1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu hình thái dây thần kinh hạ thiệt đoạn dưới hàm trên xác người Việt Nam trưởng thành

6 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 269,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dây thần kinh hạ thiệt là dây thần kinh vận động cho hầu hết các cơ của lưỡi, ngoại trừ cơ khẩu cái lưỡi, chính nhờ đó mà lưỡi vận động tốt, góp phần tham gia thực hiện các chức năng bao gồm: Hô hấp, nói và nuốt. Hiện nay, đã có những phương tiện giúp xác định thần kinh trong phẫu thuật, tuy nhiên, nắm vững giải phẫu là một yếu tố quan trọng.

Trang 1

NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI DÂY THẦN KINH HẠ THIỆT

ĐOẠN DƯỚI HÀM TRÊN XÁC NGƯỜI VIỆT NAM TRƯỞNG THÀNH

Nguyễn Quang Minh*, Võ Văn Hải**, Trần Minh Trường***

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Dây thần kinh hạ thiệt là dây thần kinh vận động cho hầu hết các cơ của lưỡi, ngoại trừ cơ khẩu

cái lưỡi, chính nhờ đó mà lưỡi vận động tốt, góp phần tham gia thực hiện các chức năng bao gồm: hô hấp, nói và nuốt Hiện nay, đã có những phương tiện giúp xác định thần kinh trong phẫu thuật, tuy nhiên, nắm vững giải phẫu là một yếu tố quan trọng

Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát hình thái dây thần kinh hạ thiệt đoạn dưới hàm trên xác

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện bằng việc phẫu tích trên 30 dây thần

kinh hạ thiệt đoạn dưới hàm từ 15 xác được xử lý tại Bộ môn Giải phẫu học, trường Đại học Y Dược Tp.HCM với thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả

Kết quả: Chiều dài trung bình của thần kinh từ chỗ bắt đầu đi vào tam giác dưới hàm đến khi bắt đầu đi vào

cơ hàm móng là 34 ± 6,64 mm Đường kính trung bình tại vị trí đi vào tam giác dưới hàm là 2,85 ± 0,2 mm Góc tạo bởi nhánh quai cổ và đoạn nằm ngang trung bình là 65 độ Khoảng cách trung bình từ gân cơ nhị thân đến điểm bắt chéo giữa thần kinh và bụng sau của cơ là 19,53 ± 1,56 mm 100% bắt chéo động mạch lưỡi và bắt chéo mặt ngoài động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài trên chỗ chia động mạch cảnh chung 63,33% xuất hiện tĩnh mạch tùy hành và 10,53% trong số đó thần kinh nằm dưới tĩnh mạch

Kết luận: Bụng sau cơ nhị thân, động mạch chẩm, chỗ chia động mạch cảnh chung, bờ sau cơ hàm móng là

các mốc giải phẫu tốt để tìm thần kinh hạ thiệt trong phẫu thuật

Từ khóa: thần kinh hạ thiệt, vùng dưới hàm

ABSTRACT

MORPHOMETRIC STUDY OF THE SUBMANDIBULAR SEGMENT OF THE HYPOGLOSSAL NERVE

ON ADULT VIETNAMESE CADAVERS

Nguyen Quang Minh, Vo Van Hai, Tran Minh Truong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 102 - 106

Background: The hypoglossal nerve innervates all of the muscles of the tongue, except for the palatoglossus

muscle, therefore the tongue is able to operate well and plays a supporting role in human’s speaking, swallowing and breathing There are currently a number of methods to identify the hypoglossal nerve in surgery but understanding anatomy of the nerve is essentially important.

Objective: To describe morphological characters of the submandibular segment of the hypoglossal nerve on

adult Vietnamese cadavers

Materials and Methods: To dissect thirty samples from fifteen formaldehyde-fixed cadavers at the

Department of Anatomy of Ho Chi Minh University of Medicine and Pharmacy The method of descriptive cross-sectional study was applied

* Bác sĩ nội trú Tai Mũi Họng khóa 2014-2017, ĐHYD TPHCM,

** Bộ môn Giải phẫu học, Đại Học Y Dược TP.HCM, *** Bộ môn Tai Mũi Họng, Đại học Y Dược TP.HCM

Tác giả liên lạc: PGS TS Trần Minh Trường, ĐT: 0903726280, Email: tranminhtruong2005@yahoo.com

Trang 2

Results: The mean of length of the hypoglossal nerve from its crossing point with the posterior belly of

digastric muscle to its crossing point with the edge of the mylohyoid muscle is 34 ± 6.64 mm The average diameter of the nerve at its crossing point with the posterior belly of digastric muscle is 2.85 ± 0.2 mm The angle created from the ansa cervicalis branch and the horizontal segment is averagely 65 degrees The average distance between the digastric tendon and its crossing point with the posterior belly of digastric muscle is 19.53 ± 1.56 mm

It was observed in 100% cases that the hypoglossal nerve crosses the lingual artery and simultaneously crosses the internal and external carotid artery laterally above the bifurcation of common carotid artery The vena committans nervi hypoglossi was found in 63.33% cases; 10.53% of which are superior to the hypoglossal nerve

Conclusion: The posterior belly of digastric muscle, occipital artery, common carotid artery bifurcation

and the posterior edge of the mylohyoid muscle are the good landmarks in order to identify the hypoglossal nerve in surgery

Keywords: hypoglossal nerve, submandibular region

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dây thần kinh hạ thiệt hay dây thần kinh sọ

thứ XII là dây thần kinh chi phối cho hầu hết các

cơ của lưỡi, ngoại trừ cơ khẩu cái lưỡi, nhờ đó

mà lưỡi vận động tốt, tham gia thực hiện các

chức năng như hô hấp, nói và nuốt(5) Cùng với

sự phát triển của các phẫu thuật vùng đầu cổ,

biến chứng thần kinh hạ thiệt sau mổ đã được

quan tâm Theo tác giả Lê Hành, thần kinh hạ

thiệt là thần kinh dễ bị tổn thương trong phẫu

thuật bóc tách hạch và tuyến dưới hàm(4) Có

khoảng từ 1,1% - 31,5% liệt dây thần kinh hạ

thiệt sau các phẫu thuật vùng dưới hàm Hiện

nay có nhiều phương tiện giúp xác định thần

kinh trong phẫu thuật Tuy nhiên, việc nắm

vững giải phẫu là cơ bản và quan trọng Từ đó,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm khảo sát

đặc điểm hình thái của thần kinh hạ thiệt đoạn

dưới hàm trên xác với mục tiêu nghiên cứu là

khảo sát hình thái dây thần kinh hạ thiệt đoạn

dưới hàm trên xác

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

30 dây thần kinh hạ thiệt đoạn dưới hàm từ

15 xác được xử lý tại Bộ môn Giải phẫu học,

Trường Đại học Y Dược Tp.HCM từ tháng

06/2016 đến 06/2017

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Thi thể người Việt Nam trưởng thành được

xử lý tại Bộ môn Giải phẫu học

Không có dị tật bẩm sinh vùng đầu cổ Các cấu trúc nghiên cứu còn nguyên vẹn

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

Các nội dung nghiên cứu

Đặc điểm chung: tuổi, giới

Kích thước: chiều dài và đường kính của thần kinh tại một số vị trí

Đặc điểm của nhánh tạo thành rễ trên của quai cổ

Liên quan với các cơ mạch máu và các cấu trúc khác

Phương pháp phẫu tích

Rạch da, bóc tách vạt da sang hai bên

Bóc tách mỡ dưới da và cơ bám da cổ

Bộc lộ cơ ức đòn chũm, kéo cơ về phía sau bộc lộ bó mạch động mạch cảnh

Phẫu tích tìm bụng trước cơ nhị thân, gân trung gian, bụng sau cơ nhị thân Phẫu tích cẩn thận dọc theo bụng sau cơ nhị thân để tìm thần kinh hạ thiệt tại điểm bắt chéo của cơ và thần kinh

Tiếp tục phẫu tích dọc theo đường đi của thần kinh về phía sau và ra trước

Phẫu tích bộc lộ nhánh tạo rễ trên quai cổ, động mạch chẩm, động mạch lưỡi

Tiến hành đo đạc các kích thước, ghi nhận

Trang 3

kết quả vào phiếu thu thập số liệu, chụp ảnh

Cắt bỏ cơ hàm móng, quan sát mối liên quan

giữa thần kinh hạ thiệt với động mạch lưỡi và

ống tuyến dưới hàm

Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20

KẾT QUẢ

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng

tôi là 73,93 ± 13,63 tuổi Về giới tính, tỉ lệ nam/ nữ

trong nghiên cứu của chúng tôi là 1,5/1

Kích thước

Chiều dài một số đoạn của thần kinh hạ thiệt

Bảng 1 Chiều dài một số đoạn của thần kinh hạ thiệt

Từ chỗ chia nhánh quai cổ

đến khi bắt đầu đi vào tam

giác dưới hàm

35,4 32,1 33,8 ± 9,03

Từ khi bắt đầu đi vào tam

giác dưới hàm đến khi bắt

đầu đi vào cơ hàm móng

35,3 32,4 34 ± 6,64

Chiều dài trung bình của thần kinh đoạn

từ chỗ chia nhánh quai cổ đến khi bắt đầu đi

vào tam giác dưới hàm và từ điểm này đến khi

bắt đầu đi vào cơ hàm móng không có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai bên cổ và

giữa hai giới

Đường kính tại một số vị trí của thần kinh hạ

thiệt

Bảng 2 Đường kính tại một số vị trí của thần kinh hạ

thiệt

Tại chỗ chia nhánh quai cổ 3,46 2,78 3,02 ± 0,22

Tại vị trí đi vào tam giác

dưới hàm 3,28 2,68 2,85 ± 0,20

Nhánh quai cổ 1,34 0,78 0,94 ± 0,16

Đường kính trung bình ở nam > nữ, sự khác

biệt có ý nghĩ thống kê Chúng tôi đã đo tại ba vị

trí và nhận thấy đường kính thần kinh ở nam lớn

hơn ở nữ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Đặc điểm của nhánh quai cổ

Hiện diện 100% các mẫu

Góc tạo bởi nhánh quai cổ và đoạn nằm ngang trung bình là 65,07o± 6,67o

Khoảng cách từ chỗ chia nhánh đến góc hàm trung bình là: 30,73 ± 1,43 mm

Khoảng cách trung bình từ chỗ chia nhánh đến rãnh góc động mạch mặt trung bình là: 34,64

± 1,42 mm

Liên quan với các cấu trúc lân cận

Liên quan với cơ nhị thân

100% bắt chéo dưới bụng sau cơ nhị thân để

đi vào tam giác dưới hàm

Khoảng cách trung bình từ gân trung gian đến điểm bắt chéo là: 19,53 ± 1,56 mm

Liên quan với cơ hàm móng và cơ móng lưỡi

Thần kinh đi ở mặt ngoài cơ móng lưỡi và mặt trong cơ hàm móng

Liên quan đến động mạch chẩm

100% bắt chéo động mạch chẩm trên gốc của động mạch chẩm từ động mạch cảnh ngoài Khoảng cách từ chỗ chia động mạch cảnh chung đến gốc động mạch chẩm trung bình là: 8,3± 1,2 mm

Khoảng cách trung bình từ gốc động mạch chẩm đến điểm bắt chéo với thần kinh hạ thiệt là: 7,8± 0,78 mm

Liên quan với động mạch cảnh

Bảng 3 Liên quan giữa thần kinh hạ thiệt và động

mạch cảnh

Từ chỗ chia ĐMC chung đến chỗ bắt chéo

của TK với ĐMC trong 18,15 ± 0,95

Từ chỗ chia ĐMC chung đến chỗ bắt chéo

của TK với ĐMC ngoài 15,20 ± 0,95

Từ chỗ chia ĐMC chung đến chỗ chia nhánh

quai cổ của TKHT 25,04 ± 1,83

Đối với động mạch cảnh, thần kinh hạ thiệt luôn bắt chéo phía ngoài cả động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài phía trên chỗ chia của động mạch cảnh chung(3)

Trang 4

Liên quan với động mạch lưỡi

Khoảng cách trung bình từ thần kinh hạ thiệt

đến động mạch lưỡi tại bờ sau cơ hàm móng là:

2,91± 0,24 mm

Liên quan với tĩnh mạch tùy hành của thần

kinh hạ thiệt

Về mối liên quan với tĩnh mạch tùy hành,

chúng tôi nhận thấy đây là một tĩnh mạch tương

đối nhỏ Có 63,33% trường hợp có tồn tại tĩnh

mạch tùy hành Bên cạnh đó, trong nghiên cứu

này, chúng tôi nhận thấy có 10,53% các trường

hợp, tĩnh mạch tùy hành nằm dưới thần kinh hạ

thiệt

Liên quan với tuyến dưới hàm và ống tuyến

dưới hàm

Thần kinh chỉ liên quan với phần sâu của

tuyến dưới hàm

Thần kinh luôn đi sát và dưới ống tuyến

dưới hàm

BÀN LUẬN

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Số thi thể ≥ 60 tuổi chiếm 80% Tuổi cao cũng

là đặc điểm chung của hầu hết các nghiên cứu về

phẫu tích Ở người cao tuổi, các cấu trúc như

mạch máu, cơ có nhiều thay đổi về kích thước

Riêng về thần kinh hạ thiệt, tổng số sợi myelin

và diện tích quanh thần kinh trung bình của thần

kinh hạ thiệt ở người trưởng thành và người cao

tuổi là giống nhau Về giới tính, tỉ lệ nam/ nữ

trong nghiên cứu của chúng tôi là 1,5/1; tương

đồng với nghiên cứu của các tác giả như Salame

(2006), Cavalcanti (2010), Dong Seong Shin

(2012)(2,6,7)

Kích thước

Chiều dài một số đoạn của thần kinh hạ thiệt

Chiều dài trung bình của thần kinh đoạn từ

chỗ chia nhánh quai cổ đến khi bắt đầu đi vào

tam giác dưới hàm và từ điểm này đến khi bắt đầu đi vào cơ hàm móng không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa hai bên cổ và giữa hai giới Điều này cũng phù hợp với lý thuyết giải phẫu kinh điển là chiều dài của thần kinh hạ thiệt ở hai bên cổ tương đương nhau

Đường kính tại một số vị trí của thần kinh hạ thiệt

Do chưa đo chiều cao và ước lượng cân nặng trung bình của các thi thể nên chúng tôi không thể kết luận về mối liên quan giữa thể trạng và kích thước của thần kinh hạ thiệt Những nghiên cứu về chiều dài và đường kính của thần kinh hạ thiệt được sử dụng để ứng dụng và cải tiến cho

kĩ thuật nối VII – XII trong điều trị liệt mặt

Đặc điểm của nhánh quai cổ

Thần kinh hạ thiệt có hai loại nhánh chính là: các nhánh thông nối và các nhánh tận Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung mô tả một trong những nhánh lớn, dễ tìm của thần kinh hạ thiệt là nhánh quai cổ Sự hiện diện của nhánh này trong nghiên cứu của chúng tôi là 100% Trong nghiên cứu của Salame và cộng sự (2006),

sự hiện diện của nhánh này là 96%(6) Chứng tỏ, đây là một trong những nhánh hằng định của thần kinh hạ thiệt Cách dễ nhất để bộc lộ thần kinh hạ thiệt là tìm quai thần kinh hạ thiệt và đi theo nó hướng lên trên Theo tác giả Bademci (2006) thì nhánh quai cổ là mốc giải phẫu tốt để xác định thần kinh hạ thiệt(1) Bên cạnh đó, do có liên quan rất gần với động mạch cảnh trong nên

để bộc lộ đầy đủ động mạch cảnh trong cần phải bóc tách nhánh này

Liên quan với các cấu trúc lân cận

Liên quan với cơ nhị thân

Bụng sau cơ nhị thân là giới hạn của tam giác dưới hàm và nhiều tam giác giải phẫu khác ở vùng cổ Đây cũng là mốc giải phẫu dễ tìm

Trang 5

nhưng quan trọng trong các phẫu thuật vùng

dưới hàm nói riêng và vùng cổ nói chung Trong

nghiên cứu của này, chúng tôi nhận thấy 100%

thần kinh hạ thiệt bắt chéo phía trong bụng sau

cơ nhị thân và điểm bắt chéo nằm ở trên so với

bờ trên gân cơ nhị thân Do đó, đây là một mốc

giải phẫu tốt để xác định thần kinh hạ thiệt Theo

tác giả Salame, phương pháp xác định này là an

toàn vì chỉ có một cấu trúc quan trọng nằm nông

hơn so với bụng sau cơ nhị thân là nhánh bờ

hàm dưới của thần kinh mặt(6)

Liên quan với cơ hàm móng và cơ móng lưỡi

Những thao tác ở mặt ngoài cơ móng lưỡi

hay tại bờ sau cơ hàm móng sẽ có nguy cơ gây

tổn thương thần kinh

Liên quan đến động mạch chẩm

Tác giả Nathan và cộng sự đã chia mối liên

quan với động mạch chẩm thành ba dạng Trong

nghiên cứu này chúng tôi nhận thấy 100% liên

quan theo dạng III Bằng cách xác định gốc động

mạch chẩm từ chỗ chia của động mạch cảnh đi

lên trên, chúng ta có thể sử dụng động mạch

chẩm như một mốc để xác định thần kinh hạ

thiệt Bên cạnh đó, động mạch chẩm còn đóng

vai trò quan trọng trong việc cấp máu nuôi

dưỡng cho thần kinh hạ thiệt

Liên quan với động mạch cảnh

Có thể sử dụng chỗ chia động mạch cảnh

chung làm mốc để xác định thần kinh hạ thiệt

Tuy nhiên, khoảng cách này có nhiều thay đổi

trong các nghiên cứu do phụ thuộc vào vị trí của

chỗ chia động mạch cảnh Chỗ chia nằm càng

thấp thì khoảng cách giữa chỗ chia và thần kinh

hạ thiệt càng cao, nguy cơ tổn thương thần kinh

khi thao tác xung quanh động mạch cảnh càng

thấp và ngược lại

Liên quan với động mạch lưỡi

Đối với động mạch lưỡi, thần kinh hạ thiệt luôn bắt chéo phía ngoài tại gần gốc của động mạch lưỡi từ động mạch cảnh ngoài Tại bờ sau

cơ hàm móng, động mạch lưỡi luôn đi phía dưới thần kinh hạ thiệt

Liên quan với tĩnh mạch tùy hành của thần kinh hạ thiệt

Việc sử dụng tĩnh mạch tùy hành làm mốc

để xác định thần kinh hạ thiệt có thể không hiệu quả Điều này cũng phù hợp với kết quả trong nghiên cứu của Bademci và cộng sự khi tỉ lệ tìm thấy tĩnh mạch tùy hành trong nghiên cứu này lên đến 95% Việc bộc lộ hoặc bóc tách thần kinh

hạ thiệt tại vùng này có nguy cơ gây tổn thương tĩnh mạch tùy hành gây chảy máu và làm hạn chế tầm nhìn của phẫu trường

Liên quan với tuyến dưới hàm và ống tuyến dưới hàm

Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng quan sát thấy thần kinh hạ thiệt luôn đi bên dưới phần sâu của tuyến dưới hàm và tách biệt so với bao của tuyến dưới hàm Điều này giải thích vì sao thần kinh ít bị tổn thương khi bóc tách tuyến dưới hàm Ngược lại, thần kinh luôn đi sát với ống tuyến nên sẽ có nhiều nguy cơ bị tổn thương trong kĩ thuật thắt ống tuyến dưới hàm

KẾT LUẬN

Chiều dài và đường kính của thần kinh hạ thiệt ở hai bên cổ là tương đương nhau Đường kính trung bình của thần kinh ở nam lớn hơn ở

nữ Nhánh quai cổ là một nhánh hằng định và hữu ích để xác định thần kinh hạ thiệt Bụng sau

cơ nhị thân, bờ sau cơ hàm móng, động mạch chẩm, chỗ chia động mạch cảnh… là những mốc giải phẫu tốt để xác định thần kinh hạ thiệt trong phẫu thuật

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bademci G, Yasargil MG (2006) Microsurgical anatomy of the

hypoglossal nerve J Clin Neurosci, 13(8):841–7

2 Cavalcanti DD, Garcia-Gonzalez U, Agrawal A, Tavares PL,

Spetzler RF, Preul MC (2010) A clear map of the lower cranial

nerves at the superior carotid triangle World neurosurg,

74(1):188–94

3 Kim T, Chung S, Lanzino G (2009) Carotid artery-hypoglossal

nerve relationship in the neck: an anatomical work Neurol Res,

31(9):895–9

4 Lê Hành (2011) Nạo vét hạch cổ: phân loại, chỉ định và kỹ

thuật Tai Mũi Họng, 2 Nhà xuất bản Y học

5 Nguyễn Quang Quyền (2011) Các dây thần kinh sọ Bài giảng

giải phẫu học, 1 Nhà xuất bản Y học

6 Salame K, Masharawi Y, Rochkind S, Arensburg B (2006) Surgical anatomy of the cervical segment of the hypoglossal

nerve Clin Anat, 19(1):37–43

7 Shin DS, Bae HG, Shim JJ, Yoon SM, Kim RS, Chang JCl (2012) Morphometric study of hypoglossal nerve and facial nerve on

the submandibular region in Korean J Korean Neurosurg Soc,

51(5):253–61

Ngày nhận bài báo: 11/09/2017 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 02/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 28/02/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 11:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w