1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh điện tâm đồ ở bệnh nhân suy tim tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang

5 98 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 277,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điện tâm đồ ở bệnh nhân suy tim và tìm hiểu mối tương quan giữa điện tâm đồ và các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng khác ở bệnh nhân suy tim.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH ĐIỆN TÂM ĐỒ

Ở BỆNH NHÂN SUY TIM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM TIỀN GIANG

Nguyễn Thế Phi*, Tạ Văn Trầm*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điện tâm đồ ở bệnh nhân suy tim và tìm hiểu mối

tương quan giữa điện tâm đồ và các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng khác ở bệnh nhân suy tim

Phương pháp: Mô tả cắt ngang Chọn bệnh suy tim theo tiêu chuẩn Framingham

Kết quả: Có 75 trường hợp được chọn Số bệnh nhân nữ nhiều hơn nam Tuổi trung bình trên 60 tuổi Các

triệu chứng lâm sàng của suy tim thường gặp là khó thở phải ngồi (84%), khó thở khi gắng sức (73,3%) Đa số bệnh nhân suy tim NYHA III (81,3%) Hình ảnh bóng tim to trên X-quang chiếm 78,7% Số bệnh nhân có phân suất tống máu (EF) giảm chiếm 84% Tỉ lệ tăng NT-ProBNP chiếm 92% Đặc điểm điện tâm đồ: thiếu máu cục

bộ cơ tim (42,7%), nhịp nhanh xoang (24%), rung nhĩ (21,3%), tăng gánh tâm thu thất trái (13,3%) và điện tâm

đồ bình thường (9,3%) Chỉ số Sokolow-Lyon tương quan thuận với NT-ProBNP (r = 0,697; p < 0,01), tương quan nghịch với EF (r = -0,359; p < 0,01) Chỉ số Cornell tương quan thuận với NT-ProBNP (r = 0,343; p < 0,01), tương quan nghịch với EF (r = 0,443; p < 0,01) Chỉ số RomhiltEstes tương quan nghịch với EF (r = -0,279; p < 0,05) PWD tương quan nghịch với EF (r = -0,27; p < 0,05)

Kết luận: ECG thường biến đổi trong suy tim Những thay đổi ECG có giá trị trong tiên lượng suy tim

Từ khóa: Suy tim, điện tâm đồ, sóng P, QTc, QTd

ABSTRACT

STUDY ON CLINICAL FEATURES AND ELECTROCARDIOGRAM (ECG) IN PATIENTS WITH

HEART FAILURE AT TIEN GIANG CENTRAL GENERAL HOSPITAL

Nguyen The Phi, Ta Van Tram

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 5- 2018: 39- 43

Objectives: To descried clinical featears and laboratory findings and ECG in patients with heart failure and

study the relationship between ECG and other clinical featears, laboratory findings in heart failure

Methods: A cross – sectional study Collected samples were patients with clinically diagnosed heart failure

according to Framingham

Results: There were totally 75 respondents Their mean age was over 60 Male was more than female The

common clinical symptoms of heart failure were platypnea (84%) and dyspnea on drdinary exertion (73.3%) Most patients had NYHA III (81.3%) Shadow images large heart was 78.7% EF falls below 55% share of 84% High level of NT-ProBNP percentage of 92% ECG: Myocardial ischemia (42.7%), sinus tachycardia (24%), atrial fibrillation (21.3%), lelf ventricular systolic strain (13.3%) and normal ECG (9.3%) There were correlations between Sokolow-Lyon’s ECG indice and NT-ProBNP (r = 0.697; p < 0.01), Sokolow-Lyon and EF (r

= -0.359; p < 0.01), Cornell and NT-ProBNP (r = 0.343; p < 0.01), Cornell and EF(r = -0.443; p < 0.01), Romhilt-Estes and EF (r = -0.279; p < 0.05), PWD and EF(r = -0.27; p < 0.05)

Conclusions: ECG is usually abnormal in heart failure Abnormal ECG supports prognosis heart failure Keywords: Heart failure, electrocardiography, P wave, QTc, QTd

* Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy tim là hậu quả cuối cùng của các bệnh

tim mạch và là một nguyên nhân chính dẫn đến

tử vong(10) Hiện nay, tại Hoa Kỳ đang có 5,1

triệu người mắc suy tim Tại Châu Âu số lượng

cũng tương đương với Hoa Kỳ Tại Việt Nam

chưa có thống kê chính thức nhưng nếu dựa trên

tần suất của Châu Âu (0,4 - 2%) thì có khoảng

0,32-1,6 triệu người mắc suy tim cần điều trị(8,11)

Sau khi chẩn đoán suy tim thì vấn đề tiếp

theo là tiên lượng và điều trị cho bệnh nhân

Siêu âm tim và NT-ProBNP tuy có giá trị tiên

lượng cao nhưng siêu âm tim phụ thuộc vào

kỹ thuật viên còn NT-ProBNP là xét nghiệm

xâm lấn, giá thành cao(11) Trong khi đó điện

tâm đồ là cận lâm sàng thường qui và hình

ảnh trong suy tim thường thay đổi Nhận biết

những thay đổi đó cũng có thể theo dõi điều

trị và tiên lượng suy tim

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và

điện tâm đồ ở bệnh nhân suy tim

Tìm hiểu mối tương quan giữa điện tâm đồ

và các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng khác ở

bệnh nhân suy tim

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tất cả bệnh nhân suy tim được chẩn đoán

theo tiêu chuẩn Framingham đang điều trị tại

khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Đa khoa Trung

tâm Tiền Giang Nghiên cứu mô tả cắt ngang

thực hiện trên 75 trường hợp suy tim trong thời

gian từ tháng 10/2017 đến 6/2018

Tất cả các bệnh nhân thỏa tiêu chí nhận vào

được thu thập số liệu theo mẫu bệnh án nghiên

cứu Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0

KẾT QUẢ

Đặc điểm chung dân số nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm chung về tuổi và giới

Giới tính N Tỷ lệ % Tuổi trung bình

Nhận xét: Nữ/nam= 1,14 Tuổi trung bình cả

hai giới đều cao

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng nghiên cứu

Bảng 2- Triệu chứng lâm sàng theo Framingham

Lý do nhập viện n Tỷ lệ %

Nhận xét: Triệu chứng khó thở phải ngồi

(84%) và khó thở khi gắng sức (73,3%) chiếm chủ yếu

Bảng 3: Cận lâm sàng liên quan

Nhận xét: Nồng độ NT-ProBNP tăng chiếm

92%, bóng tim to 78,7%, EF giảm 84%

Bảng 4- Đặc điểm điện tâm đồ

ECG n Tỷ lệ %

Nhận xét: Phì đại thất trái (54,7%), thiếu máu

cục bộ cơ tim (42,7%), nhanh xoang (24%) và

Trang 3

rung nhĩ (21,3%) là những hình ảnh thường gặp

trên ECG

Khảo sát các mối tương quan

Bảng 5: Tương quan giữa các chỉ số phì đại thất trái

và một số yếu tố

Chỉ số NT-ProBNP EF NYHA Huyết áp

trung bình

Sokolow-Lyon

Romhilt-

Esters

Nhận xét: Cả ba chỉ số đều tương quan

nghịch với EF Chỉ số Sokolow-Lyon và Cornell

tương quan thuận với NT-ProBNP

Bảng 6: Tương quan giữa PWD và một số yếu tố

Nhận xét: PWD tương quan nghịch với EF

Bảng 7: Tương quan giữa QTd, QTc và một số yếu tố

Tuổi NYHA EF NT-proBNP

Nhận xét: Không có tương quan giữa QTd,

QTc với tuổi, NYHA, EF, NT-ProBNP

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung dân số nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ nam/nữ

là 0,875 và tuổi trung bình của nam và nữ đều

trên 60 tuổi, kết quả tương tự với nghiên cứu của

Phạm Thanh Phong (2011) tiến hành trên 111

bệnh nhân suy tim tuổi trung bình 69 ± 13,5 tuổi

trong đó có 54,1% bệnh nhân nữ(12), của Huỳnh

Châu Tuấn trên người cao tuổi (2010) với bệnh

nhân nữ chiếm 57,56%(5) và của Hoàng Anh Tiến

(2006) với tỉ lệ nam/nữ là 0,92(3)

Có kết quả này là do

Biến đổi cấu trúc và chức năng hệ tim mạch

nên tỉ lệ suy tim cao hơn người trẻ tuổi

Phụ nữ vào độ tuổi mãn kinh thì sự bảo vệ

của estrogen giảm sút làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, bệnh mạch vành dẫn đến tỉ lệ suy tim

ở nữ cao hơn nam

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng nghiên cứu

Kết quả của chúng tôi ghi nhận: tiêu chuẩn chính chiếm tỉ lệ cao nhất là khó thở phải ngồi (84%), tiêu chuẩn phụ chiếm tỉ lệ cao nhất là khó thở khi gắng sức (93,3%).Các triệu chứng thường gặp khác bao gồm: ran ở phổi (54,7%), tĩnh mạch cổ nổi (20%), phù (29,3%), ho về đêm (28%), tràn dịch màng phổi (24%) Các triệu chứng ít gặp hơn bao gồm: nghiệm pháp phản hồi gan tĩnh mạch cổ (+) (6,7%), nhịp tim nhanh (13,3%), gan to (5,3%) T3 là triệu chứng không gặp trên lâm sàng

Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả tương

tự với nghiên cứu của Huỳnh Châu Tuấn (2010)(5) và Huỳnh Đình Lai (2004)(6) với triệu chứng khó thở xuất hiện 100% bệnh nhân; của Nguyễn Oanh Oanh (2009) triệu chứng khó thở chiếm tỉ lệ cao nhất 90,78%(9) Như vậy có thể thấy triệu chứng khó thở là triệu chứng xuất hiện nhiều nhất và hầu như luôn có ở bệnh nhân suy tim

Phân độ suy tim theo NYHA của chúng tôi: 81,3% NYHA III; 12% NYHA IV; 6,7% NYHA II; không có NYHA I Nghiên cứu của chúng tôi có kết quả tương tự như nghiên cứu của Trần Thị

Mỹ Liên (2011) cho tỉ lệ NYHA III 60,2%; NYHA

II 37,4%; NYHA IV 2,4%; không có NYHA I(14) Nghiên cứu của Phạm Thanh Phong (2011) cho

tỉ lệ NYHA III (39,7%); NYHA II 28,8%; NYHA

IV 19,8%; NYHA I 11,7%(12) Lý do suy tim NYHA III chiếm đa số là (1) suy tim NYHA I, II thường được điều trị ngoại trú chỉ nhập viện khi

có đợt cấp, (2) suy tim NYHA IV thường tử vong hoặc chuyển tuyến cao hơn Kết quả tăng nồng

độ NT-ProBNP chiếm 92%, bóng tim to 78,7% và

EF giảm 84% Kết quả này phù hợp với lâm sàng

vì đa số bệnh nhân suy tim NYHA III, IV

Điện tâm đồ

Số bệnh nhân suy tim có điện tâm đồ bất thường chiếm tỉ lệ 90,7% Trong đó dấu hiệu

Trang 4

bệnh mạch vành đứng hàng đầu (58,7%), phần

lớn là thiếu máu cục bộ cơ tim (42,7%) và nhồi

máu cũ (41,3%) Tiếp theo là phì đại thất (54,7%)

Rối loạn nhịp chiếm 50,6% chủ yếu là nhịp

nhanh xoang (24%) và rung nhĩ (21,3%) Nghiên

cứu của chúng tôi tương tự với nghiên cứu của

Trần Thị Mỹ Liên: 98,4% điện tim bất thường

Thiếu máu cục bộ cơ tim đứng hàng đầu

(40,7%), đứng thứ hai là rung nhĩ

(27,6%)(14).Nghiên cứu của Nguyễn Oanh Oanh

trên bệnh nhân suy tim EF < 30% cho thấy rối

loạn nhịp đứng hàng đầu (88,15%), phì đại thất

(35,53%) đứng hàng thứ hai Điều này cho thấy

sự biến đổi về cấu trúc tim ở nhóm bệnh nhân có

phân suất tống máu thấp(9)

Khảo sát các mối tương quan

Sundstrom (1998): chỉ số sokolow- Lyon có

tương quan nghịch với chức năng tâm thu lẫn

tâm trương thất trái, tương quan nghịch với EF

(r = -0,25; p < 0,02) Tương tự chúng tôi: r = -

0,359; p < 0,01(13) Hoàng Anh Tiến: có mối

tương quan thuận giữa chỉ số Sokolow- Lyon

và nồng độ NT-ProBNP (r = 0,476; p < 0,01)(3)

Nguyễn Hải Thủy và Lê Thanh Tùng (2011)

trên bệnh nhân đái tháo đường type 2 cũng

cho kết quả tương quan thuận giữa hai chỉ số

này (r = 0,346; p < 0,001)(7) Tương tự chúng tôi

(r = 0,697; p < 0,01)

Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả tương

quan nghịch giữa PWD và phân suất tống máu

thất trái (r = -0,27; p < 0,05) Hesham Rashid

(2011) nghiên cứu trên 50 bệnh nhân nhồi máu

cơ tim cấp trong đó có 27 bệnh nhân (54%) có EF

< 50% cũng cho mối tương quan nghịch mức độ

yếu giữa PWD và EF (r= -0,451; p < 0,01)(2)

Huseyin (2005) chỉ ra mối tương quan có ý nghĩa

thống kê giữa PWD và EF trên 73 bệnh nhân suy

tim tâm trương(4) Cơ chế của mối tương quan

vẫn chưa rõ

Chúng tôi không tìm được mối tương quan

giữa QTd, QTc với EF và NT-ProBNP Tuy nhiên

Bonnar (1999) cho thấy QTd và QTc ở nhóm EF <

50% lớn hơn ở nhóm EF ≥ 50%,có ý nghĩa thống

kê (p < 0,001)(1).Nguyễn Hải Thủy và Lê Thanh

Tùng (2011) trên bệnh nhân đái tháo đường type

2 cho thấy mối tương quan thuận mức độ yếu giữa QTc và nồng độ NT- proBNP (r = 0,471; p < 0,001)(7) Cơ chế các mối tương quan trên vẫn chưa được rõ

KẾT LUẬN

Tỉ lệ suy tim ở nữ cao hơn nam

Triệu chứng khó thở gặp ở hầu hết các trường hợp Suy tim NYHA III đứng hàng đầu Cận lâm sàng: đa số bệnh nhân có hình ảnh bóng tim to và giảm EF Về ECG thiếu máu cục

bộ cơ tim, nhịp nhanh xoang và rung nhĩ là những rối loạn thường gặp

Các chỉ số Sokolow-Lyon, Cornell và Romhilt-Esters tương quan nghịch với EF.Chỉ số Sokolow-Lyon và Cornell tương quan thuận với nồng độ NT-ProBNP huyết thanh

PWD tương quan nghịch với EF

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bonnar CE and et al (1999), "QT dispersion in patients with chronic heart failure: beta blockers are associated with a

reduction in QT dispersion", Heart, 81, pp 297-302

2 Hesham R and et al (2011), "P wave dispersion and duration in

patients with myocardial infraction", Indian pacing electrophysiol

J, 10, pp 10-20

3 Hoàng Anh Tiến (2007), "Nghiên cứu sự tương quan giữa nồng

độ NT-ProBNP với chỉ số Sokolow- Lyon trên điện tâm đồ", Tạp chí tim mạch học Việt Nam số 1, (47), tr 263-270

4 Huseyin G.and et al (2005), "The Relationship between P Wave

Dispersion and Diastolic Dysfunction.", Texas Heart Institute Journal, 32, pp 163-167

5 Huỳnh Châu Tuấn (2010), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân đợt cấp suy

tim mạn tại bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ, Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Trường Đại Học Y Dược Huế

6 Huỳnh Đình Lai (2004), Nghiên cứu tình trạng rối loạn một số

chất điện giải ở bệnh nhân suy tim nặng, Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Trường Đại Học Y Dược Huế

7 Nguyễn Hải Thủy và Lê Thanh Tùng (2011), "Nghiên cứu sự liên quan giữa nồng độ NT-ProBNP huyết tương với biến đổi hình thái và chức năng thất trái ở bệnh nhân đái tháo đường

type 2", Tạp chí Y Dược Học 2011, số 5, tr 74-82

8 Nguyễn Lân Việt (2014), Suy tim, Thực hành bệnh tim mạch (tái

bản lần ba),tr 94-121

9 Nguyễn Oanh Oanh (2010), "Nguyên nhân, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu

thấp", Tạp Chí Y Học Việt Nam 2010, số 1, tr 62-66

10 Nguyễn Phú Kháng (2001), Suy tim mạn tính, Lâm sàng Tim

Mạch, NXB y học, tr.135-168

11 Phạm Nguyễn Vinh (2008), Bệnh học Tim mạch, Tập 2, NXB Y Học

Trang 5

12 Phạm Thanh Phong (2011), Khảo sát nồng độ BNP huyết tương

ở bệnh nhân suy tim tại bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Cần

Thơ, Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Trường Đại Học Y Hà Nội

13 Sundstrom J (1998), "Left ventricular geometry and function are

related to electrocardiographic characteristics and diagnoses",

Clinical Physiology, 18(5), pp 463-470

14 Trần Thị Mỹ Liên, Văn Thị Ngọc Uyên, Ngô Đình Dũng và

Hoàng Thị Tuyết (2012), “Một số đặc điểm suy tim mạn tính tại

khoa nội tim mạch bệnh viện Thống Nhất từ tháng 1/2010 –

9/2011”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 16(1), tr.70-75

Ngày đăng: 15/01/2020, 12:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w