1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả điều trị rò động - tĩnh mạch thận

9 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 376,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rò động tĩnh mạch thận là những thông nối bất thường giữa hệ thống động mạch và tĩnh mạch trong thận. Những bất thường này có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải. Chọn lựa điều trị thay đổi tùy theo từng bệnh nhân, bao gồm: điều trị bảo tồn, can thiệp nội mạch hay phẫu thuật.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ RÒ ĐỘNG-TĨNH MẠCH THẬN

Nguyễn Thành Tuân*, Nguyễn Vĩnh Bình*, Thái Kinh Luân*, Trần Ngọc Sinh*,

Thi Văn Gừng***, Trần Trọng Trí**

TÓM TẮT

Mở đầu: Rò động tĩnh mạch thận là những thông nối bất thường giữa hệ thống động mạch và tĩnh mạch trong

thận Những bất thường này có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải Chọn lựa điều trị thay đổi tùy theo từng bệnh nhân, bao gồm: điều trị bảo tồn, can thiệp nội mạch hay phẫu thuật Nói chung, lựa chọn điều trị ban đầu của rò động tĩnh mạch thận có triệu chứng thường là thuyên tắc mạch dưới sự hướng dẫn của chụp hình mạch máu

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị rò động-tĩnh mạch thận tại bệnh viện Chợ Rẫy

Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo mô tả hàng loạt trường hợp

Kết quả: Có 34 trường hợp được điều trị rò động-tĩnh mạch thận tại bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01/2008

đến tháng 04/2014, bao gồm 22 trường hợp được can thiệp nội mạch, 4 trường hợp được phẫu thuật và 8 trường hợp được điều trị bảo tồn.Tỷ lệ thành công của can thiệp nội mạch là 81,8%, tỷ lệ biến chứng của can thiệp nội mạch là 36,3% và tỷ lệ tái phát của can thiệp nội mạch là 21,1% Tất cả các trường hợp phẫu thuật đều thành công và chưa ghi nhận tái phát Thời gian theo dõi trung bình là 26 tháng

Kết luận: Can thiệp nội mạch là phương pháp điều trị nên được lựa chọn trong rò động-tĩnh mạch thận có

triệu chứng Phẫu thuật được chỉ định đối với trường hợp rò động-tĩnh mạch thận lớn hoặc tái phát sau can thiệp nội mạch

Từ khoá: Rò động-tĩnh mạch thận, can thiệp nội mạch, thuyên tắc động mạch, ghép thận tự thân

ABSTRACT

INITIAL RESULTS OF MANEGEMENT FOR RENAL ARTERIOVENOUS FISTULAS

Nguyen Thanh Tuan, Nguyen Vinh Binh, Thi Van Gung, Tran Trong Tri, Tran Ngoc Sinh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 1 - 2015: 38 - 46

Background: Renal arteriovenous fistulas are abnormal communications between the renal arterial and

venous systems These malformations are either congenital or acquired Treatment can be considered to the individual patient, options for therapy range from observation to embolization to nephrectomy Generally, the initial therapy for treatment of renal arteriovenous fistulas is angiographically guided embolization of the fistula

Objective: The study evaluates the results of management for renal arteriovenous fistulas at Cho Ray

hospital

Methods: The study is a case series report.

Results: There were34 cases of renal arteriovenous fistulas at Cho Ray hospital from January 2008 to April

2014: 22 cases of endovascular intervention, 4 cases of operation management and 8 cases of conservative management The successful rate of endovascular intervention was 81.8%, the rate of complication was 36.3% and the rate of recurrence was 21.1% All of the operation cases were successful and the recurrences were not detected The mean time of following up was 26 months

* Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh ** Khoa Ngoại Tiết Niệu bệnh viện Chợ Rẫy

*** Khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh bệnh viện Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: Bs Nguyễn Thành Tuân ĐT: 0982587963 Email: thanhtuan0131@gmail.com

Trang 2

Conclusion: Arterial embolization is the preferred treatment for symptomatic arteriovenous fistulas

Surgical therapy is indicated for large arteriovenous fistula and for those cases refractory to endovascular intervention

Key words: Renal arteriovenous fistula, endovascular intervention, arterial embolization, renal

autotransplantation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rò động-tĩnh mạch thận (RĐTMT) được

Varela mô tả lần đầu vào năm 1928(31) RĐTMT là

những thông nối bất thường giữa hệ thống động

mạch và tĩnh mạch trong thận Những bất

thường này có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải,

trong đó nguyên nhân do mắc phải thường gặp

hơn chiếm 70-80% các trường hợp (TH)(1,27) Bệnh

nhân RĐTMT thường đến khám vì triệu chứng

tiểu máu đại thể Chẩn đoán chủ yếu dựa vào

hình ảnh học như siêu âm Doppler, chụp cắt lớp

điện toán và chính xác nhất là chụp hình mạch

máu Về phân loại RĐTMT, năm 1988 tại một

buổi họp của Tổ Chức Quốc Tế Về Nghiên Cứu

Các Bất Thường Mạch Máu (International

Society for the Study of the Vascular Anomalies)

