1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật điều trị cường tuyến cận giáp trên bệnh nhân suy thận mạn và bước đầu xây dựng quy trình kết hợp điều trị nội, ngoại khoa tại Bệnh viện Chợ Rẫy

5 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 282,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều trị bệnh lý cường tuyến cận giáp thứ phát trên bệnh nhân suy thận mạn tính cần sự kết hợp cả điều trị nội khoa và ngoại khoa. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các kết quả sớm trong phẫu thuật cắt tuyến cận giáp trong điều trị cường tuyến cận giáp thứ phát trên bệnh nhân suy thận mạn (STM) tính tại Bệnh viện Chợ Rẫy.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ CƯỜNG TUYẾN CẬN GIÁP TRÊN BỆNH NHÂN SUY THẬN MẠN

VÀ BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG QUY TRÌNH KẾT HỢP ĐIỀU TRỊ

NỘI, NGOẠI KHOA TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Châu Phú Thi * , Trương Cao Nguyên * , Bùi Thị Hương Giang * , Lâm Xuân Nhật * , Lưu Hoài Nam * ,

Trần Minh Quân *

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Điều trị bệnh lý cường tuyến cận giáp thứ phát trên bệnh nhân suy thận mạn tính cần sự kết

hợp cả điều trị nội khoa và ngoại khoa Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các kết quả sớm trong phẫu thuật cắt tuyến cận giáp trong điều trị cường tuyến cận giáp thứ phát trên bệnh nhân suy thận mạn (STM) tính tại

Bệnh viện Chợ Rẫy

Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu từ 1/2016 đến 1/2019 tại bệnh viện Chợ Rẫy

Kết quả: Có 24 trường hợp cường tuyến cận giáp thứ phát trên bệnh nhân suy thận mạn tính được chỉ định

phẫu thuật cắt tuyến cận giáp, trong đó tỉ lệ nam: nữ là 3: 1, với độ tuổi trung bình là 39,5 ± 12,6 tuổi Tất cả các bệnh nhân bị STM giai đoạn cuối, 75% bệnh nhân STM trên 5 năm, 75% bệnh nhân điều trị bằng chạy thận nhân tạo Có 3 bệnh nhân có biến dạng xương (hội chứng Sagliker) chiếm 12,5% Các trường hợp được tiến hành phẫu thuật cắt ¾ hoặc 4/4 tuyến cận giáp, biến chứng sau phẫu thuật thường gặp tình trạng hạ can xi máu 33,3%, tụ dịch vết mổ 8,3%

Kết luận: Phẫu thuật cắt tuyến cận giáp trong điều trị cường tuyến cận giáp thứ phát trên bệnh nhân suy

thận mạn tính cho kết quả điều trị tốt, ít biến chứng

Từ khóa: cường tuyến cận giáp thứ phát, hạ can xi máu, biến dạng xương, suy thận mạn

ABSTRACT

RESEARCH CLINICAL CHARACTERS AND EVALUATE EARLY RESULT OF

PARATHYROIDECTOMY FOR RENAL HYPERPARATHYROIDISM

Chau Phu Thi, Truong Cao Nguyen, Bui Thi Huong Giang, Lam Xuan Nhat, Luu Hoai Nam,

Tran Minh Quan

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3 - 2019: 286 - 290

Objectives: Treatment of renal hyperparathyroidism requires the combination of both medical treatment and

surgical treatment Therefore, we begin a study on early results in parathyroidectomy for renal hyperparathyroidism in Cho Ray Hospital

Method: Retrospective study from 01/ 2016 to 01/ 2019 at Cho Ray Hospital

Results: There are 24 cases parathyroidectomy, in which the ratio of male: female is 3: 1, average age is

39.5±12.6 Most of the speciality clinical such as end-stage renal disease, 75% over 5 years, 75% dialysis There are 3 cases (12.5%) of Sagliker syndrome The patient was operated parathyroidectomy (3/4 or 4/4 glands) and had 33.3% postoperative hypocalcemia

Conclusions: Parathyroidectomy in treating renal hyperparathyroidism is good and less complications

*Khoa Ngoại Lồng ngực, BV Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: TS.BS Châu Phú Thi ĐT: 0978097286 Email: chauphuthibvcr05@gmail.com

Trang 2

Keywords: secondary hyperparathyroidism, renal hyperparathyroidism, hypocalcaemia, skeletal deformities,

chronic renal failure

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cường tuyến cận giáp (CTCG) thứ phát là

tình trạng gia tăng nồng độ PTH, do giảm

nồng độ canxi trong huyết tương gây tăng

hoạt động tuyến cận giáp Đặc biệt trên bệnh

nhân suy thận mạn có lọc máu, tình trạng

CTCG thứ phát xảy ra trên 51%

Điều trị bệnh lý cường tuyến cận giáp thứ

phát trên bệnh nhân suy thận mạn (STM) cần sự

kết hợp cả điều trị nội khoa và ngoại khoa Từ

nhiều năm trước đây, chúng tôi đã có phẫu thuật

cắt tuyến cận giáp chỉ để cho các bệnh nhân

cường cận giáp nguyên phát có các biểu hiện

loãng xương hoặc có các biến chứng như gãy

xương tự nhiên… Đến năm 2017, chúng tôi đã

phẫu thuật cho 02 bệnh nhân cường tuyến cận

giáp có suy thận mạn và có các biểu hiện của hội

chứng Saligker Trên cơ sở đó, khoa phẫu thuật

lồng ngực của chúng tôi đã có những trao đổi

với các đồng nghiệp của khoa Nội Thận và khoa

Thận Nhân Tạo Bệnh viện Chợ Rẫy, phát hiện

thêm những bệnh nhân cường tuyến cận giáp

thứ phát trên suy thận mạn tính

Chúng tôi đang thực hiện quy trình phối

hợp: với các phương pháp điều trị nội khoa với

mục đích làm tăng nồng độ canxi bằng chất

tương tự vitamin D, bổ sung canxi hoặc giảm

nồng độ phosphat bằng chất kết phosphate và

calcimimetics Kết hợp phương pháp điều trị

ngoại khoa nhằm mục đích cắt bỏ tuyến cận

giáp, tránh gây biến chứng lên xương khớp và

đã có những kết quả đáng khích lệ(1,7,10)

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đánh giá kết quả sớm trong phẫu thuật cắt

tuyến cận giáp trong điều trị cường tuyến cận

giáp thứ phát trên bệnh nhân suy thận mạn và

bước đầu xây dựng quy trình kết hợp điều trị

nội, ngoại khoa tại bệnh viện chúng tôi

Mục tiêu

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm

sàng cường tuyến cận giáp tứ phát trên bệnh

nhân suy thận mạn tính

Đánh giá kết quả sớm trong phẫu thuật cắt tuyến cận giáp

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu, mô tả loạt ca

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân đang điều trị tại khoa thận nhân tạo và khoa nội thận Bệnh viện Chợ Rẫy

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Các trường hợp cường tuyến cận giáp thứ phát trên bệnh nhân suy thận mạn được chẩn đoán và được phẫu thuật Có tái khám đánh giá lại các chỉ số theo dõi (nông độ canxi, PTH, biến chứng) trong vòng 1 tháng sau mổ

Tiêu chuẩn loại trừ

Những trường hợp cắt tuyến cận giáp không

do cường tuyến cận giáp thứ phát có suy thận mạn tính Hoặc không tái khám sau phẫu thuật

Thời gian, địa điểm

Nghiên cứu tiến hành từ tháng 1/2016 đến 12/2018 tại khoa Ngoại Lồng Ngực Bệnh viện Chợ Rẫy

KẾT QUẢ

Trong thời gian nghiên cứu tiến hành tại bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 1/2016 đến tháng 12/2018, có 24 trường hợp được chẩn đoán cường tuyến cận giáp thứ phát trên bệnh nhân suy thận mạn và được chỉ định phẫu thuật cắt tuyến cận giáp tại khoa Ngoại Lồng ngực và theo dõi trong 1 tháng sau phẫu thuật

Đặc điểm chung

Tỉ lệ nam: nữ là 3: 1

Tuổi trung bình: 39,5 ± 12,6

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng số lượng tỉ lệ

Biến dạng nhiều xương

Trang 3

Giai đoạn (GĐ) STM số lượng tỉ lệ

Thời gian ĐT thay thế thận số lượng tỉ lệ

ĐT thay thế thận số lượng tỉ lệ

Bảng2: Đặc điểm sinh hóa máu và mật độ xương

Canxi máu

(mmol/l) (2,2-2,6)

STM GĐ 5:

(2,1-2,3)

PTH (pg/ml) (10-65) STM GĐ 5:

(150-300)

Phospho (mg/dl) (3,7-4,3)

Độ loãng xương (T- score) (<-2,5)

Bảng3: Đặc điểm siêu âm và xạ hình tuyến cận giáp

Chẩn đoán xác định

Tỷ lệ

Bảng 4: Kết quả phẫu thuật

Cắt 3 tuyến Cắt 4 tuyến Thời gian

Bảng 5: Cận lâm sàng sau mổ

Canxi mmol/l (2,1-2,3) PTH pg/ml (150-300)

Bảng 6: Biến chứng sau phẫu thuật

Biến chứng số lượng tỷ lệ

Bảng 7: Đánh giá kết quả phẫu thuật

số lượng tỷ lệ

Có biến chứng hoặc không đạt mục

BÀN LUẬN

Qua nghiên cứu 24 trường hợp phẫu thuật

cắt tuyến cận giáp trong điều trị cường tuyến

cận giáp thứ phát trên bệnh nhân suy thận mạn

tính, chúng tôi thấy trong nhóm nghiên cứu

phần lớn bệnh nhân đang ở lứa tuổi trung niên

với độ tuổi trung bình là 39,5 ± 12,6 tuổi, trong

đó nam giới có tỉ lệ bệnh nhiều hơn nữ giới (tỉ lệ

nam: nữ là 3:1)

Có thể lý giải cho điều này là do trong suy thận mạn, giới nam thường bị hơn nữ, như trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Cường(6), tỷ

lệ nam: nữ là 1,4:1, hay trong nghiên cứu của Geoffrey 5, nữ giới chiếm 46%

Tuổi trung bình của nghiên cứu chúng tôi khá tương đồng với các tác giả khác như Skalli

42 ± 13 tuổi(9), Nguyễn Duy Cường 46 ± 14,7 tuổi Tất cả bệnh nhân đến với chúng tôi là suy thận mạn giai đoạn 5, đã có điều trị thay thế thận, 75% chạy thận nhân tạo, 75% trên 5 năm, tuy nhiên sự khác biệt về thời gian và phương pháp điều trị thay thế thận không có ý nghĩa thông kê (p=0,51) So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Duy Cường, ghi nhận trong nhóm bệnh lọc máu trên 5 năm có 51,4%, và nhóm lọc máu dưới 5 năm không có trường hợp nào, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p<0,05 Như vậy người bệnh lọc máu trên 5 năm có nguy cơ CTCG thứ phát, đây sẽ là một yếu tố tiên lượng để bác sỹ lâm sàng giúp tầm soát và quản lý bệnh lý CTCG tốt hơn

Trong Bảng 1, nghiên cứu về các đặc điểm

lâm sàng, chúng tôi có tới 12,5% trường hợp bệnh nhân có tình trạng biến dạng xương, trong

đó có 03 trường hợp có biểu hiện của hội chứng Saligker, đây cũng là một vấn đề cần lưu ý trong việc phát hiện và chẩn đoán sớm cho bệnh nhân Cho thấy việc cần thiết có sự kết hợp sớm của điều trị nội khoa và ngoại khoa cho bệnh nhân, để nhằm giảm hoặc ngăn chặn tình trạng biến dạng xương trên các bệnh nhân cường tuyến cận giáp có suy thận mạn tính

Trong Bảng 2, kết quả nghiên cứu của chúng

tôi cho thấy tất cả các bệnh nhân đều có các chỉ

số phù hợp với chẩn đoán và chỉ định phẫu thuật cường tuyến cận giáp thứ phát, bao gồm tăng PTH (1412±150 pg/ml), giảm canxi máu (2,02±0,28 mmol/ml), tăng phospho máu (6,5±0,8mg/dl) và 100% (5 bệnh nhân) có đo mật

độ xương bị loãng xương(2,5)

So sánh với các tác giả khác nhận thấy các

Trang 4

chỉ số này có xu hướng diễn tiến xấu hơn so với

các tác giả khác như Bảng 8

Bảng 8: So sánh với các tác giả khác

Để chuẩn bị cho phẫu thuật, chúng tôi có sử

dụng siêu âm và xạ hình tuyến cận giáp để xác

định tuyến cận giáp cần cắt bỏ, kết quả cho thấy

xạ hình tuyến cận giáp có khả năng chẩn đoán

tốt hơn, giúp phẫu thuật viên xác định tuyến cận

giẫu cắt bỏ nhanh, giảm thời gian phẫu thuật

Sau phẫu thuật, tất cả các trường hợp đều có

các chỉ số PTH Trong đó phần lớn PTH giảm về

ngưỡng yêu cầu (79,2%), có 3 trường hợp

(12,5%) chỉ số PTH giảm thấp do bệnh nhân có

hội chứng Sagliker, theo khuyến cáo của nhiều

tác giả, chúng tôi cắt bỏ 4/4 tuyến cận giáp(8) Có

2 trường hợp (8,3%) còn tăng PTH trên

300pg/ml, nhưng dưới ngưỡng chỉ định phẫu

thuật nên chúng tôi quyết định theo dõi tiếp tục

kết hợp điều trị nội khoa Vì vậy chúng tôi nhận

thấy có 91,7% bệnh nhân đạt hiệu quả sau phẫu

thuật So sánh với các tác giả khác nhận thấy tỷ

lệ bệnh nhân đạt hiệu quả khá tương đồng như

Mihai(4) 97%, Skalli 95%(9), Gagne 85%(2)

Chỉ số can xi máu đạt mục tiêu điều trị

(2,1-2,3 mmol/l) là 66,7%, nồng độ canxi máu giảm

dưới ngưỡng yêu cầu chiếm 33,3%, nhưng

không có triệu chứng hạ canxi máu nên có thể

xuất viện Đối với các nghiên cứu khác cũng có

ghi nhận tương tự: Skalli 87%(9), Gagne 70%(2)

Như vậy qua Bảng 6, sau phẫu thuật chúng

tôi chỉ gặp 2 trường hợp bị tụ dịch vết mổ (8,3%)

có thể do trên bệnh nhân suy thận mạn, có tình

trạng dư nước trong mô kẽ nên dễ bị tụ dịch

hơn Các nghiên cứu của tác giả khác không ghi

nhân biến chứng sau phẫu thuật(7,9)

Từ những kết quả đạt được, chúng tôi đang

tiếp tục cùng nhau hợp tác để điều trị bệnh lý

cường tuyến cận giáp trên các bệnh nhân suy

thận mạn tính ngày càng tốt và sớm hơn

Các bác sĩ khoa thận nhân tạo cũng như

khoa nội thận bệnh viện chúng tôi cũng đã có những đánh giá sớm cho các bệnh nhân thông qua các xét nghiệm cận lâm sàng ở những bệnh nhân có các tình trạng như đau nhức xương, biến dạng xương, đặc biệt những trường hợp chạy thận hay thẩm phân phúc mạc trên 5 năm Chúng tôi đã cùng nhau hội chẩn và xét chỉ định phẫu thuật cho các bệnh nhân không đáp ứng với các điều trị nội khoa, nhằm giải quyết sớm và ngăn chặn những trường hợp gây ra biến dạng xương nặng nề

Từ đầu năm 2019 đến nay, chúng tôi đang tiếp tục cho nhiều bệnh nhân hơn, có khoảng gần 20 bệnh nhân nữa đã được chỉ định phẫu thuật, không có trường hợp nào có tình trạng biến dạng xương nặng như 02 trường hợp có hội chứng Saligker trong báo cáo năm 2017 Từ đó cho thấy, quy trình có thể áp dụng thực tiễn lâm sàng và cần có những đóng góp ý kiến của những bác sĩ nội khoa cũng như ngoại khoa cho quy trình chúng tôi càng chi tiết và chặt chẽ hơn

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 24 trường hợp phẫu thuật cắt tuyến cận giáp trong điều trị cường tuyến cận giáp thứ phát trên bệnh nhân suy thận mạn, tại khoa Ngoại Lồng ngực bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi nhận thấy bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn 5, khi có chỉ định phẫu thuật đã có tình trạng cường tuyến cận giáp lâu năm, có biến chứng trên xương (loãng xương, biến dạng xương), chuyển hoá canxi, phospho bị rối loạn, cần kết hợp điều trị cả nội khoa và ngoại khoa Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, các biến chứng ngoại khoa gần như không đáng kể trong phẫu thuật cắt tuyến cận giáp, bên cạnh đó phẫu thuật cắt tuyến cận giáp cũng không là phẫu thuật quá phức tạp hay khó khăn về mặt ngoại khoa Vì thế, chúng tôi, những người phẫu thuật viên, nhận thấy cần có sự kết hợp tốt trong điều trị nội khoa và ngoại khoa, đặc biệt xây dựng một quy trình hoàn thiện cho các trường hợp cường cận giáp trên bệnh nhân suy thận mạn, phẫu thuật cắt tuyến cận giáp cũng là một trong

Trang 5

những phương pháp điều trị có thể mang lại

nhiều kết quả khả quan hơn cho bệnh nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đặng Thị Việt Hà (2016) "Nghiên cứu tình trạng cường cận

giáp thứ phát ở bệnh nhân suy thận mạn chưa điều trị thay thế"

Y học Việt Nam, 44:80-81

2 Gagne M (1991) "Subtotal parathyroidectomy versus total

parathyroidectomy and autotransplantation in secondary

hyperparathyroidism: a randomized trial" World journal of

surgery, 15:745-750

3 Kerstin T (2014) "Reoperative Parathyroid Surgery" in Thyroid

and parathyroid diseases Thieme medical publisher, pp.235-240

4 Mihai R, et al (2014) "Surgical management of

hyperparathyroidism" Surgery, pp.548-551

5 National Kidney Foundation (2003) K/DOQI clinical practice

guidelines for bone metabolism and disease in chronic kidney

disease Am J Kidney Dis; 42(4 Suppl 3):S1-201

6 Nguyễn Duy Cường (2014) "Nghiên Cứu Tình Trạng Cường

Cận Giáp Thứ Phát Bệnh Nhân Thận Nhân Tạo Tại Bệnh Viện

Đa Khoa Tỉnh Thái Bình" Y Học Thực Hành, 4:19-21

7 Nguyễn Thị Huyền (2009) "Nghiên cứu tình trạng cường cận giáp trạng thứ phát và tìm hiểu một số yếu tố liên quan ở bệnh

nhân suy thận mạn chưa điều trị thay thế" Y học lâm sàng,

pp.37-41

8 Sagliker Y (2008) "International study on Sagliker syndrome and uglifying human face appearance in severe and late secondary hyperparathyroidism in chronic kidney disease

patients" J Ren Nutr, 18:114-7

9 Skalli Z (2015) "Kinetics of parathyroid hormone after

parathyroidectomy in chronic hemodialysis patients" Saudi J

Kidney Dis Transpl, 16:1199-204

10 Trần Ngọc Lương (2016) "Bước đầu đánh giá kết quả phẫu thuật cắt gần hoàn toàn tuyến cận giáp điều trị cường cận giáp

thứ phát do suy thận mạn" Y học Quân sự, pp.149-154

Ngày nhận bài báo: 01/04/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/05/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/06/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 13:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w