1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tác nhân vi khuẩn gây viêm phổi mắc phải cộng đồng phát hiện bằng kỹ thuật multiplex real-time PCR

9 55 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 338,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định các tác nhân vi khuẩn gây viêm phổi mắc phải cộng đồng ở người lớn nhập viện được thực hiện bằng phương pháp nuôi cấy vi khuẩn truyền thống và kỹ thuật multiplex real-time PCR, qua đó phân tích các kết quả thu nhận được.

Trang 1

TÁC NHÂN VI KHUẨN GÂY VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG PHÁT HIỆN BẰNG KỸ THUẬT MULTIPLEX REAL TIME PCR

Lý Khánh Vân*, Lý Văn Xuân *

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Do các hạn chế khó có thể vượt qua được hiện nay trong kỹ thuật nuôi cấy truyền thống các

mẫu đàm nên hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào tại Việt Nam xác định đầy đủ tác nhân vi khuẩn gây viêm phổi mắc phải cộng đồng nhập viện điều trị Chính vì vậy việc áp dụng kỹ thuật multiplex real-time PCR để tìm hiểu các tác nhân vi khuẩn thật sự gây bệnh là cần thiết

Mục tiêu: Xác định các tác nhân vi khuẩn gây viêm phổi mắc phải cộng đồng ở người lớn nhập viện được

thực hiện bằng phương pháp nuôi cấy vi khuẩn truyền thống và kỹ thuật multiplex real-time PCR, qua đó phân tích các kết quả thu nhận được

Đối tượng và phương pháp: Đây là nghiên cứu đa trung tâm thực hiện trên đối tượng là các bệnh

nhân viêm phổi mắc phải cộng đồng nhập viện điều trị Phương pháp nghiên cứu là sử dụng phương pháp nuôi cấy truyền thống và kỹ thuật multiplex real-time PCR để phát hiện các tác nhân vi khuẩn gây bệnh hiện diện trong mẫu đàm hay dịch rửa khí phế quản lấy từ bệnh nhân sau khi đánh giá mức độ rất tin cậy theo thang điểm Barlett

Kết quả: Có tất cả 271 bệnh nhân viêm phổi mắc phải cộng đồng được đưa vào nghiên cứu Kết quả

multiplex real-time PCR cho thấy có đến 67,5% trường hợp được phát hiện là tác nhân vi khuẩn gây bệnh với S pneumoniae và H influenzae là có tỷ lệ cao nhất (23,6% và 15,5%), kế đến đó là K pneumoniae (5,5%), A baumannii (6,3%), E coli (4,4%) và P aeruginosa (3,0%) Ngoài ra còn có các tác nhân khác được phát hiện với

tỷ lệ thấp hơn Kết quả nuôi cấy không kể trường hợp nhóm S viridans thì tỷ lệ phát hiện được tác nhân vi khuẩn gây bệnh là 44,3%, thấp hơn phương pháp multiplex real-time PCR, trong đó cao nhất là K pneumoniae (12,2%), P aeruginosa (9,6%), A baumannii (7,7%) và E coli (5,2%); không có trường hợp nào phân lập được

S pneumoniae, H influenzae và các vi khuẩn không điển hình

Kết luận: Tỷ lệ phát hiện vi khuẩn gây bệnh bằng kỹ thuật multiplex real-time PCR cao hơn phương

pháp nuôi cấy truyền thống (67,5% so với 44,3%), trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là S pneumoniae (23,6%),

kế đến là H influenzae (15,5%), A baumannii (6,3%) và K pneumoniae (5,5%) trong khi vi khuẩn phát hiện được bằng phương pháp nuôi cấy truyền thống chiếm tỷ lệ cao nhất là K pneumoniae (15,8%), kế đến

là P aeruginosa (7,6%), A baumannii (7,6%), E coli (6,9%) và không có trường hợp nào phát hiện S pneumoniae (23.6%) và H influenza

Từ khóa: tác nhân vi khuẩn gây viêm phổi cộng đồng; kỹ thuật multiplex real-time PCR

ABSTRACT

BACTERIA CAUSING HOSPITALIZED COMMUNITY ACQUIRED PNEUMONIA DETECTED BY

MULTIPLEX REAL TIME PCR

Ly Khanh Van, Ly Van Xuan

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 1- 2019: 66-74

Backgrounds: Today, due to the limitations that are difficult to overcome in the culture of the sputum,

almost no study in Vietnam has shown all bacteria that causes the hospitalized community-acquired pneumonia Therefore, the use of multiplex real-time PCR is essential to help in breaking these limitations down

* Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

Objectives: Define community-acquired pneumonia bacteria by both traditional bacterial cultures and

multiplex real-time PCR methods

Methods: This is a multicenter study conducted on the hospitalized patients with community-acquired

pneumonia The method of the study was to use the traditional bacterial culture and multiplex real-time PCR to detect bacterial pathogens presented in the sputum or bronchial lavage fluid taken from patients immediately after delivery to the study

Results: A total of 271 patients with community-acquired pneumonia (CAP) was included in the study

Multiplex real-time PCR results showed that up to 67.5% of the cases were found the bacterial pathogens in which S pneumoniae and H influenzae were at the high rates (23.6% and 15.5%), followed by K pneumoniae (5.5%), A baumannii (6.3%), E coli (4.4%) and P aeruginosa (3.0%), The others were also detected with the lower rates About the culture results, regardless of the group of the S viridans, the detection rate of pathogens was 44.3%, lower than that of multiplex real-time PCR, in which the highest was K pneumoniae (12.2%), followed by P aeruginosa (9.6%), A baumannii (7.7%) and E coli (5.2%); No case of S pneumoniae, H influenzae and atypical bacteria was isolated

Conclusions: The rate of bacterial pathogens detected by multiplex real time PCR is higher than that of

traditional culture (67.5% compared with 44.3%), in which the highest is S pneumoniae (23.6%), followed by H influenzae (15.5%), A baumannii (6.3%) and K pneumoniae (5.5%)

Keywords: bacterial pathogens causing community acquired pneumonia; multiplex real-time PCR detecting

community acquired pneumonia

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm phổi mắc phải cộng đồng là một bệnh

rất phổ biến xảy ra khắp nơi và ở mọi lứa tuổi

mà nguyên nhân thường gặp là do vi khuẩn

Tuy nhiên việc xác định đúng tác nhân vi khuẩn

gây bệnh gặp không ít khó khăn bởi bệnh phẩm

chủ yếu để phát hiện vi khuẩn là đàm (hoặc chất

có đàm) được lấy từ bệnh nhân Bệnh phẩm

thường bị tạp nhiễm vì phải qua đường hầu

họng nên việc nuôi cấy theo phương pháp

truyền thống để phát hiện vi khuẩn gây bệnh bị

hạn chế do nhiều lý do(9) Đó là đa số bệnh nhân

đã sử dụng kháng sinh trước đó nên dù vi

khuẩn vẫn còn sống trong dịch lót của biểu mô

phế quản, phế nang nhưng trong mẫu đàm thì vi

khuẩn gây bệnh đã chết Ngoài ra còn các

nguyên nhân chủ quan của phòng xét nghiệm

cũng làm cho khả năng cấy được vi khuẩn gây

bệnh giảm đi như là: phòng xét nghiệm không

có đủ môi trường thích hợp để phân lập được

các vi khuẩn gây bệnh chủ yếu lại khó nuôi cấy;

mẫu bệnh phẩm không được cấy ngay để tăng

cơ hội phát hiện vi khuẩn gây bệnh; kỹ thuật

viên chưa đủ kinh nghiệm để chọn đúng khuẩn

lạc vi khuẩn gây bệnh mọc trên mặt thạch để phân lập; cuối cùng bệnh phẩm không được đánh giá độ tin cậy để loại bỏ các mẫu không phải là đàm mà là nhầy nhớt vùng hầu họng trước khi tiến hành nuôi cấy phân lập

Để không gặp những khó khăn, trở ngại như trên cũng như để xác định đúng vi khuẩn gây bệnh, kỹ thuật Multiplex real time PCR được sử dụng như một phương pháp tối ưu có

độ nhạy và độ đặc hiệu cao, dựa trên nguyên tắc vừa nhân bản, vừa phát hiện trình tự nucleic acid đặc hiệu của vi khuẩn có trong mẫu bệnh phẩm, đồng thời định được số lượng vi khuẩn để xác định vi khuẩn gây bệnh chính và vi khuẩn phối hợp(10)

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỷ lệ tác nhân vi khuẩn gây viêm phối mắc phải cộng đồng ở người lớn nhập viện Xác định tỷ lệ phối hợp giữa các tác nhân vi khuẩn gây bệnh viêm phổi mắc phải cộng động Xác định tỷ lệ phù hợp tác nhân vi khuẩn gây bệnh giữa phương pháp nuôi cấy truyền thống với kỹ thuật Multiplex real time PCR

Trang 3

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên đối

tượng là bệnh nhân người lớn nhập viện tại

khoa hô hấp Bệnh viện Cần Thơ, Bệnh viện Chợ

Rẫy, Bệnh viện Lao và bệnh phổi Phạm Ngọc

Thạch, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định và Bệnh

viện Nguyễn Tri Phương trong thời gian từ

tháng 06/2016 đến tháng 02/2017

Mẫu bệnh phẩm đàm lấy từ bệnh nhân được

đánh giá rất tin cậy (> 3 điểm theo thang điểm

Barlett) mới tiến hành nghiên cứu

Để có cơ sở so sánh với kỹ thuật Multiplex

real time PCR, mẫu bệnh phẩm được nuôi cấy

theo phương pháp truyền thống tại các khoa vi

sinh ở các bệnh viện nêu trên và được giữ ở tủ

đông ít nhất -180C, sau đó chuyển đến phòng thí

nghiệm công ty Nam Khoa để thực hiện kỹ thuật

Multiplex real time PCR Kết quả phát hiện và định lượng tác nhân vi khuẩn được xác định là tác nhân gây bệnh khi số định lượng > 100.000 copies Riêng vi khuẩn không điển hình do không có tiêu chuẩn nên chúng tôi cho là tác nhân gây bệnh khi số định lượng > 5.000 copies Tác nhân vi khuẩn được cho là tác nhân chính nếu số lượng cao nhất còn tác nhân có số lượng

ít hơn được cho là tác nhân phối hợp

KẾT QUẢ

Qua nghiên cứu 271 mẫu bệnh phẩm đàm

và bệnh phẩm có chứa đàm của bệnh nhân viêm phổi mắc phải cộng đồng ở người lớn nhập viện điều trị, chúng tôi ghi nhận kết quả phát hiện vi khuẩn gây bệnh bằng kỹ thuật real time PCR và bằng phương pháp nuôi cấy truyền thống như sau:

Bảng 1: Tỷ lệ tác nhân vi khuẩn gây bệnh chính và tác nhân vi khuẩn phối hợp phát hiện được bằng kỹ thuật

multiplex real-time PCR

Trang 4

Tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh chính phát hiện

được (dương tính) là 67,5% trong đó chiếm tỷ lệ

cao nhất là S pneumoniae (23,6%), kế đến là H

influenza (15,5%) Trong nhóm vi khuẩn đường

ruột, vi khuẩn K pneumoniae chiếm tỷ lệ cao nhất

là 5,5%, kế đến là E coli chiếm tỷ lệ 4,4%

Trong nhóm vi khuẩn không đường ruột, vi

khuẩn A baumannii chiếm tỷ lệ cao nhất là 6,3%,

kế đến là P aeruginosa với tỷ lệ 3,0% Nhóm vi

khuẩn không điển hình chiếm tỷ lệ thấp nhất là 0,4 – 0,7%

Tỷ lệ vi khuẩn phối hợp là 43,5%, trong đó vi

khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất là S pneumoniae với 10,7%, kế đến là K pneumoniae với tỷ lệ 5,9%, H

influenza 4,8%, A baumannii 4,4% Nhóm Staphylococci và nhóm vi khuẩn không điển hình

chiếm tỷ lệ thấp 0,7 – 2,6%

Bảng 2: Tỷ lệ tác nhân vi khuẩn ở bệnh nhân đơn thuần viêm phổi cộng đồng phát hiện kỹ thuật multiplex

real-time PCR

Tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh chính phát hiện

(dương tính) là 66,9% trong đó chiếm tỷ lệ cao

nhất là S pneumoniae (22,1%), tiếp theo là H

influenza (13,8%) Trong nhóm vi khuẩn đường

ruột thì K pneumoniae chiếm tỷ lệ cao nhất là

7,6%, kế đến là E coli chiếm tỷ lệ 4,1% Trong

nhóm vi khuẩn không đường ruột thì A

baumannii chiếm tỷ lệ cao nhất là 5,5%, kế đến

là P aeruginosa chiếm tỷ lệ 2,8% Nhóm vi

khuẩn chiếm tỷ lệ thấp nhất là nhóm

Staphylococci và nhóm vi khuẩn không điển

hình với tỷ lệ là 0,7 – 1,4%

Tỷ lệ vi khuẩn phối hợp là 42,8%, trong đó vi

khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất là K pneumoniae với 6,9%, kế đến là S pneumoniae với tỷ lệ 6,2%, H

influenza 4,8% và A baumannii cùng tỷ lệ 4,8%

Nhóm Staphylococci và nhóm vi khuẩn không

Trang 5

Bảng 3: Tỷ lệ tác nhân vi khuẩn ở bệnh nhân COPD viêm phổi cộng đồng phát hiện được bằng kỹ thuật

multiplex real-time PCR

Streptococci nhóm A

Stresptococcus Faecalis

C pneumoniae

Tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh chính được phát

hiện (dương tính) là 68,2% trong đó chiếm tỷ lệ

cao nhất là S pneumoniae (25,4%), tiếp theo là H

influenza (17,5%) Trong nhóm vi khuẩn đường

ruột, E coli chiếm tỷ lệ cao nhất là 4,8%, kế đến là

K pneumoniae với tỷ lệ là 3,2% Trong nhóm vi

khuẩn không đường ruột, vi khuẩn A baumannii

chiếm tỷ lệ cao nhất là 7,1%, kế đến là

P.aeruginosa với tỷ lệ 3,2% Nhóm vi khuẩn

không điển hình chiếm tỷ lệ thấp nhất là 0,8%

Tỷ lệ vi khuẩn phối hợp là 44,4%, trong đó

vi khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất là S pneumoniae

với tỷ lệ 15,9%, kế đến là K pneumoniae và H

influenza cùng tỷ lệ 4,8% Vi khuẩn E coli và

nhóm vi khuẩn không điển hình chiếm tỷ lệ

thấp 0,8%

Tỷ lệ vi khuẩn phát hiện (dương tính) là

56,1% Nếu không kể nhóm S viridans là vi khuẩn

thường trú ở hầu họng thì tỷ lệ dương tính là 44,3% (120/271), trong đó vi khuẩn chiếm tỷ lệ cao

nhất là K pneumoniae (12,2%), kế đến là P

aeruginosa (9,6%), A baumannii (7,7%) Các vi

khuẩn H influenza, vi khuẩn Gram âm khác và nhóm Staphylococci chiếm tỷ lệ thấp Không có

trường hợp nào phát hiện vi khuẩn không điển

hình (Bảng 4)

Tỷ lệ vi khuẩn phát hiện phù hợp giữa phương pháp nuôi cấy truyền thống với kỹ thuật real time PCR chỉ có 23,7% (36/152) Nếu

không kể nhóm S viridans là vi khuẩn thường

trú ở hầu họng thì tỷ lệ phù hợp là 30% (36/120)

(Bảng 5)

Trang 6

Bảng 4: Tỷ lệ tác nhân vi khuẩn ở bệnh nhân viêm phổi mắc phải cộng đồng phát hiện được bằng kỹ thuật nuôi

cấy truyền thống

Bảng 5: Số trường hợp và tỷ lệ vi khuẩn phát hiện

phù hợp giữa phương pháp nuôi cấy truyền thống và

real-time PCR

Phù hợp kết quả PCR

H parainfluenza 8

M catarrahlis 1 1 100

Nhóm S viridans 32

S epidermidis 1

K pneumoniae 33 5 15,6

E aerogenes 2

E cloacae 2

P aeruginosa 26 9 34,6

A baumannii 21 10 47,6

BÀN LUẬN

Tỷ lệ tác nhân vi khuẩn gây bệnh

Tỷ lệ phát hiện vi khuẩn gây bệnh (tỷ lệ

dương tính) ở kỹ thuật real time PCR là 67,5%

(183/271), trong đó tỷ lệ dương tính ở bệnh nhân

CAP là 66,9% (97/145) và ở bệnh nhân

lệ phát hiện vi khuẩn gây bệnh bằng kỹ thuật real time PCR ở hai nhóm bệnh nhân trên không

có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Kết quả nuôi cấy theo phương pháp truyền thống cho thấy tỷ lệ dương tính là 56,1%, trong

đó tỷ lệ dương tính ở bệnh nhân CAP là 61,4% (89/145) và ở bệnh nhân CAP/COPD là 50% (63/126) Sự khác biệt về tỷ lệ phát hiện vi khuẩn gây bệnh bằng phương pháp nuôi cấy truyền thống giữa hai nhóm bệnh nhân trên có ý nghĩa thống kê với P<0,05

Tuy nhiên, nếu loại trừ nhóm vi khuẩn

S viridans là các vi khuẩn thường trú ở hầu họng

thì tỷ lệ dương tính ở bệnh nhân CAP là 45,5% (66/145) và ở bệnh nhân CAP/COPD là 42,9% (54/126) thì sự khác biệt giữa tỷ lệ dương tính ở bệnh nhân CAP và ở bệnh nhân CAP/COPD không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Kết quả phát hiện vi khuẩn gây bệnh ở bệnh nhân CAP và CAP/COPD bằng phương pháp nuôi cấy truyền thống của một số tác giả trong nước cho thấy tỷ lệ dương tính thay đổi từ 48 – 58%(5,8,14,15) nghĩa là tương đương với kết quả nghiên cứu của chúng tôi Nhưng nếu so sánh tỷ

Trang 7

kỹ thuật real time PCR (67,5%) và bằng phương

pháp nuôi cấy truyền thống (44,3% không kể

nhóm S viridans) cho thấy sự khác biệt này có ý

nghĩa thống kê (P<0,05)

Về tỷ lệ các loại vi khuẩn theo kết quả trình

bày ở bảng 1, tỷ lệ vi khuẩn phát hiện được bằng

kỹ thuật real time PCR cao nhất là S pneumoniae

(34,3%), kế đến là H influenza (20,3%), K

pneumoniae (11,4%), A baumannii (10,7%), E coli

(6,6%) và P aeruginosa (6,3%) Các vi khuẩn

Staphylococci và nhóm vi khuẩn không điển hình

chiếm tỷ lệ rất thấp

Theo kết quả trình bày ở Bảng 4, vi khuẩn

phát hiện được bằng phương pháp nuôi cấy

truyền thống (không kể nhóm S viridans là vi

khuẩn thường trú ở hầu họng) có tỷ lệ cao nhất

là K pneumoniae (12,2%), kế đến là P aeruginosa

(9,6%), A baumannii (7,7%), E.coli (5,5%) Các vi

khuẩn nhóm Staphylococci chiếm tỷ lệ rất thấp

Không có trường hợp nào phát hiện vi khuẩn

không điển hình

Mặc dù cách tính tỷ lệ các loại vi khuẩn

trong các công trình nghiên cứu trong nước của

các tác giả có khác nhau, như tính tỷ lệ vi khuẩn

phát hiện trên tổng số các trường hợp nghiên

cứu, tỷ lệ vi khuẩn trên tổng số các vi khuẩn

phát hiện được, tỷ lệ vi khuẩn trên số vi khuẩn

Gram âm hoặc trên số vi khuẩn Gram dương

Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu bằng phương

pháp nuôi cấy truyền thống của hầu hết các tác

giả trong nước đều cho thấy vi khuẩn K

pneumoniae, P aeruginosa, A baumannii chiếm tỷ

lệ cao hơn các vi khuẩn S pneumoniae, S aureus,

H influenza(3,4,5,14,15) Nghiên cứu của chúng tôi

bằng phương pháp nuôi cấy truyền thống cũng

cho kết quả tương tự (Bảng 4)

Trái lại, kết quả ghi nhận các tác nhân vi

khuẩn phát hiện được bằng kỹ thuật real time

PCR trong các công trình nghiên cứu ở nước

ngoài cho thấy các vi khuẩn S pneumoniae, S

.aureus, K pneumoniae, H influenza chiếm tỷ lệ

cao hơn các vi khuẩn đường ruột và P.aeruginosa,

đồng thời còn phát hiện các vi khuẩn không điển

hình như: M pneumoniae, C pneumoniae,

L.pneumophila với tỷ lệ ngày càng tăng(1,2,6,11-13) Nghiên cứu của chúng tôi bằng kỹ thuật real

time PCR cũng cho kết quả tương tự (Bảng 1)

Phân tích tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh phát hiện được bằng kỹ thuật real time PCR ở bệnh nhân CAP và ở bệnh nhân CAP/COPD (bảng 1) cho

thấy vi khuẩn S pneumoniae, H influenza, A

baumannii chiếm tỷ lệ cao ở cả hai nhóm bệnh

nhân nhưng ở bệnh nhân CAP thì

K.pneumoniae chiếm tỷ lệ cao hơn (14,5% so với

7,9%) Ngược lại ở bệnh nhân CAP/COPD vi

khuẩn P.aeruginosa chiếm tỷ lệ cao hơn (7,1%

so với 5,5%)

Phân tích tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh (từ nhóm

S viridans) phát hiện được bằng phương pháp

nuôi cấy truyền thống ở bệnh nhân CAP và ở bệnh nhân CA/COPD (bảng 4) cho thấy vi

khuẩn K pneumoniae, P aeruginosa, A baumannii,

E coli chiếm tỷ lệ cao ở cả hai nhóm bệnh nhân

Tuy nhiên có sự khác nhau về tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh ở hai nhóm bệnh nhân trên Đó là ở bệnh

nhân CAP, vi khuẩn K pneumoniae chiếm tỷ lệ

cao hơn (15,8% so với 7,8%) và ở bệnh nhân

CAP/COPD thì vi khuẩn P aeruginosa chiếm tỷ

lệ cao hơn (11,9% so với 7,6%)

Tỷ lệ vi khuẩn phối hợp

Tỷ lệ vi khuẩn phối hợp được phát hiện bằng kỹ thuật real time PCR nhờ thực hiện đếm

số lượng vi khuẩn để xác định vi khuẩn gây bệnh chính và vi khuẩn phối hợp, trong khi phương pháp nuôi cấy truyền thống không xác định vi khuẩn phối hợp do không đếm được số lượng vi khuẩn

Trong các vi khuẩn phối hợp được xác định

thì vi khuẩn S pneumoniae chiếm tỷ lệ cao nhất là 10,7%, kế đến là K.pneumoniae với tỷ lệ 5,9%,

H.influenza 4,8%

Phân tích vi khuẩn phối hợp ở từng nhóm bệnh nhân thì ở nhóm bệnh nhân CAP vi khuẩn

S pneumoniae chiếm với tỷ lệ 6,2% nhưng ở

nhóm bệnh nhân CAP/COPD thì S pneumoniae

nhiếm ưu thế với tỷ lệ 15,9% Sự khác biệt về tỷ

lệ vi khuẩn phối hợp S pneumoniae giữa nhóm

bệnh nhân CAP và CAP/COPD có ý nghĩa thống

Trang 8

kế Trái lại ở bệnh nhân CAP, vi khuẩn

K.pneumoniae chiếm tỷ lệ 6,9% và ở nhóm bệnh

nhân CAP/COPD, K pneumoniae chỉ chiếm 4,8%

Sự khác biệt về tỷ lệ K pneumoniae giữa nhóm

bệnh nhân CAP và nhóm bệnh nhân

CAP/COPD không có ý nghĩa thống kê

Sự phù hợp vi khuẩn giữa phương pháp nuôi

cấy truyền thống và kỹ thuật real time PCR

Theo kết quả trình bày ở bảng 5 cho thấy chỉ

có 23,7% vi khuẩn phát hiện được bằng phương

pháp nuôi cấy truyền thống là phù hợp với vi

khuẩn phát hiện được bằng kỹ thuật real time

PCR Phân tích cho thấy vi khuẩn E.coli chiếm tỷ

lệ phù hợp cao nhất là 57,1%, còn ngoại trừ

trường hợp vi khuẩn H influenza và M

catarrahlis với số lượng phát hiện ít, các vi khuẩn

khác thường gặp trong viêm phổi mắc phải cộng

động như K pneumoniae, P aeruginosa, A

baumannii có tỷ lệ phù hợp không đến 50%

Đặc biệt đối với vi khuẩn S pneumoniae là vi

khuẩn được ghi nhận là tác nhân chiếm tỷ lệ cao

trong viêm phổi mắc phải cộng đồng nhưng kết

quả nuôi cấy bằng phương pháp truyền thống

không có sự phù hợp với kỹ thuật real time PCR

vì không có trường hợp nào được phát hiện Đây

là loại vi khuẩn khó phát hiện bằng phương

pháp nuôi cấy truyền thống vì nhiều lý do như

đã trình bày ở phần đặt vấn đề

KẾT LUẬN

Tỷ lệ dương tính ở kỹ thuật real time PCR là

67,5% và ở phương pháp nuôi cấy truyền thống

là 56,1% Sự khác biệt tỷ lệ dương tính giữa kỹ

thuật real time PCR và phương pháp nuôi cấy

truyền thống có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Vi khuẩn phát hiện bằng kỹ thuật real time

PCR có tỷ lệ cao nhất là S pneumoniae (34,3%), kế

đến là K pneumoniae (11,4%), A baumannii

(10,7%), E coli (6,6%), P aeruginosa (6,3%) Các vi

khuẩn còn lại chiếm tỷ lệ rất thấp

Vi khuẩn phát hiện bằng phương pháp nuôi

cấy truyền thống có tỷ lệ cao nhất là K

pneumoniae (12,2%), kế đến là P aeruginosa

(9,6%), A baumannii (7,7%), E coli (5,5%) Các vi

khuẩn khác chiếm tỷ lệ rất thấp, đặc biệt không

có trường hợp nào phát hiện S pneumoniae

Tỷ lệ vi khuẩn phối hợp được phát hiện bằng kỹ thuật real time PCR với tỷ lệ 43,7% trong đó ở nhóm bệnh nhân CAP là 42,8% và ở nhóm bệnh nhân CAP là 44,4% Sự khác nhau về

tỷ lệ vi khuẩn phối hợp giữa nhóm bệnh nhân CAP và nhóm bệnh nhân CAP/COPD không có

ý nghĩa thống kê Ở nhóm bệnh nhân

CAP/COPD, vi khuẩn phối hợp S pneumoniae

chiếm tỷ lệ 6,2% trong khi ở nhóm bệnh nhân CAP/COPD có tỷ lệ 15,9% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

Chỉ có 23,7% vi khuẩn phát hiện bằng phương pháp nuôi cấy truyền thống là phù hợp với vi khuẩn phát hiện bằng kỹ thuật real time

PCR, trong đó vi khuẩn E.coli có tỷ lệ phù hợp

cao nhất là 57,1% Các vi khuẩn gây bệnh khác

có tỷ lệ phù hợp thấp hơn 50%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Arancibia F, Bauer TT, Ewig S et al (2002) “Community acquried pneumonia due to Gram-negative bacteria and

Pseudomonas aeruginosa: incidence, risk and prognosis Arch

Intern Med, 162, pp 1849-1858

2 Blasi F (2004) Atypical pathogen and respiratory tract

infections Eur respir J, 24 (1), pp 171-181

3 H’ Nương Niê (2016) “Các vi khuẩn gây viêm phổi bệnh viện

và tình hình kháng thuốc tại khoa Hồi sức tích cực-chống độc,

bệnh viện đa khoa tỉnh ĐăkLăk từ 10/2015 đến 4/2016” Luận

văn Thạc sĩ y học chuyên ngành Vi sinh y học, Đại học y dược

TP.Hồ Chí Minh, tr 44-49

4 Lê Tiến Dũng (2010) “Khảo sát đặc điểm và sự đề kháng invitro

vi khuẩn gây viêm phổi cộng đồng tại bệnh viện Nguyễn Tri

Phương năm 2008” Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh, 14(2), trang

47-57

5 Lê Tiến Dũng, Phạm Hùng Vân (2010) “Tác nhân vi khuẩn gây

viêm phổi công đồng” Tạp chí Y học TP.HCM, 14(2), trang 53-60

6 Lui G, Ip M, Lee N, Rainer TH, Man SY et al (2009) Role of

“Atypical pathogens” among adult hospitalized patients with

community-acquired pneumonia Respiratory, 14: 1098-1105

7 Nair Girish B, Niederman Michael S (2011) “Community –

acquired pneumonia” Medical clinics of North America, 95(6), pp

1143-1161

8 Nguyễn Văn Thành (2005) “Kháng sinh trị liệu trong viêm phổi cộng đồng người lớn nhập viện: một số phân tìch từ góc độ vi

trùng học” Tạp chí Y học thực hành, Công trình nghiên cứu khoa

học hội nghị bệnh phổi toàn quốc, Cần Thơ tháng 6/2005, Bộ y

tế (513) tr 130-108

9 Phạm Hùng Vân (2005) Các kỹ thuật lấy và làm xét nghiệm vi

sinh lâm sàng các bệnh phẩm khác nhau Tài liệu giảng dạy sinh

viên, học viên chuyên khoa vi sinh, lưu hành nội bộ, tr 54-58

Trang 9

10 Phạm Hùng Vân (2009) “PCR và real time PCR : Các vấn đề cơ

bản và các áp dụng thường gặp” NXB Y học chi nhánh TP.HCM,

trang 9-35

11 Pinar A, Bozdemir N, Kocagoz T, Alacam R (2004) Rapid

detection of bacteral atypical pneumonia agents by multiplex

PCR Cent Eur J Publ Health; 12(1): 3-5d

12 Schuller M, et al (2010) “PCR for clinical microbiology”

Springer publisher, p 11-48

13 Takahashi K, Suzuki M et al (2013) “The incidence and etiology

of hospitalized community – acquired pneumonia among

Vietnam adults : a prospective surveillance in central Vietnam”

Infectious Disease, 13, pp 296-299

14 Trần Anh Đào (2011) “Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của

viêm phổi mắc phải cộng đồng tại khoa Hô hấp bệnh viện

Nhân dân Gia Định” Luận văn Thạc sĩ y học chuyên ngành Lao,

Đại học y dược TP.Hồ Chí Minh, tr 63-64 và 106-107

15 Võ Đức Chiến (2007) “Đặc điểm lâm sàng và vi khuẩn học của viêm phổi mắc phải cộng đồng nhập viện bệnh viện Nguyễn

Tri Phương từ tháng 8/2005 đến 8/2006” Luận văn tốt nghiệp

chuyên khoa cấp 2 chuyên ngành Lao và bệnh phổi, Đại học y dược

TP.Hồ Chí Minh, tr 49-51 và 90-91

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 12:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm