1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ứng dụng siêu âm phổi tại giường chẩn đoán nguyên nhân suy hô hấp cấp tại khoa cấp cứu

8 114 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 386,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá độ chính xác của SA phổi dựa theo BLUE protocol trong chẩn đoán nguyên nhân thường gặp gây ra SHH cấp. So sánh độ chính xác của SA phổi với X quang phổi và chẩn đoán lâm sàng ban đầu trong chẩn đoán nguyên nhân SHH cấp.

Trang 1

ỨNG DỤNG SIÊU ÂM PHỔI TẠI GIƯỜNG CHẨN ĐOÁN

NGUYÊN NHÂN SUY HÔ HẤP CẤP TẠI KHOA CẤP CỨU

Nguyễn Xuân Ninh*, Mộc Thiên Tài**, Nguyễn Thị Ngọc Trang**, Nguyễn Thị Thanh Thảo**,

Lý Văn Kía***, Đoàn Văn Kỳ****, Vũ Đình Thắng*****

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Suy hô hấp cấp (SHH) là tình huống cấp cứu (CC) thường gặp Siêu âm (SA) phổi là phương

pháp chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn, sẵn có, có thể bổ sung cho đánh giá lâm sàng Siêu âm phổi theo BLUE protocol đã chứng tỏ có độ chính xác cao trong chẩn đoán các nguyên nhân gây ra SHH cấp thường gặp

Mục tiêu: Đánh giá độ chính xác của SA phổi dựa theo BLUE protocol trong chẩn đoán nguyên nhân

thường gặp gây ra SHH cấp So sánh độ chính xác của SA phổi với X quang phổi và chẩn đoán lâm sàng ban đầu trong chẩn đoán nguyên nhân SHH cấp

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên những bệnh nhân SHH cấp nhập vào khoa CC

bệnh viện Nhân Dân 115 từ tháng 1/2017 đến tháng 6/2017 SA phổi được thực hiện trên bệnh nhân SHH cấp nhập vào khoa CC, đưa ra các profile siêu âm như trong BLUE protocol Chẩn đoán lâm sàng ban đầu được thực hiện bởi bác sĩ cấp cứu X-quang được đọc bởi bác sĩ chẩn đoán hình ảnh Chẩn đoán nguyên nhân gây SHH cấp cuối cùng được thực hiện bởi bác sĩ hồi sức khi bệnh nhân xuất viện, chẩn đoán cuối cùng này được xem là tiêu chuẩn vàng Nguyên nhân gây SHH cấp thường gặp gồm: phù phổi cấp, viêm phổi, đợt cấp COPD/hen phế quản, tràn khí màng phổi và thuyên tắc phổi

Kết quả: 88 bệnh nhân được đưa vào phân tích (tuổi trung vị là 67 (52-76) tuổi, tỷ lệ tử vong là 18,2%)

Nguyên nhân thường gặp nhất của SHH cấp là phù phổi cấp (n = 34) và viêm phổi (n = 25) SA phổi có độ chính xác chung là 80% và có độ tương đồng hoàn hảo khi so sánh với chẩn đoán cuối cùng (chỉ số kappa = 0,837) SA phổi có độ nhạy và độ đặc hiệu trên 90% trong chẩn đoán phù phổi cấp và tràn khí màng phổi SA phổi có độ nhạy thấp (44%) trong chẩn đoán đợt cấp COPD / hen do độ chính xác kém của profile A/B trên bệnh nhân có tiền căn lao phổi cũ Độ chính xác của SA phổi cao hơn có ý nghĩa thống kê khi so với X-quang phổi và chẩn đoán lâm sàng ban đầu (P <0,05)

Kết luận: SA phổi dựa theo BLUE protocol có độ chính xác cao trong chẩn đoán các nguyên nhân gây SHH

cấp thường gặp

Từ khóa: Suy hô hấp cấp, siêu âm phổi, cấp cứu.

ABSTRACT

APPLICATION OF BEDSIDE LUNG ULTRASOUND IN DIAGNOSIS OF THE CAUSES

OF ACUTE RESPIRATORY FAILURE IN THE EMERGENCY DEPARTMENT

Nguyen Xuan Ninh, Moc Thien Tai, Nguyen Thi Ngoc Trang, Nguyen Thi Thanh Thao, Ly Van Kia, Doan Van Ky, Vu Dinh Thang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 12 - 19

* Khoa Hồi Sức Cấp Cứu, BV Vinmec Central Park ** Khoa Cấp Cứu, BV Nhân Dân 115

*** Khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh, BV Nhân Dân 115 **** Khoa Hồi Sức Tim Mạch, BV Nhân Dân 115

***** Khoa Hồi Sức Tích Cực, BV Nhân Dân 115

Tác giả liên lạc: BSCK2 Nguyễn Xuân Ninh ĐT: 0977123039 Email: nxn0081@gmail.com

Trang 2

Background: Patients with acute respiratory failure (ARF) present a frequent and challenging dilemma for

emergency physicians Bedside lung ultrasound (LUS) is a cheap, readily available, noninvasive imaging method that can complement clinical evaluation The Bedside Lung Ultrasound in Emergency (BLUE) protocol has showed a high accurate for the diagnosis of the most common causes of ARF

Objectives: To investigate the accuracy of LUS based on the BLUE protocol to guide the diagnosis of the

most common causes of ARF To compare the diagnostic performance of LUS with bedside chest radiography (CXR), and initial clinical diagnosis for the detection of causes of ARF

Method: Prospective observational study on patients with ARF from January 2017 to June 2017 in the ED

at People's Hospital 115 in HCM city, Viet Nam We performed LUS on the patients admitted to the ED with ARF To assess ultrasound profiles, as in the original BLUE protocol study The initial clinical diagnosis were performed by the emergency physician responsible for patient care Each patient underwent a bedside chest X-ray

at admission, which was interpreted by a radiologist unblinded to medical history The final diagnosis of the causes of ARF made by an intensivist before patients were discharged from the hospital was considered the gold standard The main diagnoses, including acute hemodynamic lung edema, pneumonia, exacerbations of COPD or asthma, pneumothorax and pulmonary embolism, were evaluated

Results: 88 patients were included in the analysis (median age was 67 (52-76) years old; mortality rate was

18.2%) The most common causes for ARF were hemodynamic lung edema (n = 34) and pneumonia (n = 25) LUS diagnosis had a good agreement with the final diagnosis in 80% of patients (overall kappa = 0.837).The sensitivity and specificity of LUS as measured against the final diagnosis were higher than 90% in the diagnosis

of hemodynamic lung edema and pneumothorax LUS had a low sensitivity (44%) in the diagnosis of exacerbations of COPD/asthma due to the low accuracy of the A/B profile in patients with old pulmonary tuberculosis The diagnostic accuracy of LUS was significantly higher than was that of chest X-ray and the initial clinical diagnosis (P <0.05)

Conclusions: LUS based on the BLUE protocol was high accurate for the diagnosis of the most common

causes of ARF

Keywords: acute respiratory failure, bedside lung ultrasound, Emergency department

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy hô hấp cấp (SHH) là một trong những

tình huống thường gặp trong CC, có thể gây

nguy hiểm tính mạng cho bệnh nhân nhanh

chóng nếu không điều trị kịp thời Khám lâm

sàng đơn thuần với độ nhạy và độ đặc hiệu thấp

nên độ chính xác trong chẩn đoán không cao

Các phương tiện cận lâm sàng thường được

dùng như X quang phổi thì không thể giúp chẩn

đoán nhanh, độ chính xác cũng không cao và có

nguy cơ nhiễm xạ cho một số đối tượng nhạy

cảm(5) Các xét nghiệm thì phải chờ đợi lâu và độ

chính xác cũng chưa đạt Các phương tiện cao

cấp như CT scan, MRI thì chi phí cao, mất nhiều

thời gian và không phải lúc nào cũng có thể thực

hiện được trong hồi sức CC

Từ năm 1989, bác sĩ Lichtenstein D.A đã bắt đầu nghiên cứu về siêu âm tại giường để đánh giá toàn bộ cơ thể trên những bệnh nhân nằm hồi sức, đặc biệt là siêu âm phổi(8) Trong BLUE protocol, siêu âm phổi tại giường thực hiện trong thời gian dưới ba phút có độ nhạy và độ đặc hiệu từ 90% đến 100% trong chẩn đoán nguyên nhân gây ra SHH cấp(8) Siêu âm phổi tại giường

đã chứng minh hữu ích trong chẩn đoán nguyên nhân SHH cấp với thời gian chẩn đoán nhanh, tại giường, độ chính xác cao và không gây hại Tại Việt Nam, hiện nay siêu âm phổi vẫn chưa được ứng dụng trong chẩn đoán CC tại giường Từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành

đề tài nghiên cứu này với mục tiêu nghiên cứu như sau:

Trang 3

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Xác định giá trị của siêu âm phổi tại

giường trong chẩn đoán nguyên nhân SHH

cấp tại khoa CC

Mục tiêu chuyên biệt

Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên

đoán dương và giá trị tiên đoán âm của siêu âm

phổi theo BLUE protocol trong chẩn đoán

nguyên nhân SHH cấp

So sánh độ chính xác của siêu âm phổi với

X-quang phổi và chẩn đoán lâm sàng ban đầu

trong chẩn đoán nguyên nhân SHH cấp

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả, tiến cứu trên bệnh nhân

SHH cấp nhập vào khoa CC bệnh viện Nhân

Dân 115

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân > 16 tuổi, nhập khoa CC, có tình

trạng SHH cấp: thở nhanh >20 lần/phút hoặc thở

chậm <12 lần/phút, co kéo cơ hô hấp phụ kèm

PaO2 ≤ 60mmHg hoặc SpO2 < 90% với khí phòng

hoặc PaCO2 ≥45mmHg với pH ≤7,35

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân là phụ nữ có thai, đã được đặt nội

khí quản trước khi nhập CC, chẩn đoán có nhiều

nguyên nhân gây SHH cấp, nguyên nhân gây

SHH hiếm gặp <2% theo BLUE protocol như:

bệnh phổi mô kẽ lan tỏa mãn, tràn dịch màng

phổi lượng lớn, thuyên tắc mỡ, hẹp khí quản,

tràn dịch màng tim hoặc không xác định được

nguyên nhân SHH cấp khi xuất viện

Phương pháp tiến hành

Bệnh nhân SHH cấp sẽ được bác sĩ CC

khám, đưa ra chẩn đoán ban đầu về nguyên

nhân SHH cấp dựa vào lâm sàng, tiền căn, hồ sơ

bệnh án cũ và những cận lâm sàng cơ bản ban

đầu nhưng không biết kết quả siêu âm phổi Bác

sĩ này cũng đưa ra những y lệnh điều trị CC ban

đầu, đề nghị những cận lâm sàng cần thiết cho

bệnh nhân và tiếp tục theo dõi bệnh nhân

Bệnh nhân SHH cấp sẽ được chẩn đoán một trong năm nhóm nguyên nhân sau: Phù phổi cấp (PPC), viêm phổi (VP), đợt cấp COPD hoặc cơn hen PQ (COPD/Hen), thuyên tắc phổi (TTP),

tràn khí màng phổi (TKMP)

Một bác sĩ CC khác thực hiện siêu âm phổi tại giường trong vòng 20 phút kể từ khi bệnh nhân nhập viện, mỗi bệnh nhân được siêu âm không kéo dài quá 3 phút, chẩn đoán nguyên nhân SHH cấp theo BLUE protocol Bác sĩ siêu

âm chỉ biết bệnh nhân bị SHH cấp, tên, tuổi và không được biết bất cứ điều gì về lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân đó Việc siêu âm không được cản trở công tác CC

Tất cả bệnh nhân SHH cấp tham gia nghiên cứu sẽ được chụp X quang phổi tại giường Bác

sĩ chẩn đoán hình ảnh (chuyên về X quang) tham gia nghiên cứu sẽ đọc X quang trực tiếp trên hệ thống mạng Bác sĩ chẩn đoán hình ảnh tham gia nghiên cứu cũng không được biết về triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân

Chẩn đoán cuối cùng về nguyên nhân SHH cấp được thực hiện bởi việc hội chẩn giữa bác sĩ chuyên khoa hồi sức tham gia nghiên cứu với bác sĩ điều trị tại khoa và các bác sĩ khác nếu cần Chẩn đoán này được xem là tiêu chuẩn vàng Chẩn đoán cuối cùng này sẽ được dựa vào bệnh

sử, khám lâm sàng, đáp ứng điều trị và tất cả các cận lâm sàng cần thiết cho chẩn đoán nếu cần như: CT scan ngực, siêu âm tim, các xét nghiệm

vi sinh, sinh hóa như BỆNH NHÂNP, Tuy nhiên, bác sĩ này không được biết kết quả siêu

âm phổi và X-quang được đọc bởi bác sĩ tham gia nghiên cứu

Cỡ mẫu

Theo độ nhạy

α =0,05 →Z =1,96 P se : độ nhạy, theo BLUE protocol là 90,5%

W: sai lầm loại 2, ±10% P dis = 260/301= 86% theo BLUE protocol →N se = 38,4 # 39 bệnh nhân

Trang 4

Độ đặc hiệu

Tương tự, tính cỡ mẫu theo độ đặc hiệu:

P sp : độ đặc hiệu, theo BLUE protocol là 97,5%

→N sp = 66,8 # 67 bệnh nhân

Như vậy, nghiên cứu cần thực hiện trên 67

bệnh nhân SHH cấp

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS

16.0 Tính độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán

dương, giá trị tiên đoán âm của siêu âm phổi so

với chẩn đoán cuối cùng bằng công thức tiêu

chuẩn trên SPSS Chỉ số kappa được dùng để

đánh giá độ tương đồng của kết quả siêu âm

phổi so với chẩn đoán cuối cùng Phép kiểm

McNemar được dùng để so sánh độ chính xác

của siêu âm phổi với X-quang phổi và giữa siêu

âm phổi và chẩn đoán lâm sàng ban đầu Tất cả

các phép phân tích là 2 đuôi, P < 0,05 là có ý

nghĩa thống kê

Phương tiện nghiên cứu

Máy siêu âm trắng đen Aloka SSD-1100

Flexus với 1 đầu dò cong lớn (convex) 3.5 Mhz

và 1 đầu do thẳng (linear) 7Mhz

KẾT QUẢ

95 bệnh nhân SHH cấp, 7 bệnh nhân bị loại

khỏi nghiên cứu do chẩn đoán cuối cùng nằm

trong tiêu chuẩn loại trừ

Bảng 1 Đặc điểm chung bệnh nhân SHH cấp tham

gia nghiên cứu:

Tỷ lệ bệnh nhân thở máy xâm lấn trong thời

Tỷ lệ tử vong (gồm tử vong nội viện + bệnh

Bảng 2 Tiền căn bệnh lý:

Tiền căn bệnh lý Số bệnh nhân (N =88) Tỷ lệ %

Biểu đồ 1 Tỷ lệ tử vong theo nguyên nhân SHH cấp

Nhận xét: Phù phổi cấp, viêm phổi là nguyên nhân gây ra SHH có tỷ lệ cao nhất

Bảng 3 Độ chính xác của siêu âm phổi trong chẩn đoán nguyên nhân SHH cấp:

Chẩn đoán

cuối cùng

Chẩn đoán của siêu âm phổi

Độ nhạy % (số bệnh nhân) Độ đặc hiệu % (số bệnh

nhân) PPV % (số bệnh nhân) NPV % (số bệnh nhân)

Chẩn đoán chính xác chung: 80%

* Dữ liệu chỉ có 1 bệnh nhân nên không có ý nghĩa khi phân tích thống kê

Trang 5

Nhận xét: Siêu âm phổi có độ nhạy và độ đặc

hiệu cao (>90%) trong chẩn đoán phù phổi cấp

và TKMP, độ nhạy kém nhưng độ đặc hiệu cao

trong chẩn đoán đợt cấp COPD/ hen PQ, với

viêm phổi thì siêu âm có độ nhạy cao nhưng độ đặc hiệu trung bình

Bảng 4 So sánh chẩn đoán cuối cùng và các profile trên siêu âm phổi:

Profile theo kết quả siêu âm Chẩn đoán

cuối cùng

A + không PLAPS +

không huyết khối

A + PLAPS

A + huyết khối

A’+ Dấu điểm phổi

A’ + không PLAPS + không huyết khối, không dấu điểm phổi B B’ C A/B

Chẩn đoán theo BLUE protocol

Nhận xét: profile A/B có độ chính xác thấp, 8/14 trường hợp profile A/B có chẩn đoán cuối cùng là COPD/hen, không chính xác theo BLUE protocol Các profile khác cho kết quả khá tương đồng giữa chẩn đoán siêu âm theo BLUE protocol và chẩn đoán cuối cùng

Bảng 5 Profile trên siêu âm phổi và chẩn đoán cuối cùng của 25 bệnh nhân tham gia nghiên cứu có tiền căn lao

phổi:

25 bệnh nhân có tiền căn lao phổi Chẩn đoán cuối cùng

Tổng Profile siêu âm phổi Phù phổi cấp VP COPD/hen TKMP

Nhận xét: Profile A/B có độ chính xác thấp và gặp nhiều trên bệnh nhân có tiền căn lao phổi

Bảng 6 Độ chính xác của X-quang phổi tại giường trong chẩn đoán nguyên nhân SHH cấp:

Chẩn đoán cuối cùng Chẩn đoán của X-quang phổi

Độ nhạy % Độ đặc hiệu % PPV % NPV %

Chẩn đoán chính xác chung: 52%

Nhận xét: X-quang phổi có độ nhạy, độ đặc hiệu, PPV, NPV cao trong chẩn đoán TKMP

Bảng 7 Độ chính xác của chẩn đoán ban đầu trong chẩn đoán nguyên nhân SHH cấp:

Độ nhạy % Độ đặc hiệu % PPV % NPV %

Chẩn đoán chính xác chung: 64%

Trang 6

Nhận xét: Chẩn đoán ban đầu có độ chính

xác cao nhất trên bệnh nhân phù phổi cấp (73%)

và kém nhất trên bệnh nhân TKMP (20%)

Bảng 8 So sánh độ chính xác của X-quang phổi và

chẩn đoán ban đầu so với siêu âm phổi:

So sánh Khác biệt KTC 95% P

Chẩn đoán ban đầu

X quang phổi và siêu

Nhận xét: Siêu âm phổi có độ chính xác cao

hơn chẩn đoán ban đầu và X-quang phổi

Bảng 9 Độ tương đồng của X-quang, chẩn đoán ban

đầu và siêu âm phổi so với chẩn đoán cuối cùng:

Phương pháp Chỉ số

Kappa

Độ lệch chuẩn KTC 95%

Nhận xét: Siêu âm phổi có độ tương đồng

hoàn hảo (kappa = 0,837) khi so với chẩn đoán

cuối cùng

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của bệnh nhân SHH cấp tham

gia nghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi có 88 bệnh nhân

với tỷ lệ tử vong là 18,2%, tương đồng với

nghiên cứu của Patrick Ray(13) với tỷ lệ tử vong

nội viện là 16% khi nghiên cứu trên 514 bệnh nhân tuổi trên 65 bị suy hô hấp cấp nhập vào khoa CC Tuy nhiên, nghiên cứu của Felippe(4) lại

có tỷ lệ tử vong 42%, cao hơn nghiên cứu của chúng tôi Sự khác biệt này có lẽ do nghiên cứu của Felippe thực hiện trong khoa hồi sức nên bệnh nhân có mức độ bệnh nặng hơn nghiên cứu của chúng tôi

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận bệnh nhân tham gia nghiên cứu có tỷ lệ cao tiền căn tim mạch, COPD/hen và lao phổi Nghiên cứu của Patrick Ray(13) và Felippe(4) cũng ghi nhận tiền căn tim mạch và COPD/hen là 2 bệnh lý chiếm tỷ lệ cao nhất Tuy nhiên, nghiên cứu của Patrick Ray và Felippe đều không ghi nhận bệnh nhân có tiền căn lao phổi Trong khi đó, theo nghiên cứu của chúng tôi thì bệnh nhân có tiền căn lao phổi chiếm tỷ lệ 28,4% Điều này phù hợp với tình hình nhiễm lao tại Việt Nam hiện nay Theo tổ chức Y tế Thế Giới(15), Việt Nam xếp thứ 12/22 nước có số bệnh nhân lao nhiều nhất thế giới, đứng thứ 14/27 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc, 44% dân số Việt Nam bị nhiễm vi khuẩn lao Mỗi năm, Việt Nam có khoảng 180000 bệnh nhân lao, 5900 bệnh nhân bị lao đa kháng thuốc và có khoảng 32000 ca tử vong mỗi năm vì căn bệnh này

Độ chính xác của siêu âm phổi trong chẩn đoán nguyên nhân SHH cấp

Bảng 10 So sánh độ nhạy và độ đặc hiệu trong chẩn đoán nguyên nhân SHH cấp của siêu âm phổi trong một số

nghiên cứu

Chẩn đoán Giá trị Chúng tôi (N=88) BLUE protocol (N=260) (9) Felippe (N= 37) (4)

Bảng 10 cho thấy siêu âm trong nghiên cứu

của chúng tôi có độ nhạy và độ đặc hiệu không

hề thua kém trong chẩn đoán phù phổi cấp, TKMP khi so sánh với các nghiên cứu khác Tuy nhiên, siêu âm phổi trong nghiên cứu của chúng

Trang 7

tôi có độ nhạy kém trong chẩn đoán đợt cấp

COPD/ hen PQ và có độ đặc hiệu kém trong

chẩn đoán viêm phổi khi so sánh với các nghiên

cứu khác

Để tìm hiểu lý do sự khác biệt này, xem bảng

4 chúng tôi nhận thấy: trong 18 bệnh nhân có

chẩn đoán cuối cùng là COPD/Hen PQ thì kết

quả siêu âm phổi có 8 trường hợp là profile A/B,

tức là được chẩn đoán viêm phổi theo hướng

dẫn của BLUE protocol Đây là nguyên nhân làm

giảm độ nhạy trong chẩn đoán COPD/ hen PQ

và giảm độ đặc hiệu trong chẩn đoán viêm phổi

Có lẽ đã có bệnh lý gì đó làm xuất hiện những

đường B trên siêu âm phổi ở 8 bệnh nhân

COPD/ hen PQ này Chúng tôi nhận thấy bệnh

nhân tham gia nghiên cứu của chúng tôi có tiền

căn lao phổi là 25 bệnh nhân, chiếm 28,4% (bảng

2) Trong khi đó, trong nghiên cứu BLUE

protocol lại không ghi nhận tiền căn lao trong

nhóm bệnh nhân tham gia nghiên cứu Có lẽ vì

BLUE protocol được thực hiện tại Pháp, là quốc

gia rất hiếm có bệnh lao, trong khi Việt Nam là

quốc gia là vùng dịch tễ của bệnh lao Khi phân

tích dưới nhóm (xem bảng 5), chúng tôi nhận

thấy 9 bệnh nhân có tiền căn lao phổi và chẩn

đoán cuối cùng là COPD/hen thì siêu âm phổi

cho kết quả profile A/B là 7 bệnh nhân Trong 10

bệnh nhân tiền căn lao phổi có profile A/B thì chỉ

có 3 bệnh nhân có chẩn đoán cuối cùng là viêm

phổi, còn lại 7 bệnh nhân là COPD/hen Có lẽ

BLUE protocol khi ứng dụng tại Việt Nam, là

vùng dịch tễ của lao phổi thì kết quả siêu âm là

profile A/B sẽ không có độ chính xác cao khi kết

luận là viêm phổi nếu bệnh nhân đã có tiền căn

lao phổi Tác giả L Hunter(7) đã ghi nhận: “Lao

phổi để lại di chứng là những tổn thương xơ hóa

dầy mô kẽ tạo thành những đường B, các đường

giống đuôi sao chổi rải rác trong phổi và bệnh

nhân lao phổi cũ cũng có thể bