1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nồng độ bạch cầu trung tính nước bọt và tình trạng sức khỏe nha chu

5 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 268,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thực hiện với mục tiêu đánh giá nồng độ bạch cầu trung tính (BCTT) nước bọt ở các tình trạng sức khỏe nha chu và mối liên quan giữa nồng độ BCTT nước bọt với các chỉ số nha chu lâm sàng.

Trang 1

NỒNG ĐỘ BẠCH CẦU TRUNG TÍNH NƯỚC BỌT

VÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE NHA CHU

Đỗ Thu Hằng*, Thị Hồng Tươi**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu thực hiện với mục tiêu đánh giá nồng độ bạch cầu trung tính (BCTT) nước bọt ở các

tình trạng sức khỏe nha chu và mối liên quan giữa nồng độ BCTT nước bọt với các chỉ số nha chu lâm sàng

Đối tượng và phương pháp: Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả với cách chọn mẫu thuận tiện trên 60 đối

tượng, chia thành 3 nhóm: nhóm mô nha chu khỏe mạnh, nhóm viêm nướu và nhóm viêm nha chu Các đối tượng được đánh giá tình trạng sức khỏe nha chu qua các chỉ số PLI, GI, BOP và PPD; định lượng nồng độ BCTT nước bọt bằng cách cho đối tượng súc miệng trong 30 giây, nhuộm tế bào trong mẫu nước bọt bằng AO và đếm trực tiếp dưới kính hiển vi huỳnh quang

Kết quả: nghiên cứu cho thấy trung bình nồng độ BCTT nước bọt (của mẫu súc miệng 30 giây) ở mô nha

chu khỏe mạnh, viêm nướu và viêm nha chu lần lượt là: 4,55x10 4 ; 1,89x10 5 và 4,01x10 6 tế bào/ml Sự khác biệt giữa các nhóm rất có ý nghĩa thống kê Nồng độ BCTT nước bọt có tương quan yếu với các chỉ số nha chu: PLI,

GI và BOP nhưng có tương quan mạnh với PPD

Kết luận: Nghiên cứu đề nghị dùng nồng độ BCTT nước bọt như một dấu ấn đánh giá tình trạng nhiễm

trùng mô nha chu

Từ khóa: nồng độ BCTT nước bọt; mô nha chu khỏe mạnh, viêm nướu, viêm nha chu, độ sâu túi nha chu

ABSTRACT

THE ORAL NEUTROPHIL LEVEL AND PERIODONTAL HEALTH STATUS

Do Thu Hang, Thi Hong Tuoi * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 185 - 189

Objects: The objectives of this study were to measure oral neutrophil level obtained in a standardized oral

rinse from periodontally healthy and diseased subjects and to assess the association between the oral neutrophil level and the clinically periodontal parameters

Methods: 60 subjects were recruited They were divided into three groups based on the Gingival Index (GI)

and the probing pocket depth (PPD) as clinically healthy (group 1), gingivitis (group 2) and chronic periodontitis (group 3) The subjects were assessed for PLI (plaque index), GI, BOP (bleeding on probing), PPD The rinse samples were collected by asking subjects to rinse with 15 ml of 0.9% saline for

30 seconds Cells in the rinse samples were stained with acridine orange and neutrophil counts were carried out using a fluorescence microscope

Results: Average oral neutrophil levels of subjects with periodontally healthy, gingivitis and periodontitis

were 4.55x10 4 ; 1.89x10 5 and 4.01x10 6 cell/ml, respectively There was statistically significant difference between groups The strength of association was the strongest between PPD and oral neutrophil level

Conclusion: the oral neutrophil level was a good marker of periodontal inflammation

Keywords: oral neutrophil level, periodontal healthy, gingivitis, periodontitis, probing pocket depth

*Bộ môn Nha Chu- Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.HCM

**Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.HCM

Tác giả liên lạc: ThS Đỗ Thu Hằng ĐT: 0938141091 Email: rhm.hang.do1@gmail.com

Trang 2

MỞ ĐẦU

Dưới các chất kích thích là IL-8 và ICAM-1

(phân tử bám dính các tế bào), hàng ngày có

khoảng 1-2% bạch cầu từ mạch máu nướu di

chuyển qua lớp biểu mô kết nối đi vào khe

nướu, trong đó BCTT chiếm đến 95%(4) Tại đây

chúng tạo thành hàng rào chống sự hình thành

màng bám vi khuẩn Từ khe nướu, bạch cầu

trung tính đi vào nước bọt và đa phần bạch cầu

trong nước bọt đều có nguồn gốc từ khe nướu Ở

mô nha chu khỏe mạnh (không viêm) vẫn có sự

hiện diện của BCTT trong khe nướu Các nhà

nghiên cứu cho rằng sự di chuyển của bạch cầu

vào khe nướu khỏe mạnh là quá trình sinh lý

giúp duy trì sức khỏe chứ không phải là đáp ứng

viêm thực sự Tuy nhiên sự hiện của bạch cầu

trung tính không phải lúc nào cũng có tính bảo

vệ(1) Tốc độ di chuyển BCTT vào khoang miệng

tăng theo mức độ nhiễm trùng của mô nha chu

Ở mô nha chu nhiễm trùng, sự gia tăng số lượng

và chức năng hoạt động của BCTT tương ứng

với mức độ phá hủy của sang thương(2,6) Có sự

khác biệt có ý nghĩa về nồng độ BCTT nước bọt

giữa VNC trung bình và nặng so với mô nha chu

khỏe mạnh Bender JS, 2006(6) Tuy nhiên số

lượng nghiên cứu còn ít và ở Việt Nam chưa có

nghiên cứu đánh giá nồng độ BCTT nước bọt ở

các tình trạng sức khỏe nha chu khác nhau

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá: nồng

độ bạch cầu trung tính nước bọt ở các tình trạng

sức khỏe nha chu khác nhau; mối liên quan giữa

nồng độ BCTT nước bọt và các chỉ số nha chu

lâm sàng

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả với cách chọn mẫu thuận

tiện

Đối tượng nghiên cứu

60 đối tượng tham gia nghiên cứu từ các

bệnh nhân đến khám tại khoa Răng Hàm Mặt,

Đại học Y Dược, TP HCM, tuổi từ 18 đến 60,

có sức khỏe toàn thân tốt, không có bệnh lý cấp tính

Tiêu chuẩn loại trừ

Có bệnh toàn thân: đái tháo đường, bệnh hô hấp (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính), viêm khớp dạng thấp, bệnh tim mạch

Tình trạng dinh dưỡng: suy dinh dưỡng (BMI < 18,5) hay béo phì (BMI > 25)

Còn ít hơn 20 răng

Chải răng hằng ngày: ít hơn 2 lần

Sử dụng thuốc kháng sinh, kháng viêm, ức chế miễn dịch trong vòng 3 tháng trước đó Điều trị nha chu trong vòng 6 tháng trước

đó

Có tổn thương ở niêm mạc miệng như vết loét, áp-tơ, viêm lưỡi hay sâu răng nhiều

Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi giải thích qui trình nghiên cứu

Bệnh nhân được khám toàn bộ miệng với các chỉ số nha chu: PLI, GI, BOP và PPD và chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm gồm 20 đối tượng, theo tiêu chuẩn sau:

Nhóm mô nha chu khỏe mạnh: các vị trí có PPD <= 3mm và trung bình GI: 0-0,5

Nhóm viêm nướu: các vị trí có PPD <= 3mm, trung bình GI > 1

Nhóm viêm nha chu: có ít nhất 1 vị trí PPD

>= 5mm kèm BOP (+)

Các tiêu chí đánh giá lâm sàng

Chỉ số mảng bám (PLI); Chỉ số viêm nướu (GI); Chỉ số chảy máu khi thăm dò (BOP); Độ sâu khe nướu/túi nha chu (PPD)(5)

Thu thập nước bọt

Việc rửa miệng được thực hiện bằng cách cho bệnh nhân ngậm 15ml nước muối sinh lý trong miệng, đưa qua đưa lại như súc miệng trong vòng 30 giây rồi nhả vào ly nhựa vô trùng Sau đó chuyển mẫu sang ống nhựa polypylene

và đem lưu giữ ngay trong thùng đá (40C) cho đến khi xử lý Việc đếm BCTT phải được thực

Trang 3

Tất cả việc khám lâm sàng và điều trị nha

khoa khác trong miệng đều thực hiện trước khi

lấy mẫu ít nhất 1 ngày để tránh mẫu bị nhiễm

máu Bệnh nhân không được ăn hay uống trước

lấy mẫu ít nhất 1 giờ để tránh loại bỏ BCTT trước

khi lấy mẫu Bệnh nhân súc miệng sơ qua với

nước sạch để loại bỏ mảnh vụn thức ăn trước lấy

mẫu 10 phút và ngay trước khi lấy mẫu yêu cầu

bệnh nhân nuốt nước bọt

Qui trình xử lý mẫu và đếm tế bào

Mẫu được quay ly tâm 3000 vòng/phút trong

vòng 10 phút Loại bỏ dịch nổi, thêm 10 ml nước

muối sinh lý

Ly tâm lần 2: 3000 vòng/phút trong 10 phút

Loại bỏ dịch nổi, thêm 500µl nước muối sinh

lý (bảo quản mẫu ở 40c)

Nhuộm mẫu bằng Acrydin orange (AO) để

đếm tế bào: 250 µl dung dịch mẫu + 4 µg AO

trong tối 15 phút: đếm BCTT bằng buồng đếm

thủy tinh Neubauer Improved, tráng bạc,

V-Slash (bright line), mark CE, loại cải tiến của

hiển vi huỳnh quang

Công thức đếm tế bào

bào /ml)

Trong đó, N là trung bình số lượng tế bào BCTT đếm được ở 4 khu vực trên buồng đếm

Dưới kính hiển vi, mẫu nước bọt chứa đa số

là BCTT, 1 ít tế bào biểu mô và vụn thức ăn

Huấn luyện định chuẩn

Chỉ số Kappa đánh giá độ kiên định của người khám lâm sàng cho các chỉ số PLI, GI, BOP

và PPD lần lượt là: 0,82; 0,74; 0,84 và 0,76; của người đếm BCTT nước bọt là 0,9

Xử lý – phân tích số liệu

Các thông tin và số liệu thu thập được phân tích và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0

So sánh sự khác biệt các chỉ số PLI, GI, PPD

và nồng độ BCTT nước bọt giữa từng cặp nhóm bằng kiểm định t

Xác định mối tương quan giữa nồng độ BCTT nước bọt với các chỉ số lâm sàng qua hệ số tương quan Pearson

KẾT QUẢ

Phân bố tuổi, giới tính trong mẫu nghiên cứu

Bảng 1 Số bệnh nhân và trung bình tuổi của từng nhóm

Giới tính

Trung bình tuổi- So sánh giữa các nhóm

P=0,002

P=0,000

Có sự khác biệt về sự phân bố giới tính giữa các nhóm

Bảng 2 Trung bình, độ lệch chuẩn các chỉ số lâm sàng PLI, GI, BOP, PPD và nồng độ BCTT nước bọt ở từng

nhóm

Nhóm mô nha chu khỏe mạnh có tuổi trung

bình ít hơn nhóm viêm nướu, nhóm viêm nướu

có tuổi trung bình ít hơn nhóm viêm nha chu Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,01)

Trang 4

Trung bình nồng độ BCTT nước bọt ở nhóm

khỏe mạnh, viêm nướu và viêm nha chu lần lượt

là: 4,55 x104, 1,89x105 và 4, 01x106 tế bào/ml

Mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe nha chu với chỉ số nha chu lâm sàng và nồng độ BCTT/nước bọt

Bảng 3 So sánh tình trạng sức khỏe nha chu với chỉ số nha chu lâm sàng với nồng độ BCTT/nước bọt

P>0,05: không có sự khác biệt

P<0,01: sự khác biệt rất có ý nghĩa (**)

So với nhóm khỏe mạnh, nhóm viêm nướu

có chỉ số mảng bám, viêm nướu, chảy máu khi

thăm dò, độ sâu túi nha chu và nồng độ BCTT

nước bọt cao hơn rất có ý nghĩa thống kê

So với nhóm viêm nướu, nhóm viêm nha

chu có chỉ số mảng bám, viêm nướu và chảy

máu khi thăm dò không khác biệt nhưng có độ

sâu túi nha chu và nồng độ BCTT nước bọt cao

hơn rất có ý nghĩa thống kê

Bảng 4 Mối tương quan giữa nồng độ BCTT/nước

bọt với các chỉ số nha chu lâm sàng

Hệ số tương quan Pearson PLI GI %BOP PPD

Nồng độ BCTT nước bọt có liên quan với chỉ

số mảng bám, viêm nướu và chảy máu khi thăm

dò ở mức độ yếu nhưng liên quan mạnh với độ

sâu túi nha chu

BÀN LUẬN

Mẫu nghiên cứu của chúng tôi có sự chênh

lệch về độ tuổi giữa các nhóm Nhóm có mô nha

chu khỏe mạnh có tuổi ít hơn nhóm bệnh; nhóm

viêm nha chu có tuổi cao hơn nhóm viêm nướu

Tuy nhiên tuổi, giới tính không ảnh hưởng đến

nồng độ BCTT nước bọt(2) Trong nghiên cứu

này, trung bình nồng độ BCTT nước bọt của

nhóm có mô nha chu khỏe mạnh là 4,55x104 tế

bào/ml, thấp hơn rõ rệt so với nghiên cứu của

Bender JS (2x106 tế bào/ml) và của Landzberg

(6.78x105 tế bào/ml) (p<0,01) Ở cùng nhóm viêm

nha chu, nồng độ BCTT nước bọt (4,01x106 tế

bào/ml) thấp hơn so với 10x106 tế bào/ml trong

nghiên cứu của Bender nhưng ngang mức

Landzberg(7) Điều này có thể do sự khác biệt về đối tượng nghiên cứu (người Việt và người Canada) giữa các nghiên cứu

Kết quả của nghiên cứu cho thấy mối liên quan thuận giữa nồng độ BCTT nước bọt và mức

độ nhiễm trùng ở mô nha chu (khỏe mạnh, viêm nướu và viêm nha chu), tương đồng với kết luận của các nghiên cứu khác(2,7) Tình trạng nhiễm trùng mô nha chu tương ứng với tốc độ di chuyển của BCTT vào xoang miệng(6) Trong mô nha chu nhiễm trùng, sự gia tăng số lượng và chức năng hoạt động của bạch cầu trung tính tương ứng với mức độ phá hủy của sang thương(8) Vì vậy có thể sử dụng nồng độ BCTT nước bọt để ước đoán tình trạng nhiễm trùng toàn bộ của mô nha chu

Nghiên cứu cũng cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa nồng độ BCTT nước bọt với độ sâu túi nha chu với hệ số Pearson = 0,67, tương đồng với kết quả của Bender JS và Bhadbhade SJ(2,3) Tuy nhiên nồng độ BCTT nước bọt ở nhóm viêm nha chu trong nghiên cứu này cao gấp gần 100 lần so với nhóm khỏe mạnh, trong khi nghiên cứu của Bender JS cao gấp 5 lần, của Landzberg cao gấp 10 lần Điều này có thể do tiêu chuẩn chọn mô nha chu khỏe mạnh và viêm nha chu khác nhau giữa các nghiên cứu So với nghiên cứu của Landzberg, nhóm khỏe mạnh của chúng tôi có trung bình GI thấp hơn có ý nghĩa thống

kê, nghĩa là mô nha chu ít viêm hơn Ngoài ra tiêu chuẩn viêm nha chu trong các nghiên cứu trước là số vị trí túi nha chu Có thể nhóm viêm nha chu trong nghiên cứu chúng tôi có mức độ

Trang 5

nha chu cao hơn (trung bình độ sâu túi của

nhóm viêm nha chu trong các nghiên cứu trước

đây không được báo cáo)

So với các nghiên cứu trước, dù có sự khác

biệt về nồng độ BCTT nước bọt ở các tình trạng

sức khỏe nha chu trong nghiên cứu chúng tôi

nhưng có sự tương đồng về mối liên quan giữa

nồng độ BCTT nước bọt và tình trạng nhiễm

trùng nha chu

KẾT LUẬN

- Nồng độ BCTT nước bọt ở nhóm mô nha

chu khỏe mạnh, viêm nướu và viêm nha chu lần

lượt là: 4,55 x104, 1,89x105 và 4,01x106 tế bào/ml

- Có mối liên quan thuận giữa nồng độ BCTT

nước bọt với mức độ nhiễm trùng phá hủy mô

nha chu và liên quan mạnh nhất đối với độ sâu

túi nha chu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Barros SP, Williams R, Offenbacher S, Morelli T, (2016)

“Gingival crevicular fluid as a source of biomarkers for

periodontitis” Periodontol 2000; 70(1): 53-64

2 Bender JS, (2006) “Novel rinse assay for the quantification

of oral neutrophils and the monitoring of chronic periodontal

disease” J Periodontal Res; 41(3): 214-220

3 Bhadbhade SJ, Acharya AB, Thakur S, (2012) “Correlation between probing pocket depth and neutrophil counts in dental plaque, saliva, and gingival crevicular fluid”

Quintessence Int.; 43(2): 111-117

4 Delima AJ, Van Dyke TE, (2003) “Origin and function of the

cellular components in gingival crevice fluid” Periodontol

2000; 31: 55-76

5 Hujoel P (2015) Carranza’s Clinical Periodontology Publishing

company Saunders/Elservier, 12th edition, Chapter 4: page 68

6 Klinkhamer JM, Zimmerman S, (1969) “The function and reliability of the orogranulocytic migratory rate as a measure

of oral health” J Dent Res; 5 (suppl.): 709–714

7 Landzberg M, (2015) “Quantifying oral inflammatory load:

oral neutrophil counts in periodontal health and disease” J

Periodontal Res; 50(3): 330-336

8 Nussbaum G, Shapira L, (2011) “How has neutrophil research

improved our understanding of periodontal pathogenesis?” J

Clin Periodontol; 38 (Suppl 11): 49–59

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 22/02/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 12:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w