1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ bảo tồn buồng trứng trong phẫu thuật u buồng trứng xoắn và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Từ Dũ

6 92 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 303,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

U buồng trứng xoắn là một cấp cứu phụ khoa thường gặp, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe sinh sản của người phụ nữ. Xác định tỷ lệ bảo tồn buồng trứng trong phẫu thuật u buồng trứng xoắn và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Từ Dũ.

Trang 1

TỶ LỆ BẢO TỒN BUỒNG TRỨNG TRONG PHẪU THUẬT

U BUỒNG TRỨNG XOẮN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ

Nguyễn Châu Trí*, Nguyễn Hồng Hoa**

TÓM TẮT

Mở đầu: U buồng trứng xoắn là một cấp cứu phụ khoa thường gặp, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe sinh sản

của người phụ nữ Chẩn đoán và can thiệp sớm giúp bảo tồn khả năng sinh sản của phụ nữ Có nhiều nghiên cứu mổ bảo tồn u buồng trứng bằng cách tháo xoắn và bóc u có thể thực hiện an toàn Bệnh viện Từ Dũ đã thực hiện chẩn đoán và xử trí u buồng trứng nhưng chưa có sự đánh giá đây đủ nên nghiên cứu này được thực hiện

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ bảo tồn buồng trứng trong phẫu thuật u buồng trứng xoắn và các yếu

tố liên quan tại Bệnh viện Từ Dũ

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả hàng loạt ca trên 335 đối tượng nghiên cứu tại

Bệnh viện Từ Dũ từ 01/01/2016 đến 31/05/2018

Kết quả: Tỷ lệ bảo tồn buồng trứng là 66,57%

Kết luận: Chẩn đoán sớm và phẫu thuật kịp thời sẽ giúp bảo tồn được buồng trứng của bệnh nhân

Từ khoá: u buồng trứng xoắn

ABSTRACT

THE PROPORTION OF THE PRESERVATION OVARIAN FUNCTION IN DETORSION OPERATIVE

AND ASSOCIATED FACTORS IN TU DU HOSPITAL

Nguyen Chau Tri, Nguyen Hong Hoa

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 192 - 197

Background: ovarian torsion is one of the most common gynecologic emergencies and may affect females of

all ages Prompt diagnosis is important to preserve ovarian and/or tubal function and to prevent other associated morbidity Detorsion of twisted ovary can be done without complications Tu Du hospital often had many preservation operations of twisted ovary have not been evaluated for many years so that we research this problem

Objectives - Method: A cross-sectional study by using information of 335 patient’s data.The aim of this

study is to determine the prevalence of ovarian conservation in detorsion operative and associated factors in Tu Du hospital

Results: Prevalence of the ovarian conservation in detorsion operative was 66.57

Conclusion: Prompt diagnosis and swift operative evaluation to preserve ovarian function and prevent other

adverse effects

Keywords: ovarian torsion

MỞ ĐẦU

U buồng trứng (UBT) xoắn là một cấp cứu

phụ khoa, chiếm 2,7% trong các trường hợp

mổ cấp cứu do nguyên nhân phụ khoa, đứng

thứ 4 trong các nguyên nhân phụ khoa thường gặp sau thai ngoài tử cung, vỡ nang hoàng thể

và nhiễm khuẩn tiểu khung, đồng thời chiếm

tỷ lệ 2 - 15% trong các trường hợp phẫu thuật

u buồng trứng(6) Tình trạng UBT xoắn có thể

*Bệnh viện Từ Dũ **Bộ môn Sản, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Châu Trí ĐT: 0909 325 972 Email: chautri2002@yahoo.com

Trang 2

gây thiếu máu, hoại tử vòi tử cung và buồng

trứng, vỡ khối u dẫn tới phải phẫu thuật

khẩn/bán khẩn cắt BT có u hay phần phụ có u

buồng trứng (BT) và nếu người phụ nữ có thai

thì có thể gây hậu quả sẩy thai, thai lưu(10)

Trên thế giới, u buồng trứng xoắn được đề

cập đến từ khá lâu, khởi đầu tại Hoa Kỳ,

Hibbar TI(5) đã theo dõi nghiên cứu trong 10

năm (1974-1983) các trường hợp u buồng

trứng xoắn Tiếp theo là các nghiên cứu của

Sommerville M (1991) Oelsner F (1993), Mage

G (1989), Shalev E (1993)(9,11,15) đã đề cập đến

khả năng bảo tồn buồng trứng sau khi bị xoắn

Tại Việt Nam: chúng ta có một số nghiên cứu

về u buồng trứng xoắn như nghiên cứu của

Phạm Văn Soạn (2015), Lý Thị Hồng Vân

(2008), Trương Thị Chúc (2001)(1,2,13,16) báo cáo

hàng loạt ca về đặc điểm lâm sàng, cận lâm

sàng, chẩn đoán và xử trí u buồng trứng xoắn

nhưng chưa có nghiên cứu nào tập trung đánh

giá về bảo tồn buồng trứng trong phẫu thuật u

buồng trứng xoắn

Bệnh viện Từ Dũ, một bệnh viên chuyên

khoa hàng đầu về phụ khoa, với số lượng mổ

u buồng trứng xoắn/u buồng trứng rất cao Từ

năm 2000-2001, có 43 trường hợp đầu tiên tháo

xoắn thành công (có báo cáo tại hội nghị sản

phụ khoa toàn quốc) Năm 2015 số lượng mổ u

buồng trứng xoắn/u buồng trứng là 113/4016,

năm 2016 là 157/4291, cũng chưa có nghiên

cứu sâu, hệ thống về u buồng trứng xoắn và

bảo tồn buồng trứng trong phẫu thuật Xuất

phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài: “Tỷ lệ bảo tồn phần phụ trong

phẫu thuật u buồng trứng xoắn tại Bệnh viện

Từ Dũ và các yếu tố liên quan”

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỷ lệ bảo tồn buồng trứng trong

phẫu thuật u buồng trứng xoắn tại Bệnh viện

Từ Dũ

Mô tả các yếu tố liên quan tới bảo tồn

buồng trứng:

Đặc điểm tiền căn sản phụ khoa,

Thời gian chẩn đoán đến khi phẫu thuật, Đặc điểm u buồng trứng tại thời điểm phẫu thuật

Mô tả đặc điểm giải phẫu bệnh và kết cục hậu phẫu của các trường hợp phẫu thuật u BT

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện với thiết kế nghiên cứu mô tả hàng loạt ca hồi cứu 335 trường hợp u buồng trứng xoắn từ 01/2016 đến 31/05/2018

Các đối tượng nghiên cứu được lấy số liệu từ

hồ sơ bệnh án tại bệnh viện Từ Dũ

Số liệu được nhập, xử lý và phân tích bằng phần mềm Stata 13

KẾT QUẢ

Tuổi trung bình các trường hợp là 31 tuổi ± 10,8, trường hợp nhỏ tuổi nhất là 14 tuổi, trường hợp lớn tuổi nhất là 72 tuổi

Bảng 1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

(n=335) Tỷ lệ %

Tuổi

Số lần mổ trên bụng

Tình trạng mang thai

Thai kỳ

UBT xoắn trong thai kỳ chiếm tỷ lệ 34,33%, tập trung đa số ở 3 tháng đầu Số trường hợp

chưa từng có phẫu thuật sản phụ khoa là 87,46%

Đa số các trường hợp đến khám là vì lý do chính là đau bụng, cơn đau bung đột ngột dữ dội chiếm tỷ lế 83,58% 123 trường hợp (36,72%)

Trang 3

có triệu chứng rối loạn tiêu hoá đi kèm như nôn,

buồn nôn và tiêu chảy, chỉ có 4 trường hợp có

sốt (từ 38 đến 390C), chiếm tỷ lệ rất ít (Bảng 2)

Bảng 2 Đặc điểm lâm sàng nghiên cứu

Tính chất đau

Thuốc giảm đau

Thời gian đau

Phản ứng thành bụng

Rối loạn tiêu hoá

Sốt

Khám UBT đau

269 trường hợp (80,3%) có u buồng trứng to

từ 6 cm trở lên, 196 trường hợp (58,51%) ghi

nhận hình ảnh hồi âm hỗn hợp cạnh bên buồng

trứng, thấy dịch túi cùng và dịch quanh khối u

gặp trong 66% trường hợp, chỉ 21 trường hợp

kết quả siêu âm ghi nhận có “whirlpool sign”,

hình ảnh dòng xoáy mạch máu Đa số các

trường hợp số lượng bạch cầu không tăng, có tỷ

lệ là 70,45% (Bảng 3)

Bảng 3 Đặc điểm cận lâm sàng nghiên cứu

Xét nghiệm bạch cầu

Kết quả siêu âm Kích thước u

Hình ảnh hồi âm hỗn hợp cạnh bên buồng trứng

Dòng chảy mạch máu

Dịch cùng đồ, dịch quanh khối u

Nang ngoại vi

Bảng 4 Đặc điểm phương pháp phẫu thuật u buồng

trứng xoắn:

Thời gian chờ phẫu thuật

Phương pháp phẫu thuật

Số vòng xoắn

Mức độ tổn thương buồng trứng khi phẫu thuật

Phẫu thuật nội soi chiếm 86,27% trường hợp Khi vào bụng 91 trường hợp (27,16%) là buồng trứng còn hồng là 244 trường hợp (72,84%) buồng trứng tím, đa số là UBT xoắn 2 vòng chiếm 46,57%

(Bảng 4)

Bảng 5: Kết quả giải phẫu bệnh của đối tượng nghiên cứu

Đa số UBT xoắn là u bọc bì lành tính có tỷ lệ

là 42,1% (Bảng 5)

Tỷ lệ bảo tồn buồng trứng chiếm 66,57%

Trang 4

Nhóm tuổi 18-45 và dưới 18 tuổi có tỷ lệ bảo tồn

cao hơn so với nhóm tuổi trên 45, các đối tượng

có cơn đau dữ dội cao hơn so với các trường hợp

cơn đau âm ỉ không rõ Các trường hợp đến khi

có thời gian cơn đau dưới 24 giờ cao hơn các

trường hợp cơn đau đã qua 48 giờ Các trường

hợp khi có số vòng xoắn 2 vòng cao hơn các

trường hợp xoắn từ 3 vòng trở lên Mô BT còn

hồng cao hơn các trường hợp BT bị tím (Bảng 6)

Bảng 6: Mối liên quan của các yếu tố với tỷ lệ bảo tồn

buồng trứng

Tuổi

Tính chất đau

Thời gian đau

Số vòng xoắn

Mức độ tổn thương buồng trứng

BÀN LUẬN

Tỷ lệ bảo tồn buồng trứng trong phẫu thuật u

buồng trứng xoắn

Bảng 7: So sánh tỷ lệ bảo tồn buồng trứng của các

nghiên cứu trong và ngoài nước

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bảo

tồn buồng trứng ở phẫu thuật u buồng trứng

xoắn từ tháng 1/2016 đến tháng 4/2018 là 66,57% Tương tự các nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Soạn 73,33%, Phạm Diệu Linh 60,2% Tác giả Phạm Văn Soạn theo dõi các trường hợp u buồng trứng xoắn tại bệnh viện phụ sản trung ương từ 2011 - 2015 không có đối tương mang thai và bệnh lý ác tính nên tỷ

lệ bảo tồn cao hơn chúng tôi Kết quả phẫu thuật bảo tồn trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn Lý Hồng Vân và Yamashita Y có lẽ 2 nghiên cứu này được thực hiện trong thời gian

1999 và 2004 - 2008 khi kỹ thuật mổ nội soi chưa được phát triển So với các tác giả khác trên thế giới tỷ lệ mổ nội soi còn thấp hơn rất nhiều Mage G và cs bảo tồn buồng trứng 27 trường hợp trên tổng số 35 trường hợp tỷ lệ 77% Yamashita Y và cs bảo tồn buồng trứng

12 trường hợp trên tổng số 24 trường hợp tỷ lệ 50% Shalev E và cs theo dõi 41 trường hợp u buồng trứng xoắn trong suốt 4 năm sau phẫu thuật Tất cả trường hợp đều hồi phục, 14 trường hợp có thai trở lại sau 1 năm phẫu thuật Rana Karayalçın và cs bảo tồn buồng trứng 29 trường hợp trên tổng số 36 trường hợp có tỷ lệ bảo tồn là 80,5% Rana đã sử dụng siêu âm doppler màu cho 30 trường hợp trước khi phẫu thuật, 11 trường hợp ghi nhận dòng chảy mạch máu bình thường, 19 trường hợp ghi nhận dòng chảy mạch máu bất thường hoặc không có

Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ bảo tồn buồng trứng trong phẫu thuật u buồng trứng xoắn tại bệnh viện Từ Dũ

Đặc điểm về tuổi

Tuổi trung bình của các đối tương nghiên cứu là 31 ± 10,8, Kết quả này tương tự với kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước Lý Thị Hồng Vân và Phạm Văn Soạn Nhóm đối tượng có tuổi trên 45 chiếm 11,04%, tương tự như các nghiên cứu Chin NW và cs(2) (1987) có

tỷ lệ u buồng trứng xoắn 17% ở độ tuổi mãn kinh

Trang 5

Đặc điểm về tính chất cơn đau

Cơn đau giảm bớt sau 1 thời gian khi vòng

xoắn nới lỏng hoặc đã quá khả năng bảo tồn

Trong nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận khi cơn

đau đã chuyển sang những cơn đau không rõ

ràng, đau âm ĩ thì nguy cơ không bảo tổn được

buồng trứng tăng cao 9,4 lần

Đặc điểm về thời gian đau

Chúng tôi ghi nhận thời gian đau trên 48 giờ

thì nguy cơ không bảo tổn được buồng trứng

tăng cao 50,3 lần

Đặc điểm về số vòng xoắn

Số vòng xoắn càng nhiều thì tỷ lệ bảo tồn

buồng trứng càng thấp Xoắn 3 vòng tỷ lệ bảo

tồn là 33,8% xoắn 2 vòng tỷ lệ là 68,6%, xoắn 1

vòng tỷ lệ bảo tồn là 86,7% So sánh với nghiên

cứu của Lý Thị Hồng Vân, có 43 trường hợp

trường hợp u xoắn từ 3 vòng trở lên, tỷ lệ bảo

tồn chỉ 4,7% Với tác giả Phạm Diệu Linh có 22

trường hợp trường hợp u xoắn từ 3 vòng trở

lên, có tỷ lệ bảo tồn 22,7%

Đặc điểm về mức độ tổn thương buồng trứng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, các tổn

thương buồng trứng còn hồng (tương đương

độ 1) chỉ có 2 TH (2,2%) phải cắt phần phụ vì

đối tượng nghiên cứu trên 45 tuổi Đối với

trường hợp buồng trứng bị tím (tương đương

độ 2 và 3) thì tỷ lệ bảo tồn là 54,92% Các

trường hợp buồng trứng còn hồng có tỷ lệ bảo

tồn buồng trứng cao hơn 20,5 lần so với các

trường hợp BT bị tím

Bàn luận về kết quả giải phẫu bệnh lý

Trong nghiên cứu của chúng tôi, các trường

hợp u bọc bì buồng trứng chiếm tỷ lệ cao nhất

120 trường hợp tỷ lệ là 42,1%, Kết quả chúng tôi

cũng tương tự nghiên cứu của Lý Thị Hồng Vân,

với cở mẫu 185 trường hợp, đa số là u bì lành

tính; Phạm Văn Soạn, với cỡ mẫu 122 trường

hợp, u bì lành chiếm tỷ lệ 65,57%

Bàn luận các biến chứng sau mổ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân

được theo dõi hậu phẫu từ 3 đến 5 ngày đều

không xảy ra trường hợp huyết khối nào Trước

đây, việc tháo xoắn có nguy cơ giải phóng các cục huyết khối từ các tĩnh mạch bị tắc vào tuần hoàn gây tắc mạch Tuy nhiên nhiều nghiên cứu

cụ thể như Harkins G(4), Dolgin SE và cs(3) chưa ghi nhận một trường hợp tắc mạch nào sau điều

trị tháo xoắn và bảo tồn Số trường hợp xảy ra

biến chứng sau mổ chiếm 2% Các biến chứng này cũng là biến chứng có thể gặp trong phẫu thuật nội soi Có 4 trường hợp sẩy thai sau phẫu thuật, 1 trường hợp tụ máu nơi vết mổ và 1 trường hợp tổn thương niệu quản Tuy nhiên trong các trường hợp trên chỉ có 2 trường hợp bảo tồn là có sẩy thai, xảy ra ở 3 tháng đầu tuổi thai là 7 - 9 tuần

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu mô tả hàng loạt ca trên

335 đối tương nghiên cứu u BT xoắn tại bệnh viện Từ Dũ được thực hiện từ tháng 1/2016 đến tháng 5/2018, chúng tôi ghi nhận tỷ lệ bảo tồn buồng trứng trong phẫu thuật u BT xoắn là 66,57% Độ tuổi từ 18 - 25 chiếm tỷ lệ nhiều nhất Các đối tượng khi đến bệnh viên đau nhiều, thời gian đau dưới 24 sẽ có tỷ lệ bảo tồn được buồng trứng cao hơn Khi phẫu thuật, nếu mô buồng trứng còn hồng, số vòng xoắn

≤2 vòng chúng tôi ghi nhận có khả năng bảo tồn được buồng trứng Kết quả sau phẫu thuật chúng tôi ghi nhận chỉ 2 trường hợp sẩy thai sau khi bảo tồn có lẽ do suy hoàng thể, kết quả giải phẫu bệnh 42,1% là u bọc bì lành tính

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Antoine M.J, Baroux SJ (1996), "Ovaires pathologiques et

coeliochirurgie" Reprod Hum et Horm, 9, 507-510

2 Chin NW, Friedman CI, Awadalla SG et al (1987), "Adnexal torsion as a complication of super ovulation for ovum

retrieval " Fertil Steril, 48, 149-151

3 Dolgin SE, Lublin M, Shlasko E (2000), "Maximizing ovarian

salvage when treating idiopathic adnexal torsion." J Pediatr

Surg, 35, 624-626

4 Harkins G (2007), "Ovarian torsion treated with untwisting:

second look 36 hours after untwisting" J Minim Invasive

Gynecol, 14, 270-272

5 Hibbar T (1985), " Adnexal torsion, Am J Obstet Gynecol" 456-461

6 Hong MK and Ding DC, Huang (2017), "A review of ovary

torsion" Tzu Chi Medical Journal 2017; 29(3), 143-147

7 Karayalçın R, Özcan S, Özyer S et al (2011), "Conservative laparoscopic management of adnexal torsion" 456-465

Trang 6

8 Lý Thị Hồng Vân (2008), "Nghiên cứu về chẩn đoán và xử trí

khối u buồng trứng xoắn tại bệnh viện phụ sản trung ương

trong 5 năm (2004 - 2008) "

9 Mage G(1989), "Laparosroscopic management of adnexal

torsion" The J Reprod Med, 520-524

10 Mashiach R, Melamed N, Gilad N, et al (2011),

"Sonographic diagnosis of ovarian torsion: accuracy and

predictive factors." J Ultrasound Med, 30, 1205-1207

11 Oelsner F (1993), "Long – term follow –up of the twisted

ischemic adnexa managed by detorsion" Fertil Steril, 60,

976-979

12 Phạm Diệu Linh (2015), "Nhận xét các khối u BT xoắn được

điều thị tại bệnh viện phụ sản trung ương trong 2 năm

2013-2014"

13 Phạm Văn Soạn (2015), "Nghiên cứu về chẩn đoán và xử trí

khối u buồng trứng xoắn ngoài thời kỳ thai nghén tại bệnh

viện Phụ sản Hà nội trong 5 năm (2011 – 2015)"

14 Shalev E, Peleg D (1993), "Laparoscopic treatment of

adnexal torsion" Surg Gynecol Obstet, 176, 448-450

15 Sommerville M, Grimes DA, Koonings PP, Campbell K (1991),

"Ovarian neoplasms and the risk of adnexal torsion" Am J

Obstet Gynecol, 164, 201-207

16 Trịnh Hùng Dũng, Trương Thị Chúc (2001), "Một số nhận xét qua 67 trường hợp chẩn đoán u nang buồng trứng xoắn

tại khoa Phụ sản bệnh viện 103" Tạp chí Y học thực hành, số 3

17 Yamashita Y, Sowter M, Ueki M, Gudex G (1990), "Adnexal

torsion" Aust N Z J Obstet Gynecol, 39, 174-177

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 12/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 12:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w