
gram âm không lên men
Pseudomonas spp (trong đó P.aeruginosa
chiếm đến 95,42%): có tỷ lệ đề kháng cao với
Imipenem (64,32%), Levofloxacin (63,32%),
Netilmicin (50,21%); đề kháng dưới 50% với
Doripenem (43,04%), Ceftazidime (39,33%),
Cefepime (35,00%), Cefoperazone/ sulbactam
(30,13%), Amikacin (23.83%); và Pseudomonas
nhạy cảm tốt với Colistin (chỉ kháng 0.43%)
Colistin là kháng sinh chọn lựa kết hợp trong
trường hợp nhiễm P aeruginosa trong bệnh viện
Acinetobacter spp gây bệnh ở những người bị
suy giảm sức đề kháng và những bệnh nhân lớn
tuổi, là tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện chủ
yếu trong thời gian gần đây(1,9) Sự gia tăng tính
đề kháng của chúng hiện nay làm cho việc điều
trị trong lâm sàng gặp nhiều khó khăn Hầu hết
các kháng sinh đều bị đề kháng khá cao Tỷ lệ đề
kháng cao nhất đối với: Cefotaxime (92,18%),
Ceftriaxone (92,18%), Doripenem (90,00%),
Imipenem (89,55%), Ceftazidime (88,56%),
Levofloxacin (86,05%) So với nghiên cứu của tác
giả Nguyễn Phú Hương Lan(6) (2010) và tác giả
Trần Thị Thủy Trinh(122) (2013) thì mức độ đề
kháng kháng sinh của Acinetobacter trong nghiên
cứu của chúng tôi cũng tương tự với các kháng
sinh: Amikacin, Ciprofloxacin, Ceftriaxone,
Ceftazidime, Piperacillin/tazobactam, Ticarcillin/clavulanic acid, Levofloxacin và Cefoperazone/sulbactam Colistin là những kháng sinh chọn lựa kết hợp trong trường hợp
nhiễm Acinetobacter spp trong bệnh viện
Tỉ lệ kháng kháng sinh của nhóm trực khuẩn đường ruột gram âm
Klebsiella spp là vi khuẩn đứng hàng thứ nhất
trong số các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn đường
hô hấp thường gặp trong mẫu đàm và dịch rửa phế quản Chúng kháng lại với Cefotaxime, Ceftriaxone, Ceftazidime, Cefoxitin, Levofloxacin với tỷ lệ kháng lần lượt là 59,87%, 54,51%, 53,96%, 51,71% và 46,04% Còn lại các kháng sinh có tỷ lệ kháng kháng sinh khá thấp (dưới 25%): Cefoperazone/ sulbactam (21,21%), Netilmicin (18,91%), Amikacin (10,20%) Như
vậy, Klebsiella còn nhạy cảm với nhiều kháng
sinh
E.coli có tỷ lệ đề kháng cao với các kháng sinh:
Ceftriaxone (72,20%), Cefotaxime (72,20%), Ceftazidime (68,45%), Levofloxacin (59,90%) Còn lại các kháng sinh có tỷ lệ kháng kháng sinh khá thấp (dưới 25%): Piperacillin/tazobactam (19,80%), Doripenem (18,81%), Meropenem (17,31%), Netilmicin (9,76%), Amikacin (6,83%), Cefoperazone/
sulbactam (6,80%) Tuy nhiên, cần lưu ý E.coli và Klesiella spp có tỷ lệ sinh ESBL khá cao lần lượt là
45,63% và 28,48% Theo Tổ chức Y tế Thế giới, khi phân lập được vi khuẩn sinh ESBL, cho dù kết quả là nhạy hay trung gian thì nên sử dụng kháng sinh thuộc nhóm Carbapenem
Kết quả khảo sát vi khuẩn sinh ESBL
Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân lập được 750 chủng Enterobacteriaceae, trong đó có
235 chủng tiết ESBL, chiếm 31,33% Tỷ lệ tăng cao này được giải thích là do việc sử dụng kháng sinh thuộc nhóm Cephalosporin, Fluoroquinolones không được kiểm soát chặt chẽ cùng với kỹ thuật phát hiện ESBL đã được quan tâm nhiều hơn
Các vi khuẩn tiết ESBL trong nghiên cứu này
có Klebsiella spp., E.coli, Enterobacter spp và
Proteus spp., trong đó Klebsiella spp chiếm tỷ lệ
Trang 8cao nhất với 17,73% Tỷ lệ E Coli, Klebsiella spp.,
Proteus spp và Enterobacter spp sinh ESBL lần
lượt là 45,63% (94/206 chủng E coli), 28,48%
(133/467 chủng Klebsiella spp.), 12,00% (5/52
chủng Proteus spp), 9,62% (3/25 chủng
Enterobacter spp.)
Kết quả khảo sát vi khuẩn AmpC (+)
Trong 683 vi khuẩn đường ruột được phân
lập, vi khuẩn AmpC (+) ở nghiên cứu này chiếm
7,8% (có Klebsiella spp., E.coli, Enterobacter spp
lần lượt chiếm 4,4%, 2,5% và 0,9%)
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, khi phân lập
được vi khuẩn sinh ESBL(+) hay AmpC (+), cho
dù kết quả là nhạy hay trung gian thì cũng
không nên sử dụng kháng sinh thuộc nhóm
Cephalosporin mà nên sử dụng kháng sinh
nhóm Carbapenem
KẾT LUẬN
Qua khảo sát 1980 chủng vi khuẩn gây
nhiễm khuẩn đường hô hấp thường gặp trong
mẫu đàm và dịch rửa phế quản trong một năm
(01/5/2016-30/4/2017), tại phòng xét nghiệm vi
sinh của bệnh viện Đại học Y dược TP Hồ Chí
Minh, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
Các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn đường hô
hấp được phân lập từ mẫu đàm thường gặp tại
bệnh viện Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh:
Klebsiella spp (23,59%), Streptococcus spp
(16,62%), Acinetobacter spp (15,51%),
Staphylococcus spp (15,40%), Pseudomonas spp
(12,12%), E.coli (10,40%)
Các vi khuẩn kháng kháng sinh với mức độ
khác nhau Đối với cầu khuẩn Gram dương,
thường gặp có Streptococcus spp và
Staphylococcus spp thì tỷ lệ đề kháng kháng sinh
thay đổi nhưng chỉ Streptococcus spp còn nhạy
cảm với Cetriaxone (nhạy khoảng 66%) Cả hai
nhạy cảm với Vancomycin, Linezolid (100%)
Các trực khuẩn không lên men, đặc biệt vi
khuẩn Acinetobacter spp kháng đa kháng sinh
với tỉ lệ rất cao Vi khuẩn Pseudonomas spp
(trong đó P aeruginosa chiếm đến 95,42%): có tỷ
lệ đề kháng với Imipenem (64,32%), Levofloxacin (63,32%), Netilmicin (50,21%);
Pseudomonas nhạy cảm tốt với Colistin (kháng
0,43%) Do đó, Colistin là kháng sinh chọn lựa
kết hợp trong trường hợp nhiễm Acinetobacter
spp và nhiễm P aeruginosa trong bệnh viện E.coli đề kháng kháng sinh đối với
Ceftriaxone (72,20%), Cefotaxime (72,20%), Ceftazidime (68,45%), Levofloxacin (59,90%), và kháng thấp với Piperacillin/tazobactam (19,80%), Doripenem (18,81%), Meropenem (17,31%), Netilmicin (9,76%), Amikacin (6,83%), Cefoperazone/ sulbactam (6,80%)
Klebsiella spp đề kháng kháng sinh đối với
Meropenem (32%), Cefoperazone/sulbactam (21,21%), Netilmicin (18,91%), Amikacin (10,20%)
Tỷ lệ vi khuẩn Enterobacteriaceae sinh men
–lactamase phổ rộng là 31,33%, trong đó
Klebsiella spp chiếm tỷ lệ cao nhất Tỷ lệ E Coli, Klebsiella spp., Proteus spp và Enterobacter spp
sinh ESBL lần lượt là 45,63% (94/206 chủng E
coli), 28,48% (133/467 chủng Klebsiella spp.),
12,00% (5/52 chủng Proteus spp.), 9,62% (3/25 chủng Enterobacter spp.) Kháng sinh chọn lựa
cho vi khuẩn Enterobacteriaceae sinh ESBL là nhóm Carbapenema (hiện có tỷ lệ đề kháng khoảng 32%) Như vậy, cần duy trì chiến lược sử dụng kháng sinh thích hợp để giới hạn sự đề kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh Vi khuẩn
AmpC (+) ở nghiên cứu này chiếm 7,8% (có
Klebsiella spp., E.coli, Enterobacter spp lần lượt
chiếm 4,4%, 2,5% và 0,9%)
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Bộ Y tế Việt Nam (2012) Báo cáo sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại 15 Bệnh viện Việt Nam 2008-2009 Tr 1-37
2 Cao Minh Nga (2008) Sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh
thường gặp tại BV Thống nhất trong năm 2006 Y học TP HCM-
HN KHKT lần thứ 24 – Chuyên đề Nội khoa Tập 12 * Phụ bản của Số 1 * 2008 Tr: 194-200
3 Cao Minh Nga & Cs (2012) Sự kháng thuốc của các vi khuẩn gây bệnh thường gặp tại bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM
trong 6 tháng đầu năm 2011 Y học TP HCM - HN KHKT lần
thứ 29- Chuyên đề Nội khoa II Tập 16*Phụ bản của số 1*2011
Tr 215-225