1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ứng dụng kháng sinh đồ và tính đa hình của gen CYP2C19 trong tiệt trừ Helicobacter pylori ở bệnh nhân đã từng thất bại điều trị

10 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 377,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát vai trò của tính đa hình gen CYP2C19 và sự nhạy cảm kháng sinh trong điều trị tiệt trừ H. pylori ở bệnh nhân viêm loét dạ dày tá tràng đã thất bại điều trị < 3 lần.

Trang 1

ỨNG DỤNG KHÁNG SINH ĐỒ VÀ TÍNH ĐA HÌNH CỦA GEN CYP2C19

TRONG TIỆT TRỪ HELICOBACTER PYLORI Ở BỆNH NHÂN

ĐÃ TỪNG THẤT BẠI ĐIỀU TRỊ

Bùi Hữu Hoàng*, Lê Thị Xuân Thảo**, Lương Bắc An***, Đỗ Thị Thanh Thủy**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Nhiễm Helicobacter pylori (H pylori) là nguyên nhân chính gây viêm loét dạ dày tá tràng

và còn có nguy cơ gây ung thư dạ dày Do vậy, tiệt trừ H pylori là việc rất cần thiết Tuy nhiên, hiện nay tình hình thất bại điều trị tiệt trừ H pylori đang gia tăng do ảnh hưởng của nhiều yếu tố Chính vì vậy, nghiên cứu này khảo sát tác động của tính đa hình gen CYP2C19 và sự đề kháng kháng sinh ở bệnh nhân viêm loét dạ dày tá tràng đã từng thất bại điều trị nhằm đưa ra các khuyến cáo về lựa chọn phác đồ điều trị tối ưu nhất cho bệnh nhân

Mục tiêu: Khảo sát vai trò của tính đa hình gen CYP2C19 và sự nhạy cảm kháng sinh trong điều trị tiệt trừ

H pylori ở bệnh nhân viêm loét dạ dày tá tràng đã thất bại điều trị < 3 lần

Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng: nhóm can thiệp (điều trị theo kháng sinh

đồ và kiểu hình gen CYP2C19) và nhóm chứng (điều trị theo phác đồ 4 thuốc có Bismuth PPI-MTB theo khuyến cáo của Hội Khoa học Tiêu hóa Việt Nam) Bệnh nhân bị viêm loét dạ dày tá tràng từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán dương tính với H.pylori bằng test urease nhanh hoặc test hơi thở, đã từng thất bại điều trị < 3 lần, đến khám

và điều trị tại Khoa Khám bệnh – Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ tháng 4/2015 đến tháng 2/2017 được chọn vào dân số nghiên cứu

Kết quả: Có 412 bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu ; trong đó, 37 bệnh nhân đã bỏ điều trị và không tái khám, còn lại 375 bệnh nhân: nhóm can thiệp là 186 bệnh nhân và nhóm chứng là 189 bệnh nhân Tỷ lệ điều trị thành công chung là 89,1%, trong đó, nhóm chứng có tỷ lệ điều trị thành công là 95,2% cao hơn ở nhóm can thiệp là 82,8% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001

Kết luận: Phác đồ 4 thuốc có Bismuth PPI-MTB theo khuyến cáo của Hội Khoa học Tiêu hóa Việt Nam vẫn

còn hiệu quả cao cho bệnh nhân đã từng thất bại điều trị < 3 lần Phác đồ dựa theo tính đa hình gen của CYP2C19

và kháng sinh đồ có thể áp dụng thay thế

Từ khoá: Helicobacter pylori, kháng sinh đồ, tính đa hình gen CYP2C19, thất bại điều trị, phác đồ 4

thuốc có Bismuth

ABSTRACT

APPLICATION OF ANTIMICROBIAL SUSCEPTIBILITY TESTING AND CYP2C19 POLYMORPHISM

IN HELICOBACTER PYLORI ERADICATION IN PATIENTS AFTER TREATMENT FAILURE

Bui Huu Hoang, Le Thi Xuan Thao, Luong Bac An, Do Thi Thanh Thuy

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 21 - No 3 - 2017: 120 - 129

Background: H pylori infection is a common cause of peptic ulcer and gastric cancer as well Therefore,

eradication of H pylori is a necessary treatment However, eradication therapy failure is actually increasing,

* Bộ môn Nội- Khoa Y, **Bộ môn Hoá Sinh-Khoa Y,

***Trung tâm Y sinh học phân tử, Đại học Y Dược TPHCM

Trang 2

caused by many factors For this reason, the study evaluated the CYP2C19 polymorphism and the antimicrobial susceptibility testing in patients with peptic ulcer after H pylori eradication failure for suggesting the optimal therapeutic regimens.

Objectives: To evaluate the role of CYP2C19 polymorphism and antimicrobial susceptibility testing in H

pylori eradication treatment in patients with peptic ulcer after under 3 time-treatment failure

Methods: A randomized controlled trial: Experimental group (treatment with application of antimicrobial

susceptibility testing and CYP2C19 polymorphism) and control group (treatment with Bismuth-based quadruple therapy PPI-MTB) Patients aged over 18 years with peptic ulcer due to H pylori detected by rapid urease or breath tests after under 3 time-treatment failure, who underwent H pylori eradication treatment at the University Medical Center from April 2015 to February 2017

Results: There were 412 patients enrolled in the study, 37 of whom did not return, the remaining (375

patients) divided into experimemtal group (186 patients) and control group (189 patients) The overall success rate was 89.1%, in which the control group had a successful treatment rate of 95.2%, higher than the experimental group of 82.8% This difference was statistically significant with p <0.001

Conclusion: Bismuth-based quadruple regimen (PPI-MTB) recommended by Vietnam Association of

Gastroenterology is still effective for patients after under 3 time-treatmnet failure Therapeutic regimens based on CYP2C19 polymorphism and antimicrobial susceptibility testing is the alternative treatment

Key words: Helicobacter pylori, antimicrobial susceptibility testing, CYP2C19 polymorphism, treatment

failure, Bismuth-based quadruple therapy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm H pylori được xem là một bệnh

nhiễm trùng phổ biến trên thế giới(1) Ở Việt

Nam, 80% dân số nhiễm H pylori sau tuổi 20 Tổ

chức Y tế Thế giới (WHO) đã công nhận và xếp

H pylori vào nhóm tác nhân loại 1 gây ung thư

dạ dày(7,13) Do vậy, tiệt trừ H pylori là điều cần

thiết trong điều trị viêm loét dạ dày tá tràng

(VLDDTT) do H pylori Tuy nhiên, tỉ lệ thất bại

điều trị tiệt trừ H pylori đang gia tăng, ước tính

trên 30%, có liên quan đến nhiều yếu tố như

bệnh nhân (BN) không tuân thủ điều trị, sự đề

kháng kháng sinh của H pylori, khả năng ức chế

toan không tốt, và nhiều yếu tố khác Theo các

khuyến cáo trước đây, phác đồ điều trị tiệt trừ H

pylori đầu tay bao gồm thuốc ức chế bơm proton

(PPI), clarithromycin (CLA), và amoxicillin

(AMO) hoặc metronidazole (MET)(19) Hiện nay,

hiệu quả khi dùng phác đồ bộ ba thuốc đang

giảm dần và thay đổi tùy từng địa phương và ở

mỗi bệnh nhân Hai nguyên nhân đáng chú ý là

sự ảnh hưởng của tính đa hình gen CYP2C19 và

sự đề kháng kháng sinh của H pylori

Enzyme CYP2C19 được gen CYP2C19 mã

hóa, có chức năng chuyển hóa nhiều loại thuốc khác nhau ở gan; trong đó có thuốc ức chế bơm proton Dựa vào mức độ chuyển hóa thuốc, kiểu

hình enzyme CYP2C19 được phân thành 3

nhóm: nhóm chuyển hóa thuốc chậm (PM), chuyển hóa thuốc trung bình (IM) và chuyển hóa

thuốc nhanh (EM) Tỷ lệ kiểu gen CYP2C19 thay

đổi tùy từng dân số Do đó, nếu sử dụng cùng một liều thuốc cho tất cả bệnh nhân sẽ dẫn đến

tỷ lệ thành công trong tiệt trừ H pylori không

đồng nhất do khả năng ức chế toan khác nhau ở mỗi người(4) Việc điều trị tiệt trừ H pylori có thể

bị thất bại do tình hình đề kháng kháng sinh đang gia tăng đối với các kháng sinh đang được khuyến cáo sử dụng trong các phác đồ đầu tay theo kinh nghiệm Tình trạng lạm dụng kháng sinh và ý thức tuân thủ kém của bệnh nhân là nguyên nhân chủ yếu Vì vậy, đối với các trường hợp đã thất bại điều trị nhiều lần, cần phải thực hiện kháng sinh đồ để chọn lựa các kháng sinh

còn hiệu quả đối với H pylori

Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài này với mục tiêu chung là: “Nghiên cứu tác

Trang 3

động của tính đa hình gen CYP2C19 và sự đề

kháng kháng sinh ở bệnh nhân viêm loét dạ

dày tá tràng đã thất bại điều trị tiệt trừ

Helicobacter pylori”

Mục tiêu nghiên cứu

So sánh hiệu quả của phác đồ ứng dụng tính

đa hình gen CYP2C19 và kháng sinh đồ với phác

đồ 4 thuốc có Bismuth được khuyến cáo hiện

nay để tiệt trừ H pylori ở bệnh nhân viêm loét dạ

dày tá tràng đã thất bại điều trị < 3 lần

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm

chứng Dân số mục tiêu là các bệnh nhân viêm

loét dạ dày tá tràng từ 18 tuổi trở lên, đã thất

bại điều trị tiệt trừ H pylori < 3 lần, đến khám

và điều trị tại Phòng khám Tiêu hóa, Bệnh

viện Đại học Y Dược TP HCM Hiện nay,

chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của

việc ứng dụng tính đa hình gen CYP2C19 và

kháng sinh đồ trong phác đồ tiệt trừ H.pylori,

do đó, nghiên cứu giả định RR = 0,5 (tỷ lệ điều

trị thành công khi áp dụng can thiệp sẽ tăng

gấp đôi so với không can thiệp), giá trị P1 =

37%, P2 = 0,737(3), dự trù 10% mất mẫu, cho

nên ước lượng số bệnh nhân tối thiểu cần có ở

mỗi nhóm là 50 bệnh nhân.

Phương pháp chọn mẫu: toàn bộ, bệnh nhân

khi thỏa các tiêu chí lựa chọn và không có tiêu

chí loại ra sẽ được phân bổ ngẫu nhiên vào

nhóm can thiệp hoặc nhóm chứng Tiêu chí chọn

vào gồm bệnh nhân VLDDTT từ 18 tuổi trở lên,

được chẩn đoán đang nhiễm H pylori bằng test

hơi thở C13 (PY test) hoặc test urease nhanh), đã

từng bị thất bại tiệt trừ H pylori dưới 3 lần, dựa

trên bệnh án lưu trữ tại bệnh viện hoặc các đơn

thuốc trước đó, và đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chí loại ra gồm: bệnh nhân được chẩn đoán

bị ung thư dạ dày hoặc đang xuất huyết tiêu hóa

Thu thập số liệu của hai nhóm là như nhau:

Nhóm can thiệp

Thực hiện kháng sinh đồ và xác định tính đa

hình gen CYP2C19, thông qua nội soi dạ dày

Điều trị dựa trên kết quả về tính đa hình gen

CYP2C19 và kháng sinh đồ với sự kết hợp ít nhất

2 loại kháng sinh còn nhạy cảm với vi khuẩn

Bệnh nhân bị kháng với tất cả kháng sinh hiện đang được sử dụng trong phác đồ điều trị

tiệt trừ H.pylori hoặc chỉ nhạy với một loại kháng

sinh sẽ bị loại khỏi nghiên cứu

Bệnh nhân ở nhóm chứng, sau thời gian điều trị nếu có kết quả PY test dương tính sẽ được chuyển sang nhóm can thiệp và tiếp tục theo dõi,

đánh giá điều trị

Nhóm chứng

Bao gồm những bệnh nhân đã được chọn vào dân số nghiên cứu

Điều trị theo kinh nghiệm bằng phác đồ 4 thuốc có Bismuth, dựa theo khuyến cáo đồng thuận của Hội Khoa học Tiêu hóa Việt Nam –

2012(8) dành cho các trường hợp thất bại với phác

đồ đầu tay

Loại bỏ ra nghiên cứu các bệnh nhân đã bị

thất bại điều trị với phác đồ 4 thuốc có Bismuth

Biến số kiểm soát gồm các biến số về đặc tính dân số xã hội (tuổi, giới tính, nơi thường trú, thói quen hút thuốc lá, sử dụng rượu, bia, tiền căn gia

đình nhiễm H pylori) và đặc điểm lâm sàng

(bệnh lý kèm theo, phác đồ điều trị, tác dụng phụ, tuân thủ điều trị) Trong quá trình thu thập

dữ kiện, tất cả thông tin đều được kiểm tra lại tính đầy đủ và hợp lý Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.0 và phân tích thống bằng phần mềm thống kê Stata 13

KẾT QUẢ

Nghiên cứu chọn được 412 bệnh nhân thỏa tiêu chí chọn mẫu, được phân bổ ngẫu nhiên vào nhóm can thiệp và nhóm chứng Có 37 bệnh nhân rời khỏi nghiên cứu (do tai nạn, dị ứng, mang thai và lý do cá nhân), còn lại 186 bệnh nhân ở nhóm can thiệp và 189 bệnh nhân ở nhóm chứng được theo dõi điều trị Sự phân bố các đặc tính mẫu ở hai nhóm là như nhau Đa số

là nữ, với tỷ lệ là 70,4% ở nhóm can thiệp và 76,7% ở nhóm chứng Phần lớn bệnh nhân có nơi

Trang 4

thường trú ở các tỉnh, thành phố ngoài TP.HCM

Tỷ lệ bệnh nhân có hút thuốc lá hoặc sử dụng

rượu, bia ở 2 nhóm là rất thấp Tiền căn gia đình

nhiễm H pylori có tỷ lệ thấp ở nhóm can thiệp là

19,9% và nhóm chứng là 26,4% Ngoài bệnh về

dạ dày, bệnh nhân có bệnh lý kèm theo chiếm tỷ

lệ 53,2% ở nhóm can thiệp và 49,2% ở nhóm

chứng Tỷ lệ bệnh nhân bị tác dụng phụ ở nhóm

can thiệp và nhóm chứng lần lượt là 75,8% và

79,3% Nhóm chứng có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao

hơn nhóm can thiệp nhưng sự khác biệt này

không có ý nghĩa thống kê. (Bảng 1)

Bảng 1: Đặc tính của mẫu nghiên cứu theo tần số và

tỷ lệ phần trăm (%) (n=375)

(n=186) n (%)

Chứng (n=189)

n (%)

Tuổi

Nơi thường trú

Tiền căn gia đình nhiễm H

pylori

Bảng 2: Hiệu quả tiệt trừ thành công theo phác đồ

(n=335)

Phác đồ Can thiệp (n=186) Chứng (n=189)

Thành công

(n=154)

Thất bại (n=32)

Thành công (n=180)

Thất bại (n=9)

PPI: Proton-pump inhibitor, A: Amoxcillin, C:

Clarithromycin, L: Levofloxacin, M: Metronidazol,

B: Bismuth, T: Tetracycline

Dựa theo kết quả kháng sinh đồ, ở nhóm can

thiệp, các nghiên cứu viên đã sử dụng 7 phác đồ

như sau: PPI-AC, PPI-ACT, PPI-AL, …Trong đó,

phác đồ PPI-AL và PPI-AT chiếm tỷ lệ cao nhất

Phác đồ PPI-MTB được sử dụng với 34 BN (13%) trong nhóm can thiệp Phác đồ PPI-MTB là phác

đồ được sử dụng chủ yếu ở nhóm chứng (100% BN) vì không có trường hợp nào ở nhóm này đã

sử dụng phác đồ 4 thuốc có Bismuth trước đó Bảng 2 cho thấy phác đồ PPI-MTB đạt tỷ lệ thành công rất cao ở nhóm chứng (95,2%) và ở nhóm can thiệp (86,7%) Phác đồ kém đáp ứng nhất là PPI-AC (56,3%), và đáp ứng tốt nhất là PPI-AT (89,9%) Điều này cũng phù hợp với tỷ lệ đề kháng Clarithromycin và Metronidazol khá phổ biến tại Việt Nam hiện nay

Bảng 3: Hiệu quả tiệt trừ dựa vào kiểu hình

CYP2C19 ở nhóm can thiệp (n=186)

chuyển hoá

Thành công (n=154)

Thất bại (n=32)

CYP2C19*1/*3

CYP2C19*2/*3

Qua phân tích kiểu hình của gen CYP2C19

với hiệu quả điều trị ở nhóm can thiệp đã cho thấy nhóm kiểu hình IM và PM có tỷ lệ thành công như nhau, tương ứng tỷ lệ lần lượt là là 80,8% và 81,8% Kiểu hình EM có tỷ lệ thành công chiếm cao nhất với 84,7% vì các BN thuộc nhóm này đã được điều chỉnh liều lượng thuốc ức chế bơm proton thành liều gấp đôi là Esomeprazol 40mg thay vì là 20mg như ở nhóm kiểu gen PM Chính nhờ sự phân tích tính đa hình gen CYP2C19 đã góp phần mang lại hiệu quả điều trị cao cho bệnh nhân, có 176

BN tương ứng tỷ lệ 94,6% BN trong thử nghiệm lâm sàng của chúng tôi có phân bố kiểu hình là chuyển hóa thuốc nhanh (EM) và chuyển hóa thuốc trung bình (IM) đã được điều trị thành công, nếu những BN này không được tăng liều PPI thì có lẽ tỷ lệ tiệt trừ thành công sẽ không đạt được trên 80%

Dựa vào kết quả PY test, bảng 4 cho thấy: nhóm can thiệp có tỷ lệ tiệt trừ H pylori thành công là 82,8%, còn ở nhóm chứng là 95,2% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001

Trang 5

Bảng 4: Hiệu quả tiệt trừ giữa nhóm can thiệp

(n=186) và nhóm chứng (n=189)

n (%)

Thất bại

n (%)

p

Can thiệp (n=222) 154 (82,8) 32 (17,2)

<0,001

BÀN LUẬN

Đặc tính mẫu

Mẫu nghiên cứu được thu thập tại bệnh

viện, quá trình thu thập mẫu và số liệu được

kiểm soát chặt chẽ, tư vấn điều trị rõ ràng, do đó

sự phân bố đặc tính mẫu phù hợp với các nghiên

cứu có thời điểm và đối tượng tương tự như

nghiên cứu của Đào Hữu Ngôi(2) hay Đinh Cao

Minh(3) Dân số nghiên cứu có tỷ lệ nữ/nam là

2,8 Nhóm can thiệp có tỷ lệ nữ là 70%, thấp hơn

tỷ lệ nữ ở nhóm chứng là 77,6% Tuy nhiên,

không có sự khác biệt về tỷ lệ nữ/ nam giữa 2

nhóm can thiệp và nhóm chứng Sở dĩ tỷ lệ nữ

chiếm ưu thế hơn nam có thể là do tâm lý phụ

nữ hay lo lắng và quan tâm nhiều đến bệnh tật,

nhất là lo sợ nhiễm H pylori có thể gây ung thư

dạ dày nên họ chủ động đi khám bệnh nhiều

hơn Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào

chứng minh về mối liên quan giữa giới tính và

hiệu quả tiệt trừ H pylori Một số nghiên cứu

trong và ngoài nước trên đối tượng kháng thuốc

khi điều trị H pylori cũng cho thấy nữ chiếm tỷ

lệ cao hơn nam(2,3,14,17), đặc biệt là kháng thuốc cao

ở phác đồ chứa Metronidazol (MET) hay

Clarithromycin (CLA) Lý giải cho điều này có

thể là do ở những nước đang phát triển, một số

loại kháng sinh như MET hay CLA thường được

sử dụng trong điều trị nhiễm ký sinh trùng, các

bệnh phụ khoa hoặc tự ý sử dụng kháng sinh

không đúng cách trong các nhiễm trùng

tai-mũi-họng có thể là nguyên nhân khiến nữ giới bị

kháng thuốc nhiều hơn nam giới(14)

Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành tại bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, nơi mà phần lớn các đối tượng đến khám từ các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, không chỉ ở khu vực miền Nam mà cả miền Bắc, miền Trung Điều này cho thấy mẫu nghiên cứu của chúng tôi có sự phân bố dàn trải trên nhiều khu vực ở Việt Nam Tương tự, nghiên cứu của Đinh Cao Minh(3) cũng có tỷ lệ bệnh nhân

ở tỉnh, thành phố khác là 81,4% cao hơn nhiều

so với ở TP.HCM là 18,6% Lý giải cho sự chênh lệch này có thể là do bệnh nhân từ các nơi khác, sau khi thất bại điều trị ở địa phương mình, với nhiều phác đồ khác nhau, thường tìm đến TP.HCM và có khuynh hướng chọn bệnh viện lớn, uy tín trong điều trị, trong khi đó, các bệnh nhân tại TP.HCM có thể chọn lựa nhiều bệnh viện khác hoặc các phòng khám chuyên khoa ngoài giờ Mặc dù nơi cư ngụ không liên quan đến hiệu quả điều trị nhưng vẫn phản ánh phần nào thực trạng kháng thuốc nói riêng cũng như thất bại điều

trị tiệt trừ H.pylori nói chung đang diễn ra trên

khắp cả nước

Có 451/ 497 BN trong nghiên cứu không hút thuốc lá Sự phân bố về tỷ lệ BN không hút thuốc lá giữa 2 nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Sở dĩ tỷ lệ không hút thuốc lá chiếm đa số có thể có liên quan đến tỷ

lệ BN nghiên cứu ở cả hai nhóm đa số là phụ

nữ Tỷ lệ có hút thuốc của nghiên cứu là 9,3% cho cả hai nhóm, thấp hơn so với nghiên cứu của Đinh Cao Minh(3) với tỷ lệ là 13% và thấp hơn rất nhiều so với nghiên cứu của Đào Hữu Ngôi (50%) Hiện nay, vấn đề hút thuốc lá vẫn còn đang tranh cãi về mối liên quan với thất bại điều trị Tuy nhiên, trong một phân tích gộp của Suzuki T và cộng sự từ 22 nghiên cứu

đã cho thấy có sự khác biệt về tỷ lệ điều trị thành công ở người có hút thuốc lá và không hút thuốc lá(21) Do vậy, theo khuyến cáo chung của các chuyên gia, việc ngưng hút thuốc lá trong thời gian điều trị có thể góp phần cải

thiện tỷ lệ thành công điều trị tiệt trừ H pylori

Trang 6

Bên cạnh đó, hút thuốc lá cũng được xem là

một trong những nguyên nhân dẫn đến

VLDDTT Chính vì vậy, ở những bệnh nhân

VLDDTT dù có hay không có nhiễm H pylori

thì hạn chế hoặc ngưng hút thuốc lá cũng

được xem là một chỉ định cần thiết trong điều

trị Trong nghiên cứu của chúng tôi, hút thuốc

lá được kiểm soát như một chỉ định cần thiết

khi điều trị cho BN ở cả 2 nhóm

Phần lớn BN trong nghiên cứu không có thói

quen uống rượu, bia (419 BN với tỷ lệ 84,3%)

Phân bố về tỷ lệ không uống rượu, bia giữa 2

nhóm không có sự khác biệt, mặc dù tỷ lệ này

trong nhóm can thiệp thấp hơn so với nhóm

chứng với tỷ lệ lần lượt là 81,4% và 87,2% Tỷ lệ

này có thể cũng liên quan đến yếu tố giới tính vì

đa số các BN trong nghiên cứu có tỷ lệ nữ chiếm

gần gấp 3 lần nam giới

Tỷ lệ có uống rượu trong cả hai nhóm là

15,7%, tương tự với nghiên cứu của Đinh Cao

Minh(3) với tỷ lệ là 15% và thấp hơn nghiên cứu

của Đào Hữu Ngôi(2) với tỷ lệ 21,4% Trong nhiều

nghiên cứu, sử dụng rượu, bia được xem là yếu

tố nguy cơ của nhiễm H pylori và làm gia tăng

tình trạng VLDDTT Tuy vậy, khi tiệt trừ H

pylori thì tình trạng sử dụng rượu, bia rất hiếm

được quan tâm Nghiên cứu của Namiot Z và

cộng sự (2000) cho thấy có mối liên quan khi sử

dụng thức uống chứa cồn với tỷ lệ tiệt trừ thành

công(16) Như vậy, trong nghiên cứu của chúng

tôi, với đa số BN không uống rượu, thì hiệu quả

điều trị mong đợi sẽ không bị ảnh hưởng bởi tác

động của việc sử dụng rượu, bia của BN

Không có chứng cứ về ảnh hưởng của các

bệnh lý nội khoa đến hiệu quả điều trị tiệt trừ H

pylori Tuy nhiên, y văn cho thấy NSAIDs - một

nhóm thuốc thường được sử dụng để điều trị

giảm đau như aspirin, ibuprofen, naproxen,… có

thể gây loét bằng cách ngăn chặn các khả năng

bảo vệ tự nhiên của dạ dày khỏi tác động của

axit dịch vị, đồng thời có ảnh hưởng đến quá

trình đông máu Nếu sử dụng NSAIDs trong

một thời gian dài và/ hoặc liều cao, bệnh nhân có

nguy cơ bị VLDDTT Việc sử dụng NSAIDs rất

phổ biến trong cộng đồng do tính sẵn có, dễ mua

và không cần toa thuốc Bệnh nhân đang điều trị

tiệt trừ H pylori, nếu dùng NSAIDs sẽ gây tổn

thương niêm mạc dạ dày Vì vậy, để việc can thiệp đạt được kết quả cao nhất, các bác sĩ luôn khuyến cáo bệnh nhân ngưng sử dụng các NSAIDs và yêu cầu BN cung cấp tất cả thông tin

về các loại thuốc đã và đang sử dụng

Trong nghiên cứu, đa số BN có người thân

sống chung không nhiễm H pylori Y văn cho thấy H pylori có khả năng lây lan qua các tiếp

xúc thông thường như đường phân – miệng, miệng – miệng, dạ dày – miệng(22) Chính vì vậy,

tiền căn gia đình nhiễm H pylori là một yếu tố

rất đáng quan tâm Nếu trong những người thân

sống cùng BN, có người hiện đang nhiễm H

pylori thì BN có khả năng bị tái nhiễm dù đã điều

trị thành công Do vậy, tiền căn gia đình nhiễm

H pylori được khảo sát không chỉ nhằm đưa ra

lời khuyên về điều trị cho người thân của BN tham gia nghiên cứu, mà còn giúp nghiên cứu kiểm soát việc tái nhiễm có thể có ở BN khi đã hoàn thành đợt điều trị

Tác dụng phụ của thuốc là yếu tố không thể tránh khỏi trong điều trị Nhiều nghiên cứu ghi nhận tác dụng phụ trong một số loại thuốc có

trong phác đồ tiệt trừ H pylori là yếu tố cản trở

việc tuân thủ điều trị của BN(17,10,23) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, không có sự khác biệt về tác dụng phụ khi điều trị ở 2 nhóm Tác dụng phụ thường gặp nhất qua phỏng vấn

BN là: chán ăn, buồn nôn, xót ruột, mệt mỏi, phân sẫm màu, đắng miệng, và ợ hơi Có 5 trường hợp BN phải ngưng thuốc do tác dụng phụ Chúng tôi khảo sát tác dụng phụ khi BN sử dụng thuốc trong phác đồ nghiên cứu, không chỉ

là những chỉ định thường quy tại bệnh viện mà còn giúp bác sĩ đưa ra lời khuyên nhằm khuyến khích BN tuân thủ điều trị để đạt được hiệu quả thành công tốt nhất

Tuân thủ điều trị (TTĐT) được đánh giá là yếu tố rất quan trọng trong điều trị tiệt trừ

H.pylori Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối

liên quan chặt chẽ giữa TTĐT với hiệu quả điều

Trang 7

trị, điển hình như nghiên cứu của Wermeille J

(2002), và Graham (năm 1992), cho thấy sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê khi BN càng tuân thủ tốt

thì càng tăng hiệu quả điều trị(6,23) Chính vì vậy,

TTĐT được chúng tôi kiểm soát như một chỉ

định bắt buộc khi điều trị cho tất cả BN Nhờ các

BN tham gia nghiên cứu được tư vấn, thông báo

trước các tác dụng phụ và các bác sĩ đã động

viên và tư vấn kịp thời cho BN qua điện thoại

khi có sự cố về tác dụng phụ giúp cho BN an

tâm, tự tin và tuân thủ tốt hơn

Hiệu quả tiệt trừ

So với các nghiên cứu đã được công bố như

nghiên cứu bệnh-chứng của Yahav J tại Israel

(2006) trên BN thất bại điều trị ít nhất 1 lần đã

cho thấy việc điều trị theo kháng sinh đồ mang

lại hiệu quả cao hơn là chỉ sử dụng phác đồ

khuyến cáo, với OR = 3,5 (khoảng tin cậy 95%:

1,3-9,4)(25) Tương tự, thử nghiệm lâm sàng của

Lamouliatte H tại Pháp cũng cho kết quả điều trị

theo kháng sinh đồ đạt tỷ lệ thành công là 75%,

vượt trội hơn khi điều trị theo kinh nghiệm là

47,4 - 67,2%(13) Trong khi đó, nghiên cứu của

chúng tôi lại ghi nhận tỷ lệ tiệt trừ thành công H

pylori ở các phác đồ dựa theo kết quả kháng sinh

đồ không cao hơn so với phác đồ 4 thuốc có

Bismuth Mặc dù vậy, tỷ lệ thành công chung

vẫn lớn hơn 80%, nghĩa là đạt yêu cầu cho một

phác đồ để chọn lựa điều trị Hơn nữa, đứng

trước tình huống BN đã bị thất bại nhiều lần thì

việc khảo sát tính nhạy cảm kháng sinh dựa theo

kháng sinh đồ là một chỉ định hoàn toàn hợp lý

và đúng đắn Hơn nữa, các nghiên cứu được

thực hiện ở Pháp và ở các nước Châu Âu thường

không so sánh với phác đồ 4 thuốc có Bismuth vì

thuốc này không được lưu hành ở Châu Âu từ

rất lâu Một nghiên cứu khác của Miwa H tại

Nhật (2003)(15) cho thấy việc ứng dụng kháng

sinh đồ không cải thiện đáng kể hiệu quả điều trị

so với các phương pháp đang sử dụng Tuy

nhiên, thử nghiệm lâm sàng này được thực hiện

vào thời điểm tỷ lệ kháng Clarithromycin tại

Nhật không quá 10%, do đó, dựa trên kết quả

kháng sinh đồ, gần 94% BN nhóm can thiệp đã

ngẫu nhiên được điều trị cùng phác đồ không có CLA tương tự như nhóm chứng (điều trị theo kinh nghiệm) Vì vậy, mặc dù đối tượng nghiên cứu là BN thất bại điều trị, có nguy cơ kháng thuốc cao, thế nhưng sự tương đồng ngẫu nhiên

về phác đồ điều trị giữa 2 nhóm đã khiến kết quả chưa được đánh giá chính xác, đặc biệt ở những quốc gia có tỷ lệ kháng Clarithromycin cao như Việt nam(2, 3)

Nghiên cứu của chúng tôi ứng dụng cả kháng sinh đồ và kết quả kiểu hình của gen

CYP2C19 với kỳ vọng sẽ đạt được hiệu quả điều

trị cao nhất trên BN nhiễm H pylori đã từng thất

bại điều trị So với các nghiên cứu đã được công

bố trước đây thì thử nghiệm lâm sàng của chúng tôi có cỡ mẫu lớn nhất với quy trình theo dõi điều trị nghiêm ngặt; tất cả BN trong nghiên cứu đều được hướng dẫn tuân thủ điều trị, khuyến khích sự hợp tác nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Chính vì vậy, nhóm can thiệp có 83,3% BN

đã được chữa khỏi với kết quả PY test âm tính (sau 4 tuần ngưng thuốc) Có thể xem đây là một kết quả khả quan cho liệu trình điều trị ở đối tượng BN đã thất bại điều trị nhiều lần Ở nhóm chứng, quá trình điều trị đơn giản hơn với phác

đồ 4 thuốc có Bismuth (PPI – MTB) đã cho hiệu quả tiệt trừ thành công rất cao là 95,2% Về mặt

số liệu, đây là một phác đồ có thể nói gần như

“hoàn hảo” khi áp dụng cho BN đã thất bại điều trị Tuy nhiên, phác đồ 4 thuốc có Bismuth phải

sử dụng nhiều thuốc, có nhiều tác dụng phụ nhất là các rối loạn tiêu hóa như đau bụng, buồn nôn, nôn làm cho sự tuân thủ của BN bị hạn chế nếu không được tư vấn, giải thích cặn kẽ của thầy thuốc trước khi chỉ định Thế nên, các tổ chức, đồng thuận quốc tế vẫn không khuyến cáo mạnh mẽ việc áp dụng rộng rãi phác đồ này, bởi

lẽ, để đạt được hiệu quả điều trị đòi hỏi BN phải hoàn toàn tuân thủ điều trị Thực tế, tuân thủ điều trị kém là một trở ngại của phác đồ này Tác dụng phụ, thời gian điều trị kéo dài, liều dùng phức tạp đã gây trở ngại cho việc tuân thủ điều trị ở BN Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, phác

đồ PPI – MTB sẽ không hiệu quả nếu BN không

Trang 8

tuân thủ điều trị Bên cạnh đó, kết quả nghiên

cứu ở Trung Quốc, Hàn Quốc đã cho thấy phác

đồ PPI – MTB không nên được sử dụng ở những

quốc gia có tỷ lệ kháng MET, TET cao như Thổ

Nhĩ Kỳ, Iran và khó kiểm soát tuân thủ điều trị

của bệnh nhân(5,24) Phác đồ PPI – MTB thật sự

không phải là một phác đồ mới mà đã được

nghiên cứu và áp dụng từ những năm 1990 với

hiệu quả tiệt trừ thành công rất cao từ 92% - 94%

(thời gian điều trị 14 ngày) nhằm kiểm soát tình

trạng kháng MET đang gia tăng ở nhiều nước

trên thế giới ở thời điểm này(5)

Thử nghiệm lâm sàng của chúng tôi đạt

được hiệu quả tiệt trừ cao khi áp dụng phác đồ

PPI – MTB ở nhóm chứng có thể là do các

nguyên nhân: bệnh nhân được nhiều lợi ích từ

việc cấp thuốc miễn phí, tư vấn rõ ràng quá trình

điều trị, những tác dụng phụ có thể có và các vấn

đề liên quan tuân thủ điều trị Như khuyến cáo

của Hội Khoa học Tiêu hóa Việt Nam và y văn

thì phác đồ PPI – MTB nên được sử dụng trong

bối cảnh tình trạng kháng thuốc đang diễn ra

khá phức tạp(8) Đồng thuận Maastricht V

(2017)(12) cũng khuyến cáo nên sử dụng phác đồ 4

thuốc có Bismuth khi tỷ lệ kháng CLA, MET cao

hơn 15% Do vậy, việc lựa chọn phác đồ PPI –

MTB ở nhóm chứng được xem là phù hợp cho cơ

địa và tình trạng kháng thuốc của người dân

Việt Nam Mặt khác, một số nghiên cứu cho thấy

muối Bismuth có tác dụng hỗ trợ điều trị tốt khi

kết hợp với MET và TET MET và TET đã được y

văn chứng minh là hai dòng kháng sinh tương

đối ít chịu ảnh hưởng của môi trường axít dạ

dày Tại Việt Nam, TET ít được sử dụng hơn so

với các loại kháng sinh khác Chính vì vậy,

nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận đa số

BN còn nhạy với TET và rõ ràng, phác đồ PPI –

MTB đã thật sự đạt được hiệu quả điều trị rất tốt

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã giúp khẳng

định phác đồ 4 thuốc có Bismuth (PPI-MTB) vẫn

còn là một phác đồ hiệu quả cho những trường

hợp thất bại điều trị lần đầu hoặc có thể áp dụng

như phác đồ đầu tay ở các nước có tỷ lệ đề

kháng kháng sinh cao như Việt Nam, đặc biệt

đối với kháng Clarithromycin Nếu vì một lý do nào đó không sử dụng được phác đồ 4 thuốc có Bismuth thì việc thực hiện kháng sinh đồ và khảo sát tính đa hình gen CYP2C19 sẽ là biện pháp điều trị thay thế hữu hiệu cho các trường hợp bị thất bại điều trị nhiều lần

Xét về sự tương tác của các yếu tố khác như tác dụng phụ và tuân thủ điều trị: mặc dù bệnh nhân ở nhóm chứng có tỷ lệ bị tác dụng phụ cao hơn nhóm can thiệp nhưng khác biệt này không đáng kể Tương tự, tỷ lệ tuân thủ điều trị của 2 nhóm cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Do vậy, phác đồ PPI – MTB đạt được hiệu quả tiệt trừ cao là một thành công trong nghiên cứu của chúng tôi nhưng đòi hỏi một quá trình theo dõi điều trị, tư vấn điều trị nghiêm ngặt - là điều mà không hề đơn giản với một thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng, mà hơn nữa là ứng dụng rộng rãi trong cộng đồng

Bên cạnh đó, vai trò của kháng sinh đồ vẫn luôn được xem xét như là một giải pháp hỗ trợ cần thiết trong điều trị khi tình trạng kháng thuốc đang diễn ra phức tạp trên phạm vi toàn cầu(11) Tuy nhiên, việc thực hiện kháng sinh đồ không đơn giản, đòi hỏi nguồn lực y tế tốt, tình trạng kinh tế và sự đồng ý lấy mẫu từ nội soi của bệnh nhân Mặt khác, môi trường nuối cấy ở phòng thí nghiệm (in vitro) luôn thuần nhất và không chịu tác động nhiều của các yếu tố ngoại lai, cho nên kháng sinh đồ vẫn chưa được áp dụng rộng rãi Vì vậy, theo các hướng dẫn điều trị quốc tế, đồng thuận Maastrict IV (2012), V (2016), thì kháng sinh đồ vẫn được khuyến cáo là cần thiết và hữu hiệu nhằm gia tăng hiệu quả điều trị ở những vùng, quốc gia có tỷ lệ kháng thuốc cao(11, 12) Ở nhóm can thiệp, ngoại trừ các yếu tố có khả năng ảnh hưởng kết quả điều trị

đã được chúng tôi kiểm soát thì phần lớn BN thất bại điều trị khi được sử dụng với phác đồ PPI-AL Tại Châu Âu, phác đồ 3 thuốc PPI-AL được khuyến cáo sử dụng vì mang lại hiệu quả tiệt trừ cao, hạn chế tác động của kháng CLA và MET(20) Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc sử dụng kháng sinh là phổ biến và khó kiểm soát, trong

Trang 9

nhiều trường hợp, LEV là kháng sinh thường

được ưu tiên sử dụng đầu tay, đặc biệt trong

điều trị tiệt trừ H pylori, do vậy, ở những bệnh

nhân đã từng thất bại điều trị, khả năng đáp ứng

với LEV là thấp Trong khi đó, phác đồ PPI-AT

lại đạt hiệu quả tiệt trừ cao hơn

Từ những cơ sở trên đã cho thấy: dù là ứng

dụng kháng sinh đồ kết hợp xác định kiểu hình

gen CYP2C19 ở nhóm can thiệp, hay sử dụng

phác đồ 4 thuốc có Bismuth (PPI-MTB) từ

khuyến cáo của Hội Khoa học Tiêu hóa Việt

Nam ở nhóm chứng thì bác sĩ điều trị nên cân

nhắc lựa chọn phác đồ phù hợp cơ địa và sự đáp

ứng của bệnh nhân, xem xét sự thất bại của phác

đồ đã sử dụng trước đó, tư vấn điều trị và các

vấn đề liên quan tuân thủ điều trị nhằm đạt

được hiệu quả tiệt trừ cao nhất ở những bệnh

nhân đã từng thất bại điều trị, hạn chế những rủi

ro liên quan kháng thuốc và gánh nặng y tế cho

người bệnh

Những điểm mạnh và hạn chế của nghiên

cứu

Đây là thử nghiệm lâm sàng đầu tiên ứng

dụng kháng sinh đồ và kiểu hình gen CYP2C19

trong chọn lựa phác đồ điều trị tiệt trừ H pylori ở

bệnh nhân đã thất bại < 3 lần Cỡ mẫu là lớn nhất

so với các nghiên cứu trong nước được thực hiện

trước đây Bên cạnh đó, việc kiểm soát tuân thủ

điều trị và theo dõi quá trình điều trị của BN

nhiễm H pylori là không hề đơn giản Với số

lượng bệnh nhân là 412, mỗi bệnh nhân được

theo dõi 6 tuần ở nhóm chứng và 10 tuần ở

nhóm can thiệp, nghiên cứu của chúng tôi có tỷ

lệ mất mất mẫu dưới 10% (do các yếu tố khách

quan) và hơn 92% bệnh nhân đã hoàn tất điều

trị Hiệu quả điều trị được đánh giá bằng

phương pháp PY test – tiêu chuẩn vàng để theo

dõi điều trị H pylori với độ nhạy, độ chuyên biệt

hơn 95%, do vậy, tỷ lệ thành công của các phác

đồ trong nghiên cứu là chính xác Sai lệch thông

tin được kiểm soát nhờ những đánh giá và thu

thập số liệu độc lập từ các thành viên tham gia

nghiên cứu Kiểm soát tuân thủ điều trị cũng là

điểm mạnh của nghiên cứu Bên cạnh việc cấp thuốc miễn phí, bệnh nhân còn được tư vấn rõ ràng về quá trình điều trị, thời gian điều trị cũng như tác dụng phụ (có thể có) của thuốc, nhắc nhở tái khám đúng hẹn Tất cả bệnh nhân đều được khuyến khích tuân thủ điều trị để đạt được hiệu quả tốt Tuy nhiên, nghiên cứu cũng có một

số hạn chế như khi thực hiện tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM là nơi qui tụ nhiều BN từ các tỉnh thành khắp nơi, từ miền Trung trở vào Nam nhưng lại ít số BN tại TP.HCM Cỡ mẫu lớn nên gặp nhiều khó khăn và hạn chế về thời gian, kinh phí và nhân lực nghiên cứu

KẾT LUẬN

Mặc dù đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân đã từng thất bại điều trị, thế nhưng kết quả nghiên cứu đã cho thấy việc ứng dụng hợp lý

kháng sinh đồ, kiểu hình của gen CYP2C19 và áp

dụng theo khuyến cáo của Hội khoa học Tiêu hóa Việt Nam (2012) cho từng đối tượng bệnh nhân đã đem lại hiệu quả tiệt trừ thành công rất

cao > 80% Nghiên cứu góp phần khẳng định giá

trị của phác đồ 4 thuốc có Bismuth (PPI-MTB) vẫn còn hiệu quả cao trong tình hình đề kháng kháng sinh như hiện nay nhưng phải đảm bảo

sự tuân thủ tốt từ BN và sự tư vấn cặn kẽ từ thầy thuốc Phác đồ dựa trên kháng sinh đồ và tính

đa hình gen CYP2C19 là biện pháp điều trị thay thế hữu hiệu cho các đối tượng bị thất bại điều

trị nhiều lần

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Burhan Ö, Hikmet A, et al (2010) “Influence of CYP2C19

functional polymorphism on Helicobacter pylori eradication”

Turk J Gastroenterol; 21 (1): 23-28

Omeprazole+Amoxcillin+Clarithromicin trong điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori ở bệnh nhân viêm loét dạ dày-tá tràng” Luận

văn Thạc sĩ Y học Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

3 Đinh Cao Minh (2013) “Đánh giá đề kháng kháng sinh của

Helicobacter pylori trên bệnh nhân viêm loét dạ dày tá tràng đã điều trị tiệt trừ thất bại” Luận án Chuyên khoa cấp II Đại Học Y

Dược TP Hồ Chí Minh

4 Fujun Zhao et al (2008), "Effect of CYP2C19 Genetic

Inhibitor-Based Triple Therapy for Helicobacter pylori

Eradication: A Meta-Analysis", Helicobacter 13(6), tr 532-541

Trang 10

5 Graham DY, Lee SY (2015) “How to Effectively Use Bismuth

Quadruple Therapy: The Good, the Bad, and the Ugly”

Gastroenterol Clin North Am; 44 (3): 537–563

6 Graham DY, Lew GM, et al (1992) “Factors influencing the

eradication of Helicobacter pylori with triple

therapy” Gastroenterology, 102: 493–496

7 Herrero R, Parsonnet J, Greenberg ER (2014) “Prevention

of Gastric Cancer” JAMA, 312(12): 1197-1198

8 Hội Khoa học Tiêu hóa Việt Nam (2012) “Đồng thuận về chẩn

đoán và điều trị nhiễm Helicobacter pylori ở Việt Nam” Tạp chí

Khoa học Tiêu hóa Việt Nam, tập VII, số 29, tr 1929 – 1938

9 Kusters JG, van Vliet AH, Kuipers EJ (2006)

“Pathogenesis of Helicobacter pylori infection” Clin

Microbiol Rev; 19: 449–490.

10 Lee M., Kemp J.A., et al (1999) “A randomized controlled

trial of an enhanced patient compliance program for

Helicobacter pylori therapy” Arch Intern Med, 159: p2312–

2316

11 Malfertheiner P, Megraud F, et al (2012) “Management of

Helicobacter pylori infection the Maastricht IV/ Florence

Consensus Report” Gut; 6: 646–664

12 Malfertheiner P, Megraud F, et al (2017) “Management of

Helicobacter pylori infection the Maastricht V/ Florence

Consensus Report” Gut; 66: 6–30

“Helicobacter Pylori associated global gastric cancer

burden” Front Biosci (Landmark Ed); 14: 1490–1504

“Helicobacter pylori resistance to antibiotics in Europe and its

relationship to antibiotic consumption” Gut; 62(1): 34-42

15 Miwa H, Nagahara A, et al (2003) “Is antimicrobial

susceptibility testing necessary before second-linetreatmentfor

Helicobacter pylori infection” Aliment Pharmacol Ther, 15: 1545–

1551

16 Namiot DB, Leszczyńska K, et al (2008) “Smoking

and drinking habits are important predictors of Helicobacter

pylori eradication” Adv Med Sci; 53(2): 310-5

17 Nguyễn Đặng Thuận An (2009) “Hiệu quả của phác đồ nối

tiếp trong tiệt trừ Helicobacter pylori ở bệnh nhân viêm loét dạ

dày tá tràng” TP Hồ Chí Minh : Đại học Y dược

18 O'Connor J, Taneike I., O'Morain C (2009), “Improving

Compliance with Helicobacter pylori Eradication Therapy: When and How”, Therap Adv Gastroenterol, 2(5): p273–279

19 Padol S, Yuan Y, et al (2006) “The effect of CYP2C19

polymorphisms on H pylori eradication rate in dual and triple

first-line PPI therapies: a meta-analysis” Am J Gastroenterol, 101(7): 1467-75

20 Selgrad M., Bornschein J., Malfertheiner P (2011) “Guidelines for Treatment of Helicobacter pylori in the East and West”, Expert

Rev Anti Infect Ther, 9(8): pp581-588

21 Suzuki T, Matsuo K, et al (2006) “Smoking increases the treatment failure for Helicobacter pylori eradication” Am J

Med 119, 217–224

22 Testerman TL, Morris J (2014) “Beyond the stomach: An updated view of Helicobacter pylori pathogenesis, diagnosis,

and treatment” World J Gastroenterol, 20 (36): 12781-12808

23 Wermeille J, Cunningham M, et al (2002) “Failure of

Helicobacter pylori eradication: is poor compliance the main

cause” Gastroenterol Clin Biol; 26(3): 216-9

24 Wu JY, Liou JM, Graham DY (2014) “Evidence-based

pylori treatment” Expert Rev Gastroenterol Hepatol; 8: 21–28

25 Yahav J, Samra Z, et al (2006) “Susceptibility-guided vs

empiric retreatment of Helicobacter pylori infection after treatment failure” Dig Dis Sci, 51(12): 2316-21

Ngày đăng: 15/01/2020, 12:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w