tại Hamburg đã công bố bảng phân loại mới của

dị dạng mạch máu bẩm sinh(3) Bảng phân loại

Hamburg là bảng phân loại quốc tế đầu tiên sử

dụng các thuật ngữ dựa trên các kiến thức về

phôi thai học của dị dạng mạch máu bẩm sinh

được tích lũy qua nhiều thập niên nghiên cứu

Trong đó RĐTMT bẩm sinh cũng được chia

thành 2 dạng là RĐTMT bẩm sinh dạng tại thân

(truncular) và RĐTMT bẩm sinh dạng ngoài

thân (extratruncular) Trong đó RĐTMT dạng

ngoài thận được đặc trưng bởi cấu trúc “nidus”,

RĐTMT bẩm sinh dạng tại thân và RĐTMT mắc

phải không có cấu trúc này(10)

RĐTMT là vấn đề không thường gặp trên

lâm sàng Tuy nhiên tần suất bệnh này có xu

hướng tăng vì sự phổ biến của phẫu thuật lấy sỏi

thận qua da và sinh thiết thận do các can thiệp

này gây ra phần lớn các trường hợp RĐTMT

mắc phải Ngoài ra, RĐTMT có thể gây ra tiểu

máu, thiếu máu, tăng huyết áp và suy tim

Những biến chứng này ảnh hưởng đến chất

lượng cuộc sống, thậm chí đe dọa tính mạng bệnh nhân nên các TH này đòi hỏi phải can thiệp, thậm chí là cắt thận(2)

Tuy nhiên các nghiên cứu về điều trị RĐTMT vẫn còn ít Các nghiên cứu trong nước

về RĐTMT đều là báo cáo trường hợp ca lâm sàng đơn lẻ(1,7,20,10,29) Theo y văn thế giới thì phần lớn nghiên cứu về vấn đề này vẫn là các báo cáo trường hợp ca lâm sàng đơn lẻ, chỉ có vài nghiên cứu hàng loạt trường hợp với số lượng mẫu nhỏ như nghiên cứu của Loffroy (12 TH), Lorenzen (20 TH) và Takebayashi (30 TH)(15,28) Vì vậy mức

độ chính xác của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh cũng như tỷ lệ thành công của các phương pháp điều trị vẫn còn là vấn đề cần bàn luận thêm Nhận thấy bệnh lý này là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu nhằm chẩn đoán chính xác và điều trị tối ưu cho bệnh nhân nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị RĐTMT tại bệnh viện Chợ Rẫy

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân được chẩn đoán rò động-tĩnh mạch thận điều trịtại bệnh viện Chợ Rẫy trong khoảng thời gian từ tháng 01/2008 đến 04/2014

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả hàng loạt trường hợp (case series)

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có rối loạn đông cầm máu chưa được điều trị, những TH thiếu thông tin hoặc mất theo dõi

Các bước tiến hành

Chúng tôi báo cáo các trường hợp (TH) rò động-tĩnh mạch thận được điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy trong khoảng thời gian từ tháng

Trang 3

01/2008 đến 04/2014 Các trường hợp này đều

được ghi nhận triệu chứng lâm sàng, các dấu

hiệu hình ảnh học trên siêu âm Doppler, chụp

cắt lớp điện toán, chụp hình mạch máu Qua đó

chúng tôi thu thập các dữ liệu về: triệu chứng

lâm sàng, các dấu hiệu hình ảnh học của rò

động-tĩnh mạch thận, phương pháp điều trị, tai

biến, biến chứng của quá trình điều trị

Các phương pháp điều trị RĐTMT bao gồm:

can thiệp nội mạch, phẫu thuật cắt thận và ghép

thận tự thân

Phương pháp can thiệp nội mạch: Bệnh nhân

nằm ngữa, tê tại chỗ, đặt catheter qua động

mạch đùi theo phương pháp Seldinger, tiến

hành chụp hình mạch máu Sau khi xác định vị

trí RĐTMT thì chúng tôi tiến hành can thiệp nội

mạch khi có chỉ định

Phẫu thuật cắt thận bao gồm cắt thận và cắt

thận bán phần

Phẫu thuật ghép thận tự thân bao gồm các

bước sau: lấy thận ghép, rửa thận và tạo hình

mạch máu ngoài cơ thể, ghép thận vào lại cơ thể

bệnh nhân

KẾT QUẢ

Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2008 đến

04/2014 có 34 trường hợp RĐTMT được điều trị

tại bệnh viện Chợ Rẫy

Đặc điểm lâm sàng

Tuổi trung bình của dân số nghiên cứu là

41,8 tuổi, trong đó nhỏ nhất là 18 tuổi và lớn nhất

là 84 tuổi

Tỷ lệ nữ là 58,8% (20 TH), tỷ lệ nam là 41,2%

(14 TH)

Bảng 1: Lý do nhập viện

Lý do nhập viện Số trường hợp Tỷ lệ (%)

Tiểu máu là lý do nhập viện thường gặp nhất với tỷ lệ 52,9% Tình cờ phát hiện chiếm tỷ

lệ 20,6% Chảy máu từ dẫn lưu cạnh thận là lý do nhập viện ít gặp nhất, chiếm tỷ lệ 2,9%

Bảng 2: Tiền căn

Tiền căn Tần suất Tỷ lệ (%)

Bảng 3: Đặc điểm triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng Số trường hợp Tỷ lệ (%)

Đặc điểm cận lâm sàng

Bảng 4: Xét nghiệm sinh hóa

Trung bình Độ lệch

chuẩn

Hematocrit trước can thiệp 32,72% 8,8 Hemoglobin trước can thiệp 107g/L 28,6 Creatinin máu trước can thiệp 1,07 mg/dL 0,43

Chẩn đoán

Bảng5: Thận bên có RĐTMT

Tần suất Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ thận phải và trái bị RĐTMT gần như tương đương nhau

Hình ảnh học trong chẩn đoán RĐTMT

Bảng6: Siêu âm Doppler

Dấu hiệu trên siêu âm Doppler Số TH Tỷ lệ (%)

Các bất thường mạch máu khác

Tỷ lệ phát hiện RĐTMT qua siêu âm Doppler

là 76,9%

Bảng 7: Chụp cắt lớp điện toán (CT scan)

Dấu hiệu hình ảnh học trên CT scan Số

TH

Tỷ lệ (%)

Trang 4

Dấu hiệu hình ảnh học trên CT scan Số

TH

Tỷ lệ (%)

Thuốc hiện sớm ở tĩnh mạch

trong thì động mạch 24 82,8 Giảm tưới máu thận 17 58,6

Dấu thuốc cản quang thoát

Các bất

thường mạch

máu khác

Giả phình động mạch thận 9 31 Túi phình động mạch thận 3 10,3

Tỷ lệ phát hiện RĐTMT qua chụp cắt lớp

điện toán là 82,8%

Bảng 8: Vị trí rò động tĩnh-mạch thận qua chụp X

Quang mạch máu kĩ thuật xóa nền(DSA)

Vị trí RĐTMT Số trường hợp Tỷ lệ (%)

RĐTMT tại vị trí cực giữa chiếm tỷ lệ cao

nhất (41,2%)

Bảng 9: Đặc điểm hình ảnh học của RĐTMT trên

DSA

Dấu hiệu hình ảnh học trên DSA Số TH Tỷ lệ

(%)

Dấu hiệu

RĐTMT

Giãn tĩnh mạch thận 10 29,4 Thuốc hiện sớm ở tĩnh mạch 34 100

Giảm tưới máu thận 18 52,9

Dấu thuốc cản quang thoát

Các bất

thường mạch

máu khác

Giả phình động mạch thận 11 32,4 Túi phình động mạch thận 3 8,8 Hẹp động mạch thận

và phình động mạch thận 1 2,9

Phân loại rò động-tĩnh mạch thận

Bảng 10: Phân loại rò động-tĩnh mạch thận

Phân loại RĐTMT Số TH Tỷ lệ (%)

Bẩm

sinh

Dạng ngoài thân (có nidus) 17 50

Dạng tại thân (không có nidus) 5 14,7

Bảng 11: Nguyên nhân của rò động tĩnh mạch mắc

phải

Nguyên nhân RĐTMT mắc phải Số trường

hợp Tỷ lệ (%)

Chấn thương thận hoặc vết

Điều trị

Bảng 12: Phương pháp can thiệp trong điều trị

RĐTMT

Phương pháp can thiệp Số trường hợp Tỷ lệ (%)

Trong số các TH can thiệp thì can thiệp nội mạch chiếm đa số với 22 TH, chiếm tỷ lệ 84,6% Mẫu nghiên cứu có 22 TH can thiệp thành công, chiếm tỷ lệ 84,6% và có 4 TH can thiệp thất bại chiếm tỷ lệ 15,4% Thời gian theo dõi trung bình

sau can thiệp là 26 tháng

Can thiệp nội mạch

Bảng 13: Chất liệu dùng để thuyên tắc mạch

Chất liệu dùng để thuyên tắc

mạch Số trường hợp Tỷ lệ (%)

Kết quả can thiệp nội mạch

Trong mẫu nghiên cứu có 22/34 TH được can thiệp nội mạch, trong đó thành công là 18/22 TH (81,8%) và thất bại là 4/22 TH (18,2%) Thời gian tiến hành can thiệp nội mạch ít nhất là 0,5 giờ, nhiều nhất là 2,25 giờ Thời gian trung bình là 1 giờ Thời gian nằm viện sau can thiệp ít nhất là 2 ngày, nhiều nhất là 17 ngày Thời gian nằm viện trung bình là 6 ngày

Trong số 4/22 TH thất bại thì 3/22 TH (13,6%) được can thiệp lại và 1/22 TH (4,5%) được tiếp

Trang 5

tục theo dõi Tất cả TH thất bại đều là dạng

RĐTMT mắc phải

Biến chứng sau can thiệp nội mạch

Bảng 14: Biến chứng sau can thiệp nội mạch

Biến chứng sau can thiệp nội mạch Số TH Tỷ lệ (%)

Có biến

chứng

Biến chứng sau can thiệp nội mạch có 8 TH,

chiếm 36,3% Hội chứng sau thuyên tắc (PES) là

thường gặp nhất, với tỷ lệ 31,8%

Tái phát sau can thiệp nội mạch

Trong số 19 TH theo dõi được sau can thiệp

nội mạch, có 4 TH tái phát chiếm tỷ lệ 21,1%

Phẫu thuật

Kết quả phẫu thuật

Trong các TH được can thiệp có 4/26 TH

được phẫu thuật, chiếm tỷ lệ 15,4% Tất cả các

TH phẫu thuật này đều thành công trong điều trị

RĐTMT, bao gồm 2 TH ghép thận tự thân và 2

TH cắt thận

Thời gian tiến hành phẫu thuật ít nhất là 4,5

giờ, nhiều nhất là 10 giờ Thời gian trung bình là

7,4 giờ Lượng máu mất ít nhất là 200 ml, nhiều

nhất là 700 ml Lượng máu mất trung bình trung

bình là 525 ml Thời gian nằm viện sau phẫu

thuật trung bình là 16 ngày, trong đó ít nhất là 10

ngày, nhiều nhất là 25 ngày

Biến chứng sau phẫu thuật

Trong số các TH phẫu thuật có 1 TH có biến

chứng, đó là rò dịch bạch huyết từ chân ống dẫn

lưu đã rút vào ngày hậu phẫu thứ 17 của một TH

phẫu thuật ghép thận tự thân Tình trạng rò bạch

huyết giảm dần, bệnh nhân xuất viện sau phẫu

thuật 25 ngày

Tái phát sau can thiệp phẫu thuật

Theo dõi sau phẫu thuật không ghi nhận được TH nào tái phát sau phẫu thuật

BÀN LUẬN Lâm sàng

Trong nghiên cứu chúng tôi, triệu chứng tiểu máu là lý do nhập viện thường gặp nhất với tỷ lệ 52,9% Trong các nghiên cứu khác thì tiểu máu đại thể cũng là lý do chiếm đa số khiến bệnh nhân đi khám để phát hiện RĐTMT Trên lâm sàng việc đánh giá chẩn đoán bệnh nhân tiểu máu có thể dẫn đến việc phát hiện ra RĐTMT(28) Triệu chứng của suy tim và tăng huyết áp khiến bệnh nhân đến khám tại bệnh viện cùng chiếm

tỷ lệ 5,9% Triệu chứng suy tim ở bệnh nhân cho thấy RĐTMT có lưu lượng lớn đã làm tăng đáng

kể lượng máu về tim, sự thay đổi huyết động này gây tăng tiền tải của tim và là nguyên nhân trực tiếp gây suy tim(6)

Trong các nghiên cứu nước ngoài tiểu máu đại thể là dấu hiệu hoặc triệu chứng ban đầu trong hầu hết bệnh nhân (75%) có RĐTMT(8) Trong nghiên cứu của chúng tôi triệu chứng tiểu máu vẫn là triệu chứng thường gặp nhất chiếm 52,9% Vị trí gần hệ thống thu thập có thể giải thích sự phổ biến của triệu chứng tiểu máu(30) Thực tế trong nghiên cứu này, đa số bệnh nhân

có tiểu máu nhiều lần trước đó, đã đi khám nhiều lần nhưng đều không phát hiện ra rò động – tĩnh mạch thận Do vậy đứng trước bệnh nhân tiểu máu trên lâm sàng thì ngoài các nguyên nhân thường gặp là nhiễm trùng, bướu đường tiết niệu và lao niệu thì cần nghĩ đến rò động – tĩnh mạch thận đặc biệt là những bệnh nhân có tiền căn chấn thương hoặc vết thương thận RĐTMT là một trong các nguyên nhân của tăng huyết áp mắc phải, trong các TH này thì điều trị bằng các thuốc hạ áp đơn thuần thường không hiệu quả Một nửa số bệnh nhân RĐTMT mắc phải và một phần tư của những bệnh nhân RĐTMT bẩm sinh có huyết áp cao Tăng huyết

áp có từ trước được cho là một yếu tố nguy cơ phát triển một lỗ rò sau một sinh thiết thận(16) Ngược lại, tăng huyết áp phát triển sau khi sinh

Trang 6

thiết có thể là do tăng tiết renin được gây ra bởi

giảm tưới máu tương đối ở đầu xa RĐTMT(23)

Trong nghiên cứu chúng tôi, tăng huyết áp

chiếm 23,5% các TH

Cận lâm sàng

Siêu âm Doppler mạch máu thận

Trong số các TH được siêu âm Doppler mạch

máu thận thì phát hiện dấu hiệu của RĐTMT ở

20/26 TH, chiếm tỷ lệ 76,9% Siêu âm Doppler

nhạy trong việc phát hiện các tổn thương mạch

máu(14) Đặc biệt trên siêu âm màu Doppler, dòng

máu chảy với tốc độ cao làm xuất hiện hiện

tựợng loạn sắc (aliasing) trên hình ảnh Doppler,

ngoài ra còn nhìn thấy các chấm tín hiệu màu giả

tạo xuất hiện ở vùng mô xung quanh, tạo nên

bởi hiện tượng rung của mô xung quanh gây ra

do sự lan truyền lực xoáy của dòng chảy(17) Tất

cả những tính chất này phản ánh khá chính xác

đặc tính huyết động của RĐTMT(20) Vì vậy siêu

âm Doppler là phương tiện thích hợp để phát

hiện và theo dõi sau điều trị RĐTMT(17)

Chụp cắt lớp điện toán (CT scan)

Trong các nghiên cứu cũng cho thấy CT

scan có khả năng phát hiện RĐTMT khá cao,

đặc biệt CT scan có tiêm thuốc cản quang có

khả năng dựng hình mạch máu và cung cấp

hình ảnh giải phẫu học chính xác của động

mạch, tĩnh mạch thận cũng như hình ảnh của

các dị dạng mạch máu Trong nghiên cứu

chúng tôi, chụp cắt lớp điện toán phát hiện

được dấu hiệu của RĐTMT ở 24/29 TH, chiếm

tỷ lệ 82,8% Trong đó dấu hiệu thường gặp

nhất là dấu hiệu thuốc hiện sớm ở tĩnh mạch

thận và tĩnh mạch chủ dưới trong thì động

mạch của quá trình chụp CT scan có thuốc cản

quang, đây cũng là dấu hiệu giúp phát hiện

RĐTMT(6)

Chụp X quang mạch máu với kỹ thuật xóa nền

(DSA)

Tất cả các THtrong nghiên cứu của chúng

tôi đều được chẩn đoán xác định RĐTMT trên

chụp hình mạch máu Chụp hình mạch máu

xóa nền (DSA) vẫn là tiêu chuẩn vàng trong

chẩn đoán RĐTMT giúp xác định vị trí và số lượng các nhánh động mạch cấp máu cho RĐTMT, ngoài ra trong quá trình chụp động mạch chúng ta còn có thể điều trị bằng cách bơm các vật liệu thuyên tắc lỗ rò qua catheter Chụp động mạch của một RĐTMT thể hiện trực quan chất cản quang nhanh chóng vào trong tĩnh mạch chủ dưới trong vòng vài giây sau tiêm chất cản quang vì luồng thông nhanh chóng giữa máu từ hệ thống động mạch với hệ thống tĩnh mạch Giảm đậm độ trên nephrogram cũng có thể xuất hiện đầu xa của các RĐTMT Trong nghiên cứu chúng tôi, vị trí RĐTMT thường gặp nhất là cực giữa với tỷ lệ 41,2% Vị trí ít gặp nhất là rốn thận nằm ngoài nhu mô thận với tỷ lệ 8,8%.Các nghiên cứu về RĐTMT khác ghi nhận RĐTMT tại rốn thận có lưu lượng rất lớn, ảnh hưởng nhiều lên huyết động của cơ thể, từ đó gây suy tim và thường kèm giãn lớn tĩnh mạch thận nên cho rằng vị trí RĐTMT tại rốn thận hay không phải tại rốn thận là yếu tố cần xem xét khi chọn lựa phương pháp điều trị(21) Qua hình ảnh DSA, dấu hiệu rò động tĩnh mạch thường gặp nhất

là dấu hiệu thuốc hiện sớm ở tĩnh mạch thận

và tĩnh mạch chủ dưới trong thì động mạch, chiếm tỷ lệ 100% Dấu hiệu “nidus” trên phim DSA chiếm tỷ lệ 50% Đây là những dấu hiệu giúp chẩn đoán xác định RĐTMT(6) Dấu hiệu

ít gặp nhất là dấu thuốc cản quang thoát mạch với tỷ lệ 11,8%, dấu hiệu này cho thấy chảy máu đang diễn tiến Về bất thường mạch máu khác đi kèm với RĐTMT thì hình ảnh giả phình chiếm tỷ lệ cao nhất với tỷ lệ 32,4%

Phân loại rò động-tĩnh mạch thận

Trong mẫu nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy RĐTMT bẩm sinh chiếm đa số với tỷ lệ 64,7%, tỷ

lệ RĐTMT mắc phải chỉ chiếm 35,3% các TH RĐTMT bẩm sinh dạng ngoài thân với đặc trưng

là cấu trúc “nidus” chiếm 50% toàn bộ các TH trong mẫu nghiên cứu Nếu chỉ xét trong số các trường hợp RĐTMT bẩm sinh thì dạng ngoài thân chiếm đa số với với tỷ lệ 77,3% Ngược lại,

Trang 7

trong các nghiên cứu nước ngoài thì RĐTMT

mắc phải luôn chiếm đa số, với tỷ lệ 70-80%(1,27)

Các nghiên cứu cũng nhấn mạnh tần suất

RĐTMT có xu hướng gia tăng cùng với việc gia

tăng của sinh thiết thận và phẫu thuật lấy sỏi

thận qua da, do các can thiệp này gây ra phần

lớn các trường hợp RĐTMT mắc phải(19) Riêng

trong nhóm rò động mạch – tĩnh mạch bẩm sinh

thì các nghiên cứu khác cho thấy rò động mạch –

tĩnh mạch dạng ngoài thân vẫn chiếm đa số,

tương tự với nghiên cứu của chúng tôi(13)

Nghiên cứu cho thấytrong các trường hợp

RĐTMT mắc phải thì nguyên nhân chấn thương

hoặc vết thương thận chiếm nhiều nhất với tỷ lệ

83,3% RĐTMT sau sinh thiết thận và phẫu thuật

lấy sỏi thận đều chỉ chiếm 8,3% các trường hợp

RĐTMT mắc phải.Trong các nghiên cứu nước

ngoài thì sinh thiết thận lại là nguyên nhân hàng

đầu của RĐTMT và làm cho RĐTMT mắc phải

chiếm đa số Các nghiên cứu ghi nhận RĐTMT

do sinh thiết thận chiếm đến 3,8-15% các TH sinh

thiết thận(15,23) Với sự gia tăng của sinh thiết thận

và phẫu thuật lấy sỏi thận qua da thì tần suất

RĐTMT cũng tăng theo(16)

Điều trị

Chỉ định điều trị là RĐTMT có biến chứng

như tiểu máu kéo dài, đau, tăng huyết áp, suy

tim Ngày nay phương pháp khởi đầu của điều

trị RĐTMT thường là thuyên tắc mạch dưới sự

hướng dẫn của chụp hình mạch máu Nhiều tác

giảủng hộ quan điểm can thiệp nội mạch là lựa

chọn ưu tiên trong các trường hợp RĐTMT, chỉ

khi nào đánh giá trên hình ảnh DSA là RĐTMT

vị trí tại rốn thận với lưu lượng lớn, RĐTMT tái

phát hoặc thất bại với can thiệp nội mạch thì

phẫu thuật mới được cân nhắc chọn lựa(15,23)

Chọn lựa phương pháp điều trị rò động mạch –

tĩnh mạch cần cân nhắc các yếu tố vị trí, phân

loại và bệnh cảnh lâm sàng của từng bệnh nhân

Ngoài ra cần ưu tiên cho các phương pháp điều

trị có thể giúp bảo tồn tối đa nhu mô thận như

can thiệp nội mạch, ghép thận tự thân, cắt thận bán phần(6)

Can thiệp nội mạch

Trong mẫu nghiên cứu có 22 TH được can thiệp nội mạch, đa số kết quả các TH can thiệp nội mạch là thành công với tỷ lệ 81,8%

Bảng 15: Đối chiếu tỷ lệ thành công của can thiệp nội

mạch trong điều trị RĐTMT của các nghiên cứu

Nghiên cứu Cỡ mẫu Tỷ lệ thành

công

Loffroy và cộng sự (2007)(15) 12 100% Lorenzen và cộng sự (2012)(16) 20 95% Takebayashi và cộng sự

(1998)(28)

Tỷ lệ thành công của can thiệp nội mạch trong điều trị RĐTMT trong nghiên cứu chúng tôi là khá tương đồng với kết quả của các nghiên cứu khác trên thế giới Trong hai nghiên cứu của Loffroy và Lorenzen, đối tượng nghiên cứu là RĐTMT mắc phải sau sinh thiết thận nên có đặc điểm RĐTMT không có cấu trúc “nidus”, đa số chỉ có 1 động mạch và lưu lượng máu qua lỗ rò thấp nên có tỷ lệ thành công lên đến 95 – 100%(15,16) Qua đó chúng tôi cũng như các tác giả khác nhận thấy can thiệp nội mạch là phương pháp điều trị có hiệu quả cao và giúp bảo tồn tối

đa nhu mô thận, vì vậy phương pháp này nên được ưu tiên chọn lựa trong điều trị RĐTMT(15,16) Trong nghiên cứu có 4 TH can thiệp nội mạch thất bại chiếm tỷ lệ 18,2%, chúng tôi nhận thấy tất cả các TH này đều là RĐTMT mắc phải Trong RĐTMT mắc phải sự thông nối động tĩnh mạch không thông qua cấu trúc “nidus” và có lưu lượng thường cao hơn so với RĐTMT có

“nidus”, điều này khiến việc can thiệp nội mạch làm thuyên tắc hoàn toàn rò động tĩnh mạch khó khăn hơn(13)

Trong nghiên cứu chúng tôi, hội chứng sau thuyên tắc (PES) là thường gặp nhất, với tỷ lệ 31,8% các TH có hội chứng sau thuyên tắc mạch, các TH này triệu chứng của PES tự hết sau 3 đến 5 ngày Hội chứng sau thuyên tắc mạch (PES) đôi khi có thể xảy ra sau khi

Trang 8

thuyên tắc qua catheter động mạch và thường

bao gồm các triệu chứng sốt, đau thắt lưng,

buồn nôn và ói mửa(9) Tỷ lệ biến chứng PES

của chúng tôi thấp hơn các nghiên cứu khác có

thể vì các TH đều được can thiệp nội mạch

chọn lọc nhằm giảm thiểu phần nhu mô thận

hoại tử và do đó giảm thiểu PES(15,26)

Trong số các TH được can thiệp nội mạch

có 19/22 TH được theo dõi, tần suất tái phát là

4/19 TH, chiếm tỷ lệ 21,1% Trong 4 TH tái

phát có 2 TH được phẫu thuật cắt thận bán

phần, 1 TH được can thiệp nội mạch lại và 1

TH không can thiệp

Phẫu thuật

Trong các TH được can thiệp có 4/26 TH

được phẫu thuật, chiếm tỷ lệ 15,4% Tất cả các

TH này đều thành công trong điều trị RĐTMT,

bao gồm 2 TH ghép thận tự thân và 2 TH cắt

thận Các nghiên cứu khác ghi nhân phẫu thuật

được chỉ định khi không thể can thiệp nội mạch

do RĐTMT lưu lượng cao, can thiệp nội mạch

thất bạihay RĐTMT tái phát(22) Phẫu thuật cắt

thận là phương pháp điều trị triệt để điều trị các

RĐTMT lưu lượng lớn nhưng không tránh khỏi

làm tổn thương chức năng thận(22)

Trong số các TH phẫu thuật có 3 TH có triệu

chứng suy tim và một TH có triệu chứng tăng

huyết áp kháng trị Tất cả các TH này đều là

RĐTMT không có “nidus”, bao gồm: 2 trường

hợp RĐTMT bẩm sinh dạng tại thận và 2 trường

hợp RĐTMT mắc phải

Phương pháp ghép thận tự thân giúp sửa

chữa các bất thường mạch máu trong RĐTMT và

bảo tồn chức năng của thận có RĐTMT Điều

này đặc biệt quan trọng nếu bệnh nhân có thận

độc nhất hoặc thận đối bên có bệnh lý Kĩ thuật

này tuy có nhiều ưu điểm nhưng là một kĩ thuật

phức tạp, đòi hỏi sự chuẩn bị tốt cũng như kinh

nghiệm của phẫu thuật viên(29)

Trong các TH được can thiệp có 2/26 TH

được chỉ định cắt thận, chiếm tỷ lệ 7,7% Trường

hợp thứ nhất là RĐTMT phải mắc phải do vết

thương thận, có vị trí RĐTMT ở rốn thận, lưu

lượng cao, thận teo nhỏ Trường hợp thứ hai là RĐTMT mắc phải trên thận ghép sau sinh thiết thận Trường hợp này có thải ghép mạn, suy thận với creatinin trước can thiệp là 3,2 mg/dL, tăng huyết áp và suy tim DSA cho thấy hình ảnh RĐTMT ở 1/3 giữa-trên thận ghép, lưu lượng cao Cả 2 TH này thận đều có dấu hiệu suy giảm chức năng nặng

Theo dõi sau phẫu thuật không ghi nhận được trường hợp nào tái phát sau phẫu thuật Trong nghiên cứu của Osawa và cộng sự, năm trường hợp phẫu thuật điều trị RĐTMT được theo dõi và không ghi nhận tái phát, phẫu thuật được xem là phương pháp điều trị triệt để(22)

KẾT LUẬN

Can thiệp nội mạch trong điều trị RĐTMT được ưu tiên chọn lựa trong đa số các TH vì các

ưu điểm của một phương pháp điều trị ít xâm hại

và có tỷ lệ thành công cao Thất bại sau can thiệp nội mạch có liên quan đến phân loại RĐTMT, trong đó RĐTMT mắc phải dễ thất bại hơn khi can thiệp nội mạch Tuy nhiên can thiệp nội mạch thường có biến chứng là hội chứng sau thuyên tắc Tái phát sau can thiệp nội mạch chủ yếu xảy

ra ở dạng RĐTMT bẩm sinh dạng ngoài thân và

do không thể thuyên tắc hết cấu trúc “nidus” và các nhánh động mạch cấp máu Trong trường hợp quá chỉ định can thiệp nội mạch thì ghép thận tự thân hoặc cắt thận bán phần nên là ưu tiên lựa chọn kế tiếp vì giúp bảo tồn chức năng thận có rò động-tĩnh mạch Tuy nhiên để kết luận về vai trò của các phương pháp này trong thực tế lâm sàng tại Việt Nam thì chúng ta cần những nghiên cứu trên số lượng bệnh lớn hơn và thời gian theo dõi lâu dài hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

angiography of renal arteriovenous fistulae: a report of two cases” Vasc Endovascular Surg, 43: 416–420

following subintimal recanalization” Vasc Endovascular Surg, 44(3): 223-31

Int Angiol, 9(2): 141-146

Trang 9

4 Campbell JE, Davis C, Defade BP, Tierney JP et al (2009) Use

of an Amplatzer Vascular Plug for transcatheter embolization

of a renal arteriovenous fistula Vascular, 17: 40–43

angiographic detection of arteriovenous fistula after biopsy in

a renal allograft with CO2 compared with iodinated contrast

medium J Vasc Interv Radiol;17(12): 1963-6

diagnosis and endovascular management.”, Seminars in

Interventional Radiology,26(3): 253–261

(2010) “Can thiệp nội mạch trong niệu khoa: kết quả bước

đầu qua 14 trường hợp tại bệnh viện Bình Dân” Tạp chí Y

Học Thành Phố Hồ Chí Minh, tập 14, số 1, tr 440-447

Başaran C, Cakir B (2008) “Noninvasive imaging findings of

idiopathic renal arteriovenous fistula” Diagn Interv Radiol,

14: 103–105

considerations.”, Techniques in Vascularand Interventional

Radiology 2(2): 114-122

10 Hà Văn Ngạc, Trịnh Xuân Hội (1991) “Một trường hợp thông

động mạch thận với tĩnh mạch chủ bụng làm thiếu máu thận

gây tăng huyết áp” Y Học Thực Hành, Hà Nội, số 6, tr 32-33

11 Lacombe M (1985) “Renal arteriovenous fistula following

nephrectomy” Urology; 25(1): 13-16

12 Lê Thanh Dũng, Ngô Lê Lâm, Nguyễn Duy Huề, Đỗ Ngọc

Sơn, Nguyễn Vũ Khải Ca (2008) “Điều trị thông động tĩnh

mạch thận bằng phương pháp điều trị can thiệp nội mạch

nhân 3 trường hợp” Y học Việt Nam, số 2, tập 349, tr 5-9

13 Lee BB, Baumgartner I, Berlien H, Bianchini G, et al (2013),

“Consensus Document of the International Union of

Angiology (IUA)-2013 Current concepts on the management

of arterio-venous malformations.”, Int Angiol 32(1): 9-36

14 Lee BB, Lardeo J and Neville R (2009), “Arterio-venous

malformation: how much do we know?”, Phlebology 24(5):

193-200

15 Loffroy R, Guiu B, Lambert A, Mousson C, et al.(2007),

“Management of post-biopsy renal allograft arteriovenous

fistulas with selective arterial embolization: immediate and

long-term outcomes.”, Clinical Radiology 63(6): 657-665

16 Lorenzen J, Schneider A, Körner K, et al.(2012), “Post-biopsy

arteriovenous fistula in transplant kidney: Treatment with

superselective transcatheter embolisation.”, European Journal

of Radiology 81(5): 721-726

17 Lovaria A, et al (1999) “Interventional radiology in the

treatment of urological vascular complications” Ann Urol

(Paris);33(3):156

18 Marugami N, Hirai T, Yamashita N, et al (2009)

malformations.”, Journal of Medical Ultrasonics 36(1): 45-47

19 Merkus JWS, Zeebregts CJAM, Hoitsma AJ, et al 1993) “High

incidence of arteriovenous fistula after biopsy of kidney

allografts”, British Journal of Surgery 80(3): 310-312

20 Nguyễn Phước Bảo Quân, Phan Trọng An, Hoàng Minh Lợi, Nguyễn Trọng Khoan (2001) “Vài nhận xét nhân hai trường hợp dị đạng động tĩnh mạch thận bẩm sinh” Y Học Việt Nam, số 11, phần 1, tr 79-83

21 Nitin G, Manju K, Jeremy LF, et al (2011), “Contemporary Management of Giant Renal and Visceral Arteriovenous Fistulae”, Journal of Endovascular Therapy, Vol 18, No

6:811-818

22 Osawa T, Watarai Y, Morita K, et al (2006) “Surgery for giant high-flow renal arteriovenous fistula: experience in one institution.”, BJU Int.97(4): 794-798

23 Perini S, Gordon RL, LaBerge JM, et al (1998), “Transcatheter embolization of biopsy-related vascular injury in the transplant kidney: immediate and long-term outcome.” J Vasc Interv Radiol 9(6): 1011-1019

24 Saliou C, Raynaud A, Blanc F, Azencot M (1998) “Idiopathic renal arteriovenous fistula: treatment with embolization.” Ann Vasc Surg, 12:75–77

25 Seitz M, Waggershauser T, Khoder W: Congenital intrarenal malformation presenting with gross hematuria after endoscopic intervention: a case report J Med Case Reports

2008, 2:326

26 Somani BK, Nabi G, Thorpe P, Hussey J, McClinton S: Therapeutic transarterial embolisation in the management of benign and malignant renal conditions Surgeon 2006, 4:348–

352

27 Takaha M, Matsumoto A, Ochi K, Takeuchi M, Sonoda T (1980) Intrarenal arteriovenous malformation J Urol, 124:315–

318

28 Takebayashi S, Hosaka M, Kubota Y, et al (1998),

arteriovenous malformations: efficacy and damages in 30

1998;159(3):696-701

29 Trần Ngọc Sinh, Dương Thị Kim Cúc, Dư Thị Ngọc Thuvà cs (2010), “Ghép thận tự thân trong hẹp và dò động tĩnh mạch thận: nhân một trường hợp” Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, tập 14, số 1, tr 22-26

30 Trocciola SM, Chaer RA, Lin SC, et al (2005) Embolization of renal artery aneurysm and arteriovenous fistula: a case report Vasc Endovascular Surg, 39:525–529

31 Varela ME (1982) Aneurisma arteriovenoso de los vasos renales y asistolia consecutiva Rev Med Latino-Am, 14:32–44

32 Vaughan ED, Wein AJ, Kavoussi LR (2002) “Anomalies of the upper urinary tract” In: Campbell Wash Campbell's Urology 8th edition, 3422–3423, Elsevier Science

Ngày nhận bài báo: 24/10/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/10/2014 Ngày bài báo được đăng: 10/01/2015

Ngày đăng: 15/01/2020, 12:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm