1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Áp dụng cơ sở dữ liệu sử dụng thuốc trong xây dựng cơ số dự trù tại Bệnh viện Hùng Vương thành phố Hồ Chí Minh

7 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 452,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện nhằm thử nghiệm việc áp dụng cơ sở dữ liệu sử dụng thuốc của Bệnh viện Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh trong việc xây dựng cơ số dự trù cho thuốc sử dụng tại Bệnh viện.

Trang 1

ÁP DỤNG CƠ SỞ DỮ LIỆU SỬ DỤNG THUỐC TRONG XÂY DỰNG CƠ SỐ DỰ TRÙ TẠI BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Lê Phương Thảo * , Cù Thanh Tuyền ** , Huỳnh Thị Ngọc Hạnh * , Hoàng Thy Nhạc Vũ **

TÓM TẮT

Mở đầu: Xây dựng cơ số dự trù thuốc là một trong những hoạt động thường niên của Khoa Dược bệnh

viện nhằm đảm bảo việc cung ứng thuốc đầy đủ và kịp thời cho người bệnh trong điều trị

Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm thử nghiệm việc áp dụng cơ sở dữ liệu sử dụng thuốc của Bệnh

viện Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh trong việc xây dựng cơ số dự trù cho thuốc sử dụng tại Bệnh viện

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Các thuốc được xem là tối cần, sử dụng nhiều và liên tục trong

giai đoạn 2012 – 2018 tại Bệnh viện Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh trong điều trị nội trú sẽ được chọn phân tích Phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian được sử dụng để phân tích và xây dựng cơ số dự trù cho các thuốc được lựa chọn ưu tiên Việc so sánh kết quả dự trù thuốc từ nghiên cứu với số lượng thuốc được dự trù theo phương pháp thường quy của Bệnh viện sẽ được thực hiện để đánh giá kết quả của việc dự trù bằng phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian

Kết quả: Trong 206 loại thuốc được sử dụng trong điều trị nội trú tại Bệnh viện Hùng Vương Thành phố

Hồ Chí Minh năm 2018, có 70,4% thuốc được sử dụng liên tục từ năm 2012; 38,8% thuốc thuộc nhóm tối cần; 61,9% thuốc sử dụng theo đường tiêm Nghiên cứu ghi nhận kết quả dự trù từ nghiên cứu có độ chính xác cao hơn so với kết quả dự trù của Bệnh viện (chênh lệch trung bình so với sử dụng thực tế là 28,0% so với 97,4%) Đặc biệt, có 3 thuốc thực tế được dự trù thiếu và 2 thuốc được dự trù dư quá 250% so với nhu cầu điều trị có thể được điều chỉnh hợp lý hơn nhờ cơ số dự đoán từ mô hình

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy việc áp dụng cơ sở dữ liệu sử dụng thuốc để xây dựng cơ số dự trù bằng

phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian cho phép tăng độ chính xác trong việc thực hiện dự trù, qua đó giúp Bệnh viện có thể mua sắm thuốc với số lượng phù hợp nhất với nhu cầu thực tế

Từ khoá: sử dụng thuốc, dự trù thuốc, phân tích dữ liệu theo thời gian

ABSTRACT

APPLICATION OF DRUG USE DATABASE IN DRUG QUANTIFICATION AT HUNG VUONG

HOSPITAL IN HO CHI MINH CITY

Le Phuong Thao, Cu Thanh Tuyen, Huynh Thi Ngoc Hanh, Hoang Thy Nhac Vu

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3- 2019: 322-328

Background: Quantification of drugs in a hospital is the process which is done once a year at the pharmacy

department to ensure that there is enough stock to meet demands of patients

Objectives: The study aimed to test the application of the drug utilization database at Hung Vuong Hospital

in Ho Chi Minh City for calculating the quantities of drugs used at the Hospital

Methods: Drugs which were vital and used commonly and continuously in the period 2012 – 2018 at Hung

Vuong Hospital in Ho Chi Minh City for inpatient treatment were selected for analysis The Time Series Analysis

* Bệnh viện Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh ** Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

method was performed to calculate the estimated quantities for 10 drugs which were more prioritized in the quantification Estimated results from The Time Series Analysis method and from the conventional method at Hung Vuong Hospital in Ho Chi Minh City were respectively compared to the real drug consumption in order to evaluate the accuracy of these two quantification methods

Results: There were 206 drugs were used at Hung Vuong Hospital in Ho Chi Minh City in 2018 Of which,

70.4% had been used continuously since 2012; 38.8% belonged to the vital group; 61.9% were injecting drugs The estimated quantities from the study were more accurate than the estimated quantities obtained from the conventional method at Hung Vuong Hospital in Ho Chi Minh City (average difference compared to actual use was 28.0% compared to 97.4%) In particular, there are 3 drugs underestimated and 2 drugs are overestimated by 250% compared to the need for treatment that can be adjusted more appropriately by the estimated quantities of the model

Conclusion: This study demonstrated that the application of the drug utilization database for calculating the

quantities of drugs used at the Hospital by the Time Series Analysis method enhanced the accuracy in the drug quantifications, which enables the Hung Vuong Hospital in Ho Chi Minh City to purchase drugs with the most suitable quantity to meet the real needs of patients

Keywords: drug utilization, drug quantification, time series analysis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xây dựng cơ số dự trù thuốc là một trong

những hoạt động thường niên của Khoa Dược

bệnh viện nhằm đảm bảo việc cung ứng thuốc

đầy đủ và kịp thời cho người bệnh trong điều

trị(1) Ngoài ra, theo Nghị định số 85/2012/NĐ-CP

của Chính phủ về cơ chế hoạt động, cơ chế tài

chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công

lập(4), hiện nay nhiều bệnh viện trên cả nước đã

và đang thực hiện lộ trình tiến đến tự chủ tài

chính Do đó, việc sử dụng ngân sách bệnh viện

sao cho hợp lý trong giai đoạn này có thể xem là

một yêu cầu bắt buộc

Bệnh viện Hùng Vương TP Hồ Chí Minh là

bệnh viện chuyên ngành sản phụ khoa hạng 1

tuyến trung ương, với quy mô 900 giường bệnh,

trong đó có 100 giường sơ sinh Hàng năm, Bệnh

viện phải dành một phần lớn ngân sách cho việc

mua sắm thuốc Nhiệm vụ đặt ra cho Khoa

Dược trong tình hình này là phải đảm bảo cung

ứng thuốc kịp thời, đầy đủ, và đặt biệt là thuốc

cần được mua sắm với số lượng hợp lý nhất Để

làm được điều đó, trước tiên phải đảm bảo được

tính chuẩn xác của cơ số thuốc khi tiến hành dự

trù Hiện nay, hoạt động dự trù thuốc tại Bệnh

viện còn thực hiện theo phương pháp thủ công,

mang tính chủ quan, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Vì vậy, việc thiếu thuốc hoặc thừa thuốc vẫn xảy ra trong quá trình cung ứng thuốc Phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian là một phương pháp đã được ứng dụng trong lĩnh vực y tế tại nhiều nơi trên thế giới, nhằm xác định xu hướng thay đổi của một số bệnh(9), của chi phí điều trị bệnh, cũng như xác định xu hướng thay đổi của chi phí thuốc(6) Phương pháp này được áp dụng với những dữ liệu có tính liên tục, có tính phụ thuộc lẫn nhau,

và có tính lặp lại theo một chu kỳ về thời gian, vì vậy rất phù hợp để ứng dụng phân tích dữ liệu liên quan đến lượng thuốc mà bệnh viện sử dụng hàng năm Tại Việt Nam, phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian đã bước đầu được ứng dụng tại một số bệnh viện cho hoạt động dự trù và mua sắm thuốc(5,7,8) Kết quả từ các nghiên cứu trước cho thấy việc ứng dụng phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian chỉ thuận lợi khi bệnh viện có cơ sở dữ liệu chuyên biệt theo yêu cầu của phân tích

Với cơ sở dữ liệu vừa được xây dựng cho các thuốc trong điều trị nội trú tại Bệnh viện Hùng Vương TP Hồ Chí Minh, nghiên cứu được thực hiện nhằm thử nghiệm việc áp dụng cơ sở dữ

Trang 3

liệu sử dụng thuốc trong việc xây dựng cơ số dự

trù cho thuốc sử dụng tại Bệnh viện

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu phân tích, được thực hiện dựa

vào việc khai thác cơ sở dữ liệu sử dụng thuốc

trong điều trị nội trú của Bệnh viện Hùng

Vương TP Hồ Chí Minh để phục vụ cho hoạt

động dự trù thuốc tại Bệnh viện Từ danh mục

thuốc sử dụng năm 2018, dữ liệu của các thuốc

sử dụng trong điều trị nội trú sẽ được tổng

hợp cho giai đoạn 2012 – 2018

Các phân tích sơ bộ sẽ giúp đánh giá tình

hình sử dụng của các thuốc này để xác định ra

10 thuốc tối cần, sử dụng nhiều và liên tục

Đây là các thuốc dùng trong các trường hợp

cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết

phải có để phục vụ công tác khám chữa bệnh

của bệnh viện(2), được sử dụng liên tục trong 7

năm với cơ số thuốc sử dụng nhiều nhất Các

thuốc này sẽ được lựa chọn cho các phân tích

chuyên sâu theo phương pháp phân tích dữ

liệu theo thời gian và xây dựng cơ số dự trù

Việc so sánh kết quả dự trù thuốc từ nghiên

cứu bằng phương pháp phân tích dữ liệu theo

thời gian với số lượng thuốc dự trù theo

phương pháp thường quy của Bệnh viện sẽ

được thực hiện để dự đoán lượng thuốc cần

thiết và đánh giá độ chính xác của kết quả

phân tích thông qua chênh lệch so với dữ liệu

sử dụng thực tế theo từng thuốc tại Bệnh viện

Xử lý thống kê

Tình hình sử dụng thuốc được mô tả thông

qua các tiêu chí phân loại VEN, dạng dùng và

nhóm điều trị(3) theo số lượng loại thuốc và tỉ lệ

cơ số thuốc sử dụng Sau khi xác định được 10

thuốc tối cần, được sử dụng nhiều và liên tục

trong giai đoạn 2012 – 2018, dữ liệu sử dụng giai

đoạn 2012 – 2017 tương ứng được thu thập theo

từng tháng và phân tích để thu được số liệu dự

trù năm 2018 bằng phương pháp phân tích dữ

liệu theo thời gian

Dữ liệu được mô tả theo tần số, tỉ lệ phần trăm và giá trị trung bình về số lượng mua sắm

và sử dụng của các thuốc, với phần mềm thống

kê R (phiên bản 3.0.2)

KẾT QUẢ

Tình hình sử dụng thuốc điều trị nội trú trong giai đoạn 2012 – 2018 của các thuốc có trong danh mục năm 2018

Trong 206 loại thuốc được sử dụng trong điều trị nội trú tại Bệnh viện Hùng Vương TP

Hồ Chí Minh năm 2018, có 145 thuốc (70,4%) được sử dụng liên tục từ năm 2012 Các nhóm

V, E, N chiếm tỉ lệ lần lượt là 38,8%; 51,9% và 9,2% so với tổng lượng thuốc điều trị nội viện năm 2018, với xu hướng sử dụng giữa các nhóm tương đối ổn định giữa các năm Hai dạng dùng phổ biến là thuốc đường tiêm (143 thuốc; 69,4%) và thuốc đường uống (42 thuốc; 20,4%), tỉ lệ này không thay đổi nhiều trong giai đoạn 2012 – 2018

Dựa theo tác dụng dược lý, nhóm điều trị có

số lượng thuốc sử dụng trong điều trị nội viện nhiều nhất là nhóm trị ký sinh trùng - chống nhiễm khuẩn (32 thuốc; 15,5%) với xu hướng sử dụng giảm dần trong giai đoạn nghiên cứu; tiếp sau đó là nhóm dung dịch điều chỉnh nước, điện giải và dung dịch tiêm truyền (10,7%) và nhóm thuốc gây tê, mê (9,7%), cả hai nhóm này đều được ghi nhận có xu hướng tăng dần trong

những năm gần đây (Hình 1 và Bảng 1)

Hoạt động dự trù và sử dụng 10 loại thuốc tối cần, dùng nhiều và liên tục giai đoạn 2012–2018

Trong 10 thuốc ưu tiên lựa chọn cho phân tích chuyên sâu, có 9 thuốc dạng tiêm, thuộc 4 nhóm điều trị có cơ số sử dụng nhiều tại Bệnh viện So sánh số lượng thuốc được dự trù bằng phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian với việc dự trù theo phương pháp thường quy, nghiên cứu ghi nhận kết quả dự trù từ nghiên cứu có độ chính xác cao hơn so với kết quả dự trù của Bệnh viện (chênh lệch trung bình so với

sử dụng thực tế là 28,0% so với 97,4%) (Bảng 2)

Trang 4

Bảng 1 Tình hình sử dụng của các thuốc trong điều trị nội trú có trong danh mục thuốc năm 2018 tại Bệnh viện

Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2012 – 2018

Tiêu chí mô tả

Số lượng

loại thuốc

Tổng cơ số thuốc sử dụng

giai đoạn 2012 – 2018 N=206 (%) N=14.720.388 (%)

Phân loại

VEN

Dạng

dùng

Nhóm

điều trị

Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải và dung dịch tiêm truyền 22 (10,7) 2.552.713 (17,3)

Thuốc giảm đau - hạ sốt - chống viêm không steroid 9 (4,4) 1.390.168 (9,4)

Thuốc tác dụng thúc đẻ, cầm máu sau đẻ, chống đẻ non 8 (3,9) 3.022.541 (20,5)

Bảng 2 So sánh kết quả dự trù thuốc từ nghiên cứu với kết quả dự trù và lượng thuốc sử dụng trong thực tế

của 10 thuốc tối cần, được sử dụng nhiều và liên tục trong giai đoạn 2012 – 2018 tại Bệnh viện Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh

Stt Thuốc Nhóm điều trị

Cơ số sử dụng thực tế năm 2018

Kết quả dự trù cho năm 2018 bằng phương pháp thường quy của Bệnh viện

Chênh lệch giữa kết quả dự trù thuốc của Bệnh viện so với lượng

sử dụng thực tế

Cơ số dự báo từ nghiên cứu

Chênh lệch giữa cơ số

dự báo từ nghiên cứu

so với sử dụng thực tế

1 Ống tiêm Oxytocin 5UI/1ml Thuốc tác dụng

thúc đẻ, cầm máu sau đẻ, chống đẻ non

2 Viên uống Misoprostol

3 Chai tiêm truyền Ringer

lactat 500ml

Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải và dung dịch tiêm truyền

4 Ống Magnesi sulfat

5 Chai tiêm truyền Glucose

6 Chai tiêm truyền Natri clorid

Trang 5

Stt Thuốc Nhóm điều trị

Cơ số sử dụng thực tế năm 2018

Kết quả dự trù cho năm 2018 bằng phương pháp thường quy của Bệnh viện

Chênh lệch giữa kết quả dự trù thuốc của Bệnh viện so với lượng

sử dụng thực tế

Cơ số dự báo từ nghiên cứu

Chênh lệch giữa cơ số

dự báo từ nghiên cứu

so với sử dụng thực tế

7 Chai tiêm truyền Natri clorid

8 Lọ tiêm Ampicilin +

Sulbactam 1g + 0,5g

Thuốc trị ký sinh trùng -chống nhiễm khuẩn

10 Ống tiêm Fentanyl

0,1mg/2ml

Thuốc gây tê,

Hình 1 Xu hướng sử dụng của các thuốc trong điều trị nội trú có trong danh mục thuốc 2018 tại Bệnh viện

Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2012 – 2018 theo phân loại VEN, dạng dùng và nhóm

điều trị

Trang 6

BÀN LUẬN

Nghiên cứu đã áp dụng cơ sở dữ liệu sử

dụng thuốc của Bệnh viện Hùng Vương TP Hồ

Chí Minh để xác định được đặc điểm sử dụng

của các thuốc trong danh mục thuốc điều trị nội

viện năm 2018, đồng thời đã cho thấy khả năng

ứng dụng của cơ sở dữ liệu trong hoạt động dự

trù thuốc tại Bệnh viện

Với đặc điểm là một bệnh viện chuyên khoa,

trong đó thuốc sử dụng có tính ổn định cao hơn

so với việc sử dụng thuốc tại các bệnh viện đa

khoa, dữ liệu sử dụng thuốc tại Bệnh viện Hùng

Vương TP Hồ Chí Minh tương đối tương thích

với yêu cầu áp dụng của phương pháp phân tích

dữ liệu theo thời gian, thuận lợi cho việc thực

hiện phân tích chuyên sâu trong nghiên cứu này

Nghiên cứu ưu tiên chọn các thuốc điều trị

nội viện và các thuốc thông dụng để phân tích

và đánh giá, nhằm tăng tính ứng dụng của các

kết quả thu được từ nghiên cứu Đặc điểm sử

dụng của các thuốc trong nghiên cứu này có

những nét đặc trưng của thuốc dùng trong điều

trị nội trú Cụ thể, các thuốc nhóm V và E chiếm

tỉ lệ sử dụng đáng kể, và nhóm thuốc không

thiết yếu N chỉ chiếm tỉ lệ rất thấp với 9,2% số

lượng thuốc trong danh mục, chiếm 2,4% về cơ

số thuốc sử dụng trong giai đoạn 2012 – 2018

Kết quả này cho thấy hoạt động mua sắm và sử

dụng thuốc trong điều trị nội trú tại Bệnh viện

phù hợp với quy định của Bộ Y tế(2) Các nhóm

thuốc gồm dung dịch điều chỉnh nước – điện

giải, thuốc chống nhiễm khuẩn và các thuốc gây

tê, mê chiếm tỉ lệ sử dụng cao nhất, phù hợp với

các hoạt động điều trị của chuyên khoa phụ sản

tại Bệnh viện Các thuốc tối cần, được sử dụng

nhiều và liên tục trong giai đoạn 2012 – 2018

phần lớn đều thuộc các nhóm điều trị này

Quá trình so sánh cơ số dự trù và sử dụng

thuốc cho các thuốc tối cần, dùng nhiều và liên

tục trong giai đoạn 2012 – 2018 cho thấy phần

lớn các thuốc được mua sắm chưa sát với nhu

cầu thực tế, trong đó có 2 trường hợp dự trù dư

hơn 250% với nhu cầu điều trị Kết quả dự trù

bằng phương pháp phân tích dữ liệu theo thời

gian có độ chính xác cao hơn, giúp khẳng định

độ tin cậy và tính ứng dụng của phương pháp này trong hoạt động dự trù và mua sắm thuốc của Bệnh viện Kết quả dự báo từ mô hình này cũng cho thấy hiệu quả tích cực trong một nghiên cứu tương tự tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre(5) Như vậy, việc áp dụng dữ liệu sử dụng thuốc trong một giai đoạn dài có thể giúp Bệnh viện điều chỉnh được số lượng thuốc mua sắm trong những năm tiếp theo để phù hợp nhất với nhu cầu thực tế, giúp giảm cơ

số tồn kho, đảm bảo sử dụng nguồn ngân sách thuốc hợp lý và cung ứng thuốc kịp thời đầy đủ cho người bệnh

Để có thể ứng dụng được phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian, chất lượng của

cơ sở dữ liệu là yếu tố rất quan trọng Nhờ vào

cơ sở dữ liệu vừa được xây dựng theo các yêu cầu đặc trưng cho việc ứng dụng phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian, cụ thể là thuốc được tổng hợp theo hoạt chất, hàm lượng, dạng dùng với cơ số sử dụng được tổng hợp theo từng tháng, mà việc thực hiện nghiên cứu tương đối thuận lợi và nhanh chóng, giúp thông tin được tổng hợp đầy đủ, chính xác, đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu ưu tiên lựa chọn các thuốc sử dụng liên tục và thông dụng trong điều trị nội trú để đảm bảo tính phù hợp của dữ liệu khi ứng dụng phân tích theo dữ liệu theo thời gian Việc sử dụng thuốc trong điều trị nội trú tại bệnh viện chuyên khoa tương đối ổn định, không bị tác động nhiều bởi thực trạng dịch chuyển cơ cấu bệnh tật do thông tuyến bảo hiểm như trường hợp của các bệnh viện đa khoa trong thời điểm hiện tại Vì vậy kết quả có độ tin cậy

và có tính ứng dụng cao cho hoạt động dự trù của bệnh viện

Nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc phân tích cơ

số thuốc sử dụng của một vài thuốc tiêu biểu để bước đầu minh hoạ tính ứng dụng của phương pháp phân tích dữ liệu theo thời gian Việc phân tích đồng thời cơ số và chi phí sử dụng thuốc cho từng thuốc theo các nhóm cụ thể như biệt

Trang 7

dược gốc, nhóm thuốc cần thiết, nhóm thuốc

điều trị theo các chuyên khoa, hoặc xét đến các

yếu tố tác động khác như hạn sử dụng thuốc hay

tính sẵn có của thuốc trên thị trường là sẽ các

hướng nghiên cứu tiếp theo để mở rộng tính

ứng dụng của phương pháp phân tích dữ liệu

theo thời gian trong hoạt động mua sắm thuốc

tại các bệnh viện

KẾT LUẬN

Đây là một trong những nghiên cứu thí điểm

ứng dụng phương pháp phân tích dữ liệu theo

thời gian cho dữ liệu sử dụng thuốc tại các bệnh

viện tại Việt Nam Nghiên cứu cho thấy việc áp

dụng cơ sở dữ liệu sử dụng thuốc để xây dựng

cơ số dự trù bằng phương pháp phân tích dữ

liệu theo thời gian có thể giúp tăng độ chính xác

trong việc thực hiện dự trù, qua đó cho phép

bệnh viện có thể mua sắm thuốc với số lượng

phù hợp nhất với nhu cầu thực tế Kết quả thu

được từ nghiên cứu là cơ sở cho việc tiếp tục

thực hiện nghiên cứu trên các nhóm thuốc khác

nhau tại bệnh viện, giúp dự trù mua sắm thuốc

phù hợp với mô hình bệnh tật và nhu cầu chăm

sóc sức khoẻ của người dân địa phương, đồng

thời đảm bảo sử dụng hợp lý nguồn ngân sách

của bệnh viện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y tế (2011) Quy định về tổ chức và hoạt động của khoa Dược

bệnh viện Thông tư số 22/2011/TT-BYT

2 Bộ Y tế (2013) Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc

và điều trị trong bệnh viện Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày

08/08/2013

3 Bộ Y tế (2014) Ban hành và hướng dẫn thực hiện Danh mục thuốc

tân dược thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ Bảo hiểm y tế Thông tư

số 40/2014/TT-BYT

4 Chính phủ (2012) Cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn

vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập Nghị định số 85/2012/NĐ-CP

5 Đặng Kim Loan, Cù Thanh Tuyền, Hoàng Việt, Hoàng Thy Nhạc Vũ và cộng sự (2019) "Ứng dụng phương pháp phân tích

dữ liệu theo thời gian trong hoạt động dự trù mua sắm thuốc: nghiên cứu tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Tỉnh Bến Tre"

Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, phụ bản số

23(2):pp.365-372

6 Grasso M, Manera M, Chiabai A et al (2012) "The Health Effects

of Climate Change: A Survey of Recent Quantitative Research"

Int J Environ Res Public Health, 9(5):pp.1523-1547

7 Hoàng Thy Nhạc Vũ (2017) "Ứng dụng phương pháp phân tích dãy số theo thời gian trong dự báo cơ cấu chi phí sử dụng thuốc

tại bệnh viện" Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, phụ bản số

21(5):pp.83-89

8 Hoàng Thy Nhạc Vũ, Trần Nhật Trường (2017) "Phân tích xu hướng sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Phú Nhuận giai đoạn

2012–2018" Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, phụ bản số

21(5):pp.285-292

9 Liu Z., Hauskrecht M (2015) "Clinical time series prediction:

Toward a hierarchical dynamical system framework" Artif Intell

Med, 65(1):pp.5-18

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 14/02/2019 Ngày bài báo được đăng: 20/04/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 13:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm