1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá ban đầu kỹ thuật lọc máu với catheter tĩnh mạch chôn dưới da tại Bệnh viện Bình Dân từ 01/2015-06/2015

8 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 561,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đánh giá kết quả lọc máu bằng catheter chôn dưới da trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối (CRF) có chỉ định cấp cứu khi cầu nối động tĩnh mạch chưa trưởng thành hay cần lọc máu thời gian dài.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU KỸ THUẬT LỌC MÁU VỚI CATHETER TĨNH MẠCH

CHÔN DƯỚI DA TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN TỪ 01/2015-06/2015

Nguyễn Mạnh Tiến*, Phạm Hữu Đương*, Nguyễn Chí Phong*

TÓM TẮT

Mục đích: đánh giá kết quả lọc máu bằng catheter chôn dưới da trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối

(CRF) có chỉ định cấp cứu khi cầu nối động tĩnh mạch chưa trưởng thành hay cần lọc máu thời gian dài

Đối tượng và phương pháp: bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối (CRF) cần lọc máu cấp cứu tại bệnh

viện Bình Dân từ 1/2015 đến 6/2015

Kết quả: tỷ lệ thành công là 93% (13 trong số 14 trường hợp đều thành công) Tác dụng phụ xuất hiện sớm

được phát hiện ở 7% (1 trường hợp thất bại) Không có biến chứng muộn.Vận tốc khi lọc ở cathter chôn dưới da đạt 300ml/p so với vận tốc khi lọc ở đùi # 200ml/p

Kết luận: lọc máu qua catheter chôn dưới da an toàn hiệu quả và đơn giản

Từ khóa: catheter tĩnh mạch cảnh trong

ABSTRACT

OUTCOME OF USING SUBCUTANEOUS HAEMODIALYSIS CATHETER AT BINH DAN HOSPITAL

FROM 1/2015 TO 6/2015

Nguyen Manh Tien, Pham Huu Duong, Nguyen Chi Phong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 562 – 569

Purpose: to review the outcome of using subcutaneous haemodialysis catheter on patients with chronic renal

failure (CRF) indicated by urgent haemodialysis, without accessible arteries or with immature arteries

Objects and methods: patients with CRF with indications of urgent haemodialysis, admitted to

Haemodialysis department of Binh Dan hospital from 1/2015 to 6/2015

Results: the success rate was 93% (13 out of 14 case were successful) Early onset adverse effects were found

in 7% (1 case failed) No late complication is noticed The output attaints to 300ml/mn in comparison with 200 ml/mn in femoral catheter

Conclusion: subcutaneous haemodialysis catheter is a safe and efficacious and rather simple

Key words: Internal carotid vein catheter

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, số lượng BN

suy thận mạn giai đoạn cuối và được thực

hiện các biện pháp thay thế thận suy trên thế

giới cũng như trong nước ngày càng gia tăng

Điều đó một phần nhờ những tiến bộ khoa

học trong lọc máu ngoài thận, đời sống BN lọc

máu kéo dài hơn, tỷ lệ tử vong giảm đi và điều

quan trọng hơn là sự phát triển kinh tế mà

nhiều BN thận suy có điều kiện tiếp cận với các phương pháp này Hiện nay có ba phương pháp điều trị thay thế thận suy là ghép thận, thận nhân tạo và thẩm phân phúc mạc (1) Lọc máu thận nhân tạo là một phương pháp điều trị thay thế thận suy chủ yếu tại Việt nam cũng như nhiều nước trên thế giới Ở Mỹ, trong năm 1995 có khoảng hơn 250.000 người BN suy thận giai đoạn cuối thì gần 200.000 người là lọc

* Bệnh viện Bình Dân

Tác giả liên lạc: BS.Nguyễn Mạnh Tiến ĐT: 0909.355.449 Email: tien902003@yahoo.com

Trang 2

mạch máu dùng cho BN suy thận có thể tạm thời

hoặc vĩnh viễn Đường mạch máu có thể dùng

trong vài giờ hoặc vài tháng Đường mạch máu

tạm thời thiết lập bằng cách luồn catheter dưới

da vào trong tĩnh mạch lớn như tĩnh mạch cảnh

trong, tĩnh mạch đùi, tĩnh mạch dưới đòn (ít

dùng) Đường mạch máu vĩnh viễn sử dụng

nhiều tháng đến nhiều năm, đáp ứng lưu lượng

đủ dùng trong chạy thận, tuổi thọ của đường

mạch máu cao, tỷ lệ biến chứng thấp(5)

Khoa Lọc Máu BV Bình Dân trước đây chỉ hỗ

trợ lọc máu cấp cứu trong vấn đề BN bị bệnh lý

ngoại khoa đường tiết niệu Hiện tại đã có khoa

Nội thận, số lượng BN có bệnh lý thận nội hay

những BN suy thận mạn giai đoạn cuối nhưng

tiên lượng sống còn khoảng dưới một năm có chỉ

định lọc máu cấp cứu tăng nên catheter chôn

dưới da lọc máu thường dùng trong cấp cứu hay

BN đã có mạch máu nhưng chưa trưởng thành

rất cần lọc máu qua catheter Tuy catheter chôn

dưới da ít được ưa thích, song lại là đường mạch

máu dùng cho việc bắt đầu chạy thận Vì vậy

chúng tôi tiến hành nghiên cứu này

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá tính hiệu quả catheter tĩnh mạch

chôn dưới da để lọc máu trong điều trị BN suy

thận mạn chưa có đường mạch máu hoặc đường

lọc máu chưa trưởng thành từ 01/2015 – 06/2015

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả loạt trường hợp

Đường tĩnh mạch:

Chỉ định:

Sử dụng trong thời gian ngắn:

BN suy thận cấp

BN dùng thuốc quá liều hay ngộ độc, cần chạy thận nhân tạo

BN suy thận mạn có chỉ định chạy thận nhân tạo cấp cứu nhưng chưa có đường mạch máu hoặc đường mạch máu chưa trưởng thành Tắc, bán tắc dò động tĩnh mạch

Sử dụng trong thời gian dài hơn

BN chưa mổ tạo dò động-tĩnh mạch

BN tiên lượng sống còn dưới một năm

Bn đái tháo đường bị bệnh mạch máu nặng, béo phì

Bn đã được can thiệp mổ đường mạch máu động – tĩnh mạch nhiều lần

Các loại catheter:

Hình 1: Catheter tĩnh mạch

Trang 3

Hình 1: Vị trí đặt: tĩnh mạch cảnh trong lý tưởng

nhất (4) tĩnh mạch dưới đòn hiện ít dùng do tỷ lệ biến

chứng cao như tràn dịch-khí, chích vào động mạch

dưới đòn, tổn thương dây quặt ngược thanh quản,

hẹp tĩnh mạch trung tâm

Hình 2: Tĩnh mạch đùi là chọn lựa ưu tiên cần chạy

thận nhân tạo (đặc biệt BN bị phù phổi cấp), lọc hấp phụ, thay huyết tương với khoảng thời gian lưu catheter dưới một tuần Catheter tĩnh mạch đùi chỉ nên lưu thời gian ngắn nằm nội trú hoặc BN không đi lại được

Catheter không cuff điều trị thay thế thận cấp cứu, catheter tĩnh mạch trung tâm được dùng làm mạch máu nhanh nhất, dễ dàng Catheter có cuff làm bằng chất nỉ làm tổ chức

xơ phát triển catheter dính chặt vào tổ chức dưới

da giúp giảm tần suất nhiễm trùng liên quan đường vào từ catheter và giảm sự dịch chuyển catheter

Thiết kế catheter tĩnh mạch 2 nòng bên – bên, đồng trục (hiện nay ít dùng), bậc thang Ngoài ra

có loại cathter phủ chất diệt khuẩn, kháng đông nhằm giảm nghẽn do cục máu đông

Chất liệu catheter có thể làm bằng Silicon (dẻo, nhưng không sát trùng được bằng Iod), Polyurethane, carbothane (dẻo, bền hơn Silicon sát trùng được)

Chiều dài catheter: tùy thuộc vị trí đặt: Tĩnh mạch đùi: ≥ 20cm

Tĩnh mạch cảnh trong phải: 15cm

Tĩnh mạch cảnh trong trái: 20cm

Kỹ thuật

Xác định mạch máu bởi mốc giải phẫu học Rửa sạch da rộng bằng xà bông sát khuẩn chlorhexidine hoặc polividine, sát trùng lại bằng

Trang 4

Cắt nhẹ da ngay lỗ vào của dây dẫn

Dùng cây nong phần mềm dưới da đến

mạch máu theo dây dẫn với lực nhẹ vừa xoay,

vừa đẩy

Rút bỏ cây nong

Đưa cathter vào mạch máu theo dây dẫn,

luôn luôn giữ dây dẫn nhô ra khỏi nhánh của

catheter

Cố định Catheter, rút bỏ dây dẫn

Thử máu ra vào catheter thông tốt, lưu

kháng đông (Heparin 1000 – 5000 UI/ml) theo

lượng qui định

Khâu cố định catheter, băng kín catheter với

gạc vô trùng

Với catheter có cuff tạo đường hầm dưới da

nhớ cắt da ngay lỗ vào dây dẫn # 1cm nằm

ngang theo nếp da cổ

Tạo đường hầm dưới da từ cổ đến trước

ngực, cắt da tạo lỗ ra catheter bằng exit site

Đưa catheter từ exit site lên cổ, giữ cho cuff

cách exit site # 1-2 cm

Tổng kết cuộc mổ

Thời gian mổ

Tai biến, biến chứng trong lúc mổ

Lượng máu mất

Đánh giá kết quả sau mổ

Thời kỳ hậu phẫu

Tái khám sau 1 tháng

Phân độ thành công của phẫu thuật

Chúng tôi thành công 93% (14 trường hợp), 7% (01 trường hợp thất bại) Tỷ lệ biến chứng sớm: 7% (01 trường hợp thất bại) Biến chứng muộn không có trường hợp nào, cung lượng máu khi chạy cho BN đạt vận tốc # 300ml/p so với catheter ở đùi là # 200ml/p

Thời gian mổ: 45 ± 5 phút Đâm kim dưới hướng dẫn siêu âm có 1 trường hợp phải đâm lần 2

Đau bầm tại chỗ: không có trường hợp nào Loạn nhịp tim: không gắn monitoring theo dõi nên không đánh giá

Catheter nằm sai vị trí: 01 trường hợp bị gập góc, sau chụp Xquang phát hiện và chỉnh sửa lại sau 02 giờ

Thời gian hoạt động: 14 trường hợp được lọc máu ngay lưu lượng máu ra tốt, 01 trường do hẹp catherter phải chỉnh sữa lại lần 2

Tai biến sau mổ: 01 ca

Lượng máu mất không đáng kể

Đau hậu phẫu: phần lớn các trường hợp đau mức độ vừa nơi bóc tách chôn cathter dưới da Hậu phẫu:14 BN được lọc máu ngay, 01 BN

bị biến chứng hẹp gập góc catheter phải đặt lại Theo dõi tái khám: Bn được lọc máu và theo dõi cách ngày, tất cả BN đều hài lòng với kết quả phẫu thuật

Trang 5

Hình 3: Kỹ thuật mổ

Trang 6

Hình 4: X- Quang sau khi đặt

BÀN LUẬN

Với 15 BN suy thận mạn được đặt catheter

TMTT có chôn dưới da tỉ lệ tuổi chiếm 64.6%

trên 50, giới tính 3:1,catheter TMTT chôn dưới da

tỉ lệ thấp nhất trong điều trị 10%.tỷ lệ thành công

94% chọc kim tĩnh mạch cảnh trong dưới hường

dẫn siêu âm (bắt buộc), 6% 1 trường hợp phải

chọc lần thứ 2 mới vào được tĩnh mạch, trường

hợp này do BN bị tiểu đường biến chứng suy

thận, thành mạch xơ dầy, quan sát trên màn hình

siêu âm đâm kim khó nhận biết, có thể do máy

siêu âm trắng đen nhiễu màn hình kinh nghiệm

BS làm siêu âm

Các trường hợp thủng tĩnh mạch trung tâm

hay loạn nhịp tim chúng tôi chưa gặp có thể do

mẫu nghiên cứu chưa đủ số lượng, khi can thiệp

không gắn monitoring theo dõi khó biết loạn

nhịp tim

Có 01 trường hợp bị gập góc catheter sau khi

chụp xquang tim phổi thẳng mới phát hiện, khi

lọc máu thông số chạy máy lọc báo phản ứng dội

không đủ lưu lượng tuần hoàn lọc, phải tạo lại

đường hầm, cần có C-Arm kiểm soát ngay sau

khi đặt catheter, có thể bơm thuốc cản quang để

biết catheter có máu đông trong lòng catheter ở

đầu ra hay bị chít hẹp lòng mạch, chúng tôi chưa

có kinh nghiệm nhiều về việc này Để khắc phục

tình trạng gập góc, chúng tôi làm giường cho

cathetrer bằng bóc tách rộng vùng dưới da cổ lên

phía trên, tuân thủ theo cách chỗ nối khoảng

1,5-2 cm

Có 02 trường hợp đặt cathter sau 01 tháng, đường dò động tĩnh mạch hoạt động tốt, nhưng chúng tôi vẫn dùng catheter để lọc, không rút

bỏ

Biến chứng lâu dài

Catheter mất chức năng, huyết khối ngoại sinh (thành mạch, ở tâm nhĩ), nội sinh (trong lòng catheter, huyết khối đầu catheter, vỏ bao Fibrin quanh catheter), hẹp tĩnh mạch trung tâm, catheter bị dính vào thành mạch tĩnh mạch trung tâm các biến chứng làm giảm vận tốc khi lọc máu chưa có số liệu và cần theo dõi thêm

Chăm sóc phòng ngừa nhiễm trùng theo như tiêu chuẩn hướng dẫn(6)

Chỉ dùng cathter trong lọc máu Điều dưỡng rửa tay khi thao tác với cathter hay exit site : đội mũ, mang khẩu trang, lau sạch

da nơi catheter vào cơ thể, thay băng bằng dung dịch chlorhexdin 2%,povidone iodone hoặc cồn 70% (khuyến cáo nhà sản xuất)

Băng kín gạc vô trùng, thay gạc vô trùng khi

BN đổ mồ hôi nhiều, hoặc exit site rỉ máu, thay băng khi băng bị ẩm, dơ, lỏng lẻo, băng dính trong cơ thể giữ được 01 tuần, hạn chế để hở lòng catheter Ngâm đầu catheter (vẫn đậy nắp) trước khi nối vào hay tháo ra khỏi dây máu khi

Trang 7

bắt đầu hay kết thúc lọc máu Che chắn catheter

kỹ khi tắm

Tiêu chuẩn bảo lưu catheter khi(4):

Khó đặt catheter mới

Máu đã sạch vi trùng: 48-72 giờ

Không dấu hiệu nhiễm trùng đường hầm

Không dấu hiệu nhiễm trùng lan xa

Loại vi khuẩn có thể điều trị bằng thuốc

Huyết động ổn định

Cần rút catheter tĩnh mạch có chôn dưới da khi phát hiện:

Triệu chứng toàn thân sốt cao, lạnh run Huyết động không ổn định

Nhiễm trùng exit sitte sưng, đỏ, đau, rỉ dịch hay mủ ở lỗ ra, giới hạn bởi phần hầm sau cuff Nhiễm trùng đường hầm sưng to, đỏ đau, nóng dọc theo đường hầm dưới da trung tâm (từ cuff đến tĩnh mạch)

Cấy máu dương tính

Hình 5: Các trường hợp lâm sàng

Trang 8

dụng như ngoại khoa,rửa tay,gants áo mũ khẩu

trang Sau khi đặt dưới hướng dẫn siêu âm bắt

buộc nên chụp tim phổi thẳng đánh giá vị trí và

kiểm tra biến chứng như tràn khí, máu màng

phổi.Catheter có cuff luồn dưới da có ưu điểm

dùng ngay, không cần thời gian trưởng thành,

dễ thay chi phí chấp nhận, sử dụng vài tháng tạo

cơ hội cho dò động tĩnh mạch trưởng thành

Điểm yếu dễ huyết khối,nguy cơ gây hẹp hay tắc

tĩnh mạch trung tâm,lưu lượng máu nhiều khi

thấp nên kéo dài thời gian lọc máu, chất lượng

cuộc sống bị ảnh hưởng không thoải mái, không

thẩm mỹ

KẾT LUẬN

Kỹ thuật lọc máu catheter chôn dưới da giúp

giảm đáng kể tỉ lệ nhiễm trùng, huyết khối khi

so với catheter tạm thời và cần thiết cho những

trường hợp lọc máu kéo dài hơn 1 tháng, chờ nơi

tạo dò động tĩnh mạch phát triển, tiên lượng BN

nặng khả năng sống còn < 1 năm Vị trí catheter

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đinh Thị Kim Dung (2001) Suy thận mạn tính Tài liệu đào tạo

chuyên đề thận học Bệnh viện Bạch Mai.; tr 197

2 Đỗ Thị Liệu (2001) Suy thận cấp Tài liệu đào tạo chuyên đề

thận học Bệnh viện Bạch Mai 2001 ; 178

3 Nguyễn Nguyên Khôi (2001) Thận nhân tạo Tài liệu đào tạo

chuyên đề thận học Bệnh viện Bạch Mai; tr 168

4 Nguyễn Văn Xang (1999) Suy thận mạn Bài giảng bệnh học nội

khoa Nhà xuất bản y học (tập 1), tr.78-93

5 Phạm Mỹ Hạnh (2010) Catheter dùng trong thận nhân tạo

Khoa thận nhân tạo Bệnh viện Chợ Rẫy

untunnelled catheters are associated with more complications already within 2 weeks of use, Nephrology Dialysis

Transplantation, vol 19, no 3,pp 670-677

7 Zollo A., Cavatorta F, and Galli S (2001) Ultrasound-guided cannulation of the femoral vein for acute hemodialysis access with silicone catheter, Journal of Vascular Access, vol 2, no 2,

pp 56-59

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 22/12/2015 Ngày bài báo được đăng 22/02/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 12:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm