1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả điều trị nội khoa kết hợp vật lý trị liệu bệnh viêm cân gan chân

6 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 270,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc đánh giá kết quả điều trị bệnh viêm cân gan chân bằng nội khoa kết hợp vật lý trị liệu qua thang điểm đau VAS, chỉ số nhạy cảm đau gót chân HTI và độ dày cân gan chân trên siêu âm trước và sau điều trị.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA KẾT HỢP

VẬT LÝ TRỊ LIỆU BỆNH VIÊM CÂN GAN CHÂN

Bùi Xuân Hùng*, Cao Thỉ**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Bệnh viêm cân gan chân là nguyên nhân phổ biến nhất gây đau gót chân Có nhiều phương

pháp điều trị bệnh viêm cân gan chân, trong đó phương pháp giáo dục thay đổi lối sống, dùng các thuốc đường uống kèm vật lý trị liệu tuy đơn giản nhưng thường cho kết quả khả quan

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị bệnh viêm cân gan chân bằng nội khoa kết hợp vật lý trị liệu qua thang

điểm đau VAS, chỉ số nhạy cảm đau gót chân HTI và độ dày cân gan chân trên siêu âm trước và sau điều trị

Phương pháp: Mô tả loạt ca bệnh

Kết quả: Từ tháng 2/ 2018 đến tháng 9/2018, tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh,

chúng tôi đã điều trị cho 30 bệnh nhân viêm cân gan chân tuổi từ 28 đến 65 Về hiệu quả lâm sàng, sau 6 tuần điều trị, điểm đau VAS trung bình từ 7,7 ± 0,5 giảm xuống 2,4 ± 0,9, tương đương mức giảm 68,7%; chỉ số nhạy cảm đau HTI trung bình từ 1,8 ± 0,5 giảm xuống 0,8 ± 0,4, tương đương mức giảm 53,9% Về hiệu quả cận lâm sang, không có sự khác biệt về độ dày cân gan chân sau 6 tuần điều trị, độ dày cân gan chân trung bình trước và sau điều trị là 5,3 ± 0,6mm

Kết luận: Điều trị nội khoa kết hợp vật lý trị liệu là một biện pháp điều trị hiệu quả và an toàn đối với bệnh

viêm cân gan chân, vì vậy cần được khuyến cáo sử dụng trong thực hành lâm sàng

Từ khóa: Cân gan chân, viêm cân gan chân, vật lý trị liệu, đau gót chân

ABSTRACT

ASSESSING THE RESULTS OF TREATMENT OF PLANTAR FASCIITIS BY MEDICAL TREATMENT

COMBINED WITH PHYSIOTHERAPY

Bui Xuan Hung, Cao Thi

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 238-243

Background: Plantar fasciitis (PF) is the most common cause of heel pain There are some ways of treatment

for the disease However, methods such as lifestyle changes education, medical treatment, and physiotherapy are simple but may give a good result

Objective: To assess the results of treatment PF by medical treatment combined with physiotherapy through

visual analog scale (VAS), heel tenderness index (HTI), and the plantar fascia thickness on ultrasound before and after treatment

Method: Case series

Results: From February 2018 to September 2018, at University Medical Center, University of Medicine and

Pharmacy at Ho Chi Minh City, we treated 30 patients with PF, from 28 to 65 years of age In terms of clinical effectiveness: After 6 weeks of treatment, the average VAS pain point was 7.7 ± 0.5, decreased to 2.4 ± 0.9, equivalent to 68.7%; The average index of HTI was from 1.8 ± 0.5 to 0.8 ± 0.4, equivalent to 53.9% In terms of subclinical effectiveness: There was no difference in the plantar fascia thickness after 6 weeks of treatment, the average thickness of plantar fascia before and after treatment was similar, about 5.3 ± 0.6 mm

*Bệnh viện đa khoa khu vực quận Thủ Đức, ** Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: PGS.TS.BS Cao Thỉ ĐT: 0983.306003 Email: caothibacsi@ump.edu.vn

Trang 2

Conclusion: Medical therapy combined with physiotherapy is an effective and safe treatment for plantar

fasciitis, so it should be recommended for use in clinical practice

Keywords: Plantar fascia, plantar fasciitis, physiotherapy, pain at heel

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh viêm cân gan chân (VCGC) là nguyên

nhân phổ biến nhất gây đau gót chân Theo ước

tính, bệnh ảnh hưởng đến 10% dân số chung

Bệnh gây tổn thương ở cân gan chân (CGC), đặc

biệt là vùng điểm bám của cân gan chân vào lồi

củ xương gót đến phía xa khoảng 1cm Triệu

chứng điển hình của bệnh là đau vùng gan gót

chân, đau nhiều ở vùng điểm bám của cân gan

chân vào lồi củ xương gót, đặc biệt đau tăng ở

những bước đầu tiên vào lúc sáng sớm sau khi

ngủ dậy Điều trị bệnh VCGC hiện nay có nhiều

phương pháp bao gồm các phương pháp điều trị

bảo tồn như dùng các thuốc chống viêm không

steroid, các dụng cụ chỉnh hình, liệu pháp sốc

sóng, tiêm độc tố botulinum, tiêm corticosteroid

và các phương pháp điều trị phẫu thuật Tuy có

nhiều phương pháp điều trị nhưng với một bệnh

nhân (BN) cụ thể việc điều trị bao giờ cũng nên

được bắt đầu bằng nội khoa kết hợp vật lí trị

liệu Để đánh giá hiệu quả của biện pháp kết

hợp này, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài

“Đánh giá kết quả điều trị nội khoa kết hợp vật lý trị

liệu bệnh viêm cân gan chân” nhằm các mục tiêu:

Đánh giá kết quả điều trị thể hiện trên lâm

sàng thông qua thang điểm đau (VAS) và chỉ số

nhạy cảm đau (HTI) trước và sau điều trị 6 tuần

Đánh giá kết quả điều trị thể hiện trên cận

lâm sàng dựa vào việc so sánh độ dày cân gan

chân đo được trên siêu âm trước và sau điều trị

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

Bệnh nhân được chẩn đoán viêm cân gan chân

Không phân biệt giới Tuổi từ 18 trở lên,

không có hạn chế năng lực hành vi

Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu và kí

vào phiếu tự nguyện

Bệnh nhân tái khám đầy đủ

Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

Bệnh nhân có bệnh viêm hệ thống, bệnh nhân có bệnh viêm cột sống dính khớp, bệnh mô liên kết, bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, bệnh nhân đã tiêm corticosteroid điều trị viêm cân gan chân trước đó và bệnh nhân bị chấn thương vùng gót chân hay đã phẫu thuật

vùng gót chân trước đó Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh

Tiến hành

Lựa chọn bệnh nhân

Việc chẩn đoán bệnh nhân bị bệnh viêm cân gan chân dựa trên những đặc điểm:

Về lâm sàng

Đau vùng gót chân, nhất là vùng mặt dưới trong gót chân tương ứng với mỏm trong lồi

củ xương gót Đau nhất ở những bước đi đầu tiên sau khi ngủ dậy hoặc sau khi đi lại, làm việc nhiều

Ấn đau vùng mặt dưới trong gót chân, trong vùng từ mép trước lồi củ trong xương gót về phía xa khoảng 1 đến 2cm

Không có tê bì, dị cảm vùng gót chân

Về cận lâm sàng

Siêu âm cân gan chân cho thấy hình ảnh dày cân gan chân (được xác định khi độ dày cân gan chân >4mm ở vùng điểm bám của cân gan chân vào xương gót)

Giải thích và lấy phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu

Thu thập thông tin chung của bệnh nhân về tuổi, giới, nghề nghiệp, chiều cao, cân nặng, chân

bị tổn thương, thời gian tính từ lúc khởi phát đau gót chân Bệnh nhân được chia thành 2 nhóm nghề với nhóm 1 gồm những người làm những công việc có tính chất đứng hoặc đi lại nhiều như công nhân, nông dân, giáo viên với

Trang 3

nhóm 2 gồm những người làm các công việc

trong văn phòng có tính chất đi đứng ít,

ngồi nhiều

Đánh giá mức độ đau theo thang Visual Analogue

Score – VAS

Thang VAS là thang điểm để đánh giá mức

độ đau áp dụng cho người lớn Thang VAS được

gắn lên một thước đo đánh số từ 0 đến 10

Bệnh nhân được yêu cầu đánh dấu mức độ

đau của mình bằng việc dịch chuyển con lăn trên

thước đo giữa điểm đầu (0) và điểm cuối (10)

Mỗi điểm tương ứng với một con số:

Không đau Đau rất là nhẹ, hầu như không

cảm nhận và nghĩ đến nó, thỉnh thoảng thấy

đau nhẹ

Đau nhẹ, thỉnh thoảng đau nhói mạnh

Đau làm người bệnh chú ý, mất tập trung

trong công việc, có thể thích ứng với nó

Đau vừa phải, bệnh nhân có thể quên đi cơn

đau nếu đang làm việc

Đau nhiều hơn, bệnh nhân không thể quên

đau sau nhiều phút, bệnh nhân vẫn có thể làm việc

Đau vừa phải nhiều hơn, ảnh hưởng đến các

sinh hoạt hàng ngày, khó tập trung

Đau nặng, ảnh hưởng đến các giác quan và

hạn chế nhiều đến sinh hoạt hàng ngày của bệnh

nhân Ảnh hưởng đến giấc ngủ

Đau dữ dội, hạn chế nhiều hoạt động, cần

phải nổ lực rất nhiều

Đau kinh khủng, kêu khóc, rên rỉ không

kiểm soat được

Đau không thể nói chuyện được, nằm liệt

giường và có thể mê sảng

Đánh giá mức độ nhạy cảm gót chân theo chỉ số Heel

Tenderness Index – HTI

Dùng ngón tay cái ấn vào điểm đau nhất của

bệnh nhân hoặc điểm ở mặt gan chân từ lồi củ

trong xương gót đi về phía xa 1cm Ghi nhận

cảm giác của bệnh nhân kết hợp quan sát phản

xạ của bệnh nhân

Đánh giá:

0: Không đau

1: Đau vừa

2: Đau nhiều nhăn mặt

3: Đau nhiều, nhăn mặt và thụt chân

Đánh giá độ dày cân gan chân bằng siêu âm

Độ dày cân gan chân sẽ được đo trên toàn bộ chiều dài của cân gan chân và lấy giá trị ở vị trí

có độ dày lớn nhất, thông thường vị trí này ở khoảng ≤ 1cm tính từ lồi củ trong xương gót đi

về phía xa

Các bước điều trị

Các bệnh nhân lựa chọn đưa vào nghiên cứu

sẽ được áp dụng điều trị dựa trên hướng dẫn sửa đổi của Hiệp hội các bác sỹ phẫu thuật bàn chân và cổ chân Hoa kỳ (American College of

Foot and Ankle Surgeons - ACFAS)

Các thuốc đường uống: bao gồm các thuốc chống viêm không steroid, thuốc giảm đau paracetamol và thuốc giãn cơ theo liệu trình từng 2 tuần

Tư vấn về bệnh và dặn dò đi giày dép mềm thường xuyên trong khi làm việc cũng như khi ở nhà, không đứng quá lâu, giảm cân đối với những bệnh nhân thừa cân

Các bài tập ở nhà

Bài tập kéo căng cân gan chân: Bài tập này nhằm cải thiện khả năng giãn của cân gan chân, tính di động bình thường của khớp, cải thiện khả năng đàn hồi của cơ và khả năng nâng đỡ của vòm dọc Bệnh nhân ngồi, gác chân bệnh lên đùi chân kia Dùng tay cùng bên với chân bệnh kéo các ngón chân về tư thế gấp lưng cho đến lúc sờ thấy cân gan chân căng như dây đàn Giữ ở tư thế đó trong vòng 10 giây, thả lỏng trong 10 giây Lặp lại 10 lần như vậy trong mỗi lần tập Ngày tập hai đến ba lần, tốt nhất là tập vào lúc vừa ngủ dậy trước khi bước xuống từ giường và sau khi ngồi lâu

Bài tập căng gân gót và bắp chân: Bài tập nhằm cải thiện tính đàn hồi gân Achilles làm giảm lực căng tác dụng trực tiếp lên cân gan chân cũng như tăng cường sức mạnh cho các cơ vùng cẳng chân sau Người bệnh đặt miếng lót xuống dưới bàn chân đau, để chân đau ra phía

Trang 4

sau chân lành, hướng các ngón bàn chân đau về

phía gót của bàn chân trước, hai tay vịn vào

tường Hạ thấp đầu gối trước, giữ thẳng đầu gối

sau và gót dán chặt lên nền nhà Duy trì tư thế

đó trong 10 giây Thả lỏng trong 10 giây Lặp lại

10 lần như vậy trong mỗi lần tập Ngày tập hai

đến ba lần ưu tiên tập sau khi ngủ dậy và sau

khi đi lại nhiều

Các bài tập này bệnh nhân sẽ tập thường

xuyên liên tục trong suốt thời gian theo dõi và

điều trị, ngày tập 2 đến 3 lần, ưu tiên tập ngay

khi mới ngủ dậy trước khi bước xuống giường

và sau khi đứng lâu hay đi lại nhiều

Bệnh nhân được hướng dẫn sang Khoa vật lí

trị liệu – phục hồi chức năng để được tiến hành

các biện pháp vật lý trị liệu: Xoa bóp làm mềm

gân cơ, di động khớp, kéo dãn thụ động, chạy

điện trị liệu, siêu âm trị liệu

Bệnh nhân được hẹn tái khám để đánh giá

lại kết quả điều trị ở các thời điểm 2 tuần, 4 tuần

và 6 tuần của tiến trình điều trị

Đánh giá kết quả

Các chỉ tiêu đánh giá lại ở các lần tái khám

gồm: Mức độ đau theo thang VAS, mức độ nhạy

cảm đau gót chân theo chỉ số HTI Lần khám sau

6 tuần đo lại độ dày cân gan chân trên siêu âm

Các thông tin thu thập được được ghi vào

bệnh án nghiên cứu của từng bệnh nhân

Sau khi thu thập đủ, thông tin được mã hóa,

nhập vào máy tính và xử lý bằng phần mềm

SPSS 20 để đánh giá hiệu quả điều trị

Nghiên cứu đã được Hội dồng đạo đức

trong nghiên cứu y sinh học cho phép ngày

12/2/2018

KẾT QUẢ

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Có 30 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu

Tuổi trung bình là 49,5 ± 10,5 (28 - 65 tuổi),

trong đó tuổi trên 40 chiếm 80% (p < 0,05)

Tỉ lệ nữ chiếm 76,7%, nam 23,3% (p < 0,05)

Chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 23,3 ±

2,2 (18,3- 26,6)

Tổng cộng có 41 cân gan chân viêm, trong đó

22 bên trái (53,7%) và 19 bên phải (46,3%), sự khác biệt giữa 2 nhóm là không có ý nghĩa thống

kê với p = 0,755 > 0,05

Nhóm 1 có 23 bệnh nhân chiếm 76,7%, nhóm

2 có 7 bệnh nhân chiếm 23,3%, sự khác biệt là có

ý nghĩa thống kê với p = 0,005 < 0,05

Thời gian bị bệnh trung bình là 9,7 ± 1,1 tháng (3 - 24 tháng)

Đặc điểm bệnh học lần khám trước điều trị

được cho trong bảng 1

Bảng 1: Đặc điểm bệnh học lần khám trước điều trị

(n=41)

Thang đo Giá trị Trung bình

Không có mối tương quan có ý nghĩa giữa tuổi, BMI, thời gian bệnh với điểm VAS, HTI và

độ dày cân gan chân Không có mối tương quan giữa độ dày cân gan chân với điểm VAS và chỉ

số HTI

Kết quả điều trị

Điểm đau VAS trung bình sau 2 tuần điều trị là 5,3 ± 0,9, sau 4 tuần điều trị là 3,7 ± 0,9, và sau 6 tuần điều trị là 2,4 ± 0,9 Sử dụng T- test bắt cặp để so sánh điểm VAS sau điều trị ở các thời điểm 2 tuần, 4 tuần, 6 tuần với trước điều trị đều cho thấy sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p đều nhỏ hơn 0,05 Điểm đau VAS trước điều trị ở 2 nhóm nghề không có sự khác biệt có ý nghĩa, lần lượt ở nhóm 1 là 7,7; nhóm 2 là 7,9 Điểm đau VAS sau điều trị ở nhóm 1 là 2,3 và ở nhóm 2 là 3,0

Chỉ số nhạy cảm đau HTI trung bình sau 2 tuần điều trị là 1,5 ± 0,5, sau 4 tuần điều trị là 1,1

± 0,3, và sau 6 tuần điều trị là 0,8 ± 0,4 Sử dụng T- test bắt cặp để so sánh chỉ số HTI sau điều trị

ở các thời điểm 2 tuần, 4 tuần, 6 tuần với trước điều trị đều cho thấy sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p đều rất nhỏ hơn 0,05

Độ dày trung bình cân gan chân sau 6 tuần điều trị là 5,26 ± 0,62 mm Sử dụng T – test bắt cặp để so sánh độ dày trung bình cân gan chân

Trang 5

trước điều trị và sau 6 tuần điều trị cho thấy sự

khác biệt là không có ý nghĩa thống kê với p =

0,06 > 0,05 Kết quả tổng hợp được cho trong

bảng 2

Bảng 2: Kết quả điều trị (n=41)

Thang đo Trước

điều trị

Sau 2 tuần điều trị

Sau 4 tuần điều trị

Sau 6 tuần điều trị

VAS 7,7 ± 0,5 5,3 ± 0,9 3,7 ± 0,9 2,4 ± 0,9

HTI 1,8 ± 0,5 1,5 ± 0,5 1,1 ± 0,3 0,8 ± 0,4

Độ dày cân gan

BÀN LUẬN

Về mức độ đau

Sau 2 tuần điều trị, điểm VAS trung bình

của nhóm bệnh nhân giảm từ 7,7 xuống 5,3,

tương ứng với mức giảm 31,0% so với trước

điều trị Khác biệt này là có ý nghĩa thống kê

với p < 0,05 Trong nghiên cứu của chúng tôi,

hầu hết bệnh nhân đều cho biết có sự cải thiện

rõ rệt về triệu chứng đau ở lần tái khám sau 2

tuần so với trước điều trị Sau 4 tuần điều trị,

điểm VAS trung bình của nhóm bệnh nhân

tiếp tục giảm xuống 3,7, tương ứng với mức

giảm 51,9% so với trước điều trị Khác biệt này

là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Mức giảm

này cũng tương ứng với 30,3% so với ở lần tái

khám sau 2 tuần Mức giảm thấp hơn này có

thể là do sau 2 tuần điều trị, biểu hiện đau đã

giảm xuống đến mức bệnh nhân có thể chấp

nhận được nên việc tập luyện tại nhà đã không

được thực hiện thường xuyên liên tục, vì vậy ở

mỗi lần tái, chúng tôi đều cho bệnh nhân thực

hiện lại các bài tập để chỉnh sửa những động

tác bệnh nhân làm chưa đúng và nhắc nhở

bệnh nhân duy trì việc tập luyện thường

xuyên tại nhà Sau 6 tuần điều trị, điểm VAS

trung bình của nhóm bệnh nhân tiếp tục giảm

xuống 2,4, mức giảm này tương ứng với 68,7%

so với trước điều trị, khác biệt này là có ý

nghĩa thống kê với p < 0,05 Mức giảm này

cũng tương ứng với 35,0% so với ở lần tái

khám sau 4 tuần điều trị Ở lần tái khám sau 6

tuần, mức đau giảm 35,0%, như vậy, việc

chỉnh sửa động tác và nhắc nhở việc tập luyện

thường xuyên cho bệnh nhân đã phát huy tác dụng, mức giảm này còn cao hơn cả mức giảm

ở thời điểm 4 tuần so với 2 tuần điều trị Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Beyzadeoglu T(1) năm 2007 nghiên cứu trên 44 bệnh nhân với 53 gót chân được chia thành 2 nhóm, nhóm thứ nhất gồm 25 bệnh nhân với

31 cân gan chân viêm được điều trị bằng phương pháp bảo tồn tiêu chuẩn bao gồm thay đổi lối sống, giảm cân, các bài tập kéo dãn, đệm gót và các thuốc NSAID, nhóm thứ 2 gồm

19 bệnh nhân với 22 cân gan chân viêm điều trị bằng phương pháp bảo tồn tiêu chuẩn trên kết hợp với mang nẹp đêm để giữ cho cổ chân ở

tư thế gấp lưng 5o trong khi ngủ trong vòng 8 tuần, kết quả cho thấy, sau 2 tháng, điểm VAS

ở nhóm 1 từ 5,8 ± 1,1 giảm xuống 2,2 ± 1,1, điểm VAS ở nhóm 2 từ 6,2 ± 1,3 giảm xuống 1,3 ± 0, khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p = 0,001 và tương ứng với 62% ở nhóm 1 và 79%

ở nhóm 2

Sau 6 tuần điều trị, điểm VAS trung bình đã giảm xuống 2,4 với điểm VAS thấp nhất là 1 Như vậy, với 6 tuần điều trị, không có bệnh nhân nào hết đau hoàn toàn, nhiều bệnh nhân cho biết, thỉnh thoảng vẫn còn đau ở những bước đầu tiên sau khi ngủ dậy, tuy nhiên mức

độ đã giảm rất nhiều Vì lí do này, sau 6 tuần, chúng tôi động viên tất cả bệnh nhân ngoài việc dùng thuốc cần tiếp tục duy trì chế độ tập luyện tại nhà cho đến khi các triệu chứng hết hẳn Trong nghiên cứu của chúng tôi, có một bệnh nhân cải thiện rất kém, điểm đau VAS trước điều trị là 9, điểm VAS sau 6 tuần điều trị là 6, cao hơn rất nhiều so với điểm VAS trung bình của cả nhóm bệnh nhân là 2,4 Mặc dù bệnh nhân đã rất tích cực trong điều trị tại bệnh viện cũng như trong tập luyện tại nhà, bệnh nhân không hài lòng với kết quả điều trị do đó bệnh nhân này được tư vấn và đồng ý chuyển sang chích corticosteroid tại chỗ để điều trị

Về đáp ứng điều trị ở các nhóm nghề khác nhau, trong nghiên cứu của chúng tôi, điểm đau

Trang 6

VAS trước điều trị ở 2 nhóm nghề không có sự

khác biệt có ý nghĩa nhưng điểm đau VAS sau

điều trị ở nhóm 1 là 2,3 và ở nhóm 2 là 3,0 Sự

khác biệt giữa 2 nhóm nghề là có ý nghĩa thống

kê với p = 0,024 < 0,05 Sự khác biệt ở hiệu quả

điều trị ở 2 nhóm có thể là do đối với nhóm 1 là

nhóm mà nghề nghiệp của họ có tính chất đi lại

nhiều nên ảnh hưởng của bệnh đến công việc

của họ nhiều hơn nên ý thức, thái độ điều trị của

họ đối với bệnh là tích cực hơn với mong muốn

cải thiện nhanh, tốt các triệu chứng để có thể

sơm tiếp tục công việc

Về chỉ số nhạy cảm đau

Sau 2 tuần điều trị, chỉ số HTI trung bình của

nhóm bệnh nhân giảm từ 1,8 ± 0,5 xuống 1,5 ±

0,5, tương ứng với mức giảm 16,1% so với trước

điều trị Khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với

p < 0,05 Sau 4 tuần điều trị, chỉ số HTI trung

bình của nhóm bệnh nhân tiếp tục giảm xuống

1,1 ± 0,3, tương ứng mức giảm 37,8% so với

trước điều trị, khác biệt này có ý nghĩa thống kê

với p < 0,05 Mức giảm này cũng tương ứng với

25,8% so với ở lần tái khám sau 2 tuần điều trị

Sau 6 tuần điều trị chỉ số HTI trung bình của

nhóm bệnh nhân tiếp tục giảm xuống 0,8 ± 0,4,

tương ứng mức giảm 53,9% so với trước điều trị,

khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Mức giảm này cũng tương ứng với 25,9% so với

ở lần tái khám sau 4 tuần điều trị Kết quả thay

đổi về chỉ số HTI trong nghiên cứu của chúng tôi

cũng phù hợp với kết quả của các tác giả khác

Trong nghiên cứu của Kane D(2), ở nhóm tiêm

corticoid dưới hướng dẫn của siêu âm mức giảm

là 75,6%, ở nhóm tiêm dưới hướng dẫn của sờ

bằng tay là 61,9%, trong nghiên cứu của

Moustafa AM(3), mức giảm lần lượt ở 2 nhóm là

58,8% và 50% so với trước điều trị

Về độ dày cân gan chân

Sau điều trị 6 tuần bề dày cân gan chân là

5,26 ± 0,62 so với trước điều trị là 5,29 ± 0,64 Sự

khác biệt ở đây là không có ý nghĩa thống kê với

p = 0,06 > 0,05 Kết quả này khác với các nghiên cứu của các tác giả Kane D(2) và Moustafa AM(3) Trong nghiên cứu của các tác giả này, sự giảm bề dày cân gan chân sau điều trị so với trước điều trị là khác biệt có ý nghĩa thống kê với p đều nhỏ hơn 0,01 Sự khác biệt này có thể là do cả hai nghiên cứu của Kane D và Moustafa AM đều đánh giá sự thay đổi bề dày cân gan chân sau khi tiêm corticosteroid điều trị bệnh viêm cân gan chân, trong khi nghiên cứu của chúng tôi chỉ

sử dụng điều trị nội khoa và vật lý trị liệu Theo Wearing SC(4) thì ở bệnh nhân viêm cân gan chân

có sự hiện diện cả biểu hiện viêm mạn tính và thoái hóa ở cân gan chân, do đó, dưới tác dụng của corticosteroid tiêm tại chỗ, những biểu hiện viêm mạn ở cân gan chân đã được khống chế và đẩy lùi, điều này dẫn đến bề dày cân gan chân giảm đi sau khi tiêm corticosteroid

KẾT LUẬN

Điều trị nội khoa kết hợp vật lý trị liệu là một biện pháp điều trị hiệu quả và an toàn đối với bệnh viêm cân gan chân, do đó cần được khuyến cáo sử dụng trong thực hành lâm sàng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Beyzadeoglu T., Gokce A., Bekler H (2007), "The effectiveness

of dorsiflexion night splint added to conservative treatment for

plantar fasciitis", Acta Orthopaedica et Traumatologica Turcica

41(3), tr 220-224

2 Kane D., Greaney T., Shanahan M., et al (2001), "The role of ultrasonography in the diagnosis and management of

idiopathic plantar fasciitis", Rheumatology 40, tr 1002-1008

3 Moustafa A.M., Hassanein E., Foti C (2015), "Objective assessment of corticosteroid effect in plantar fasciitis:

additional utility of ultrasound", Muscles, Ligaments and

Tendons Journal 5(4), tr 289-296

4 Wearing S.C., Smeathers J.E., Urry S.R., et al (2006), "The

Pathomechanics of Plantar Fasciitis", Sports Med 36(7), tr 585-611 Ngày nhận bài báo: 08/11/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 07/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 11:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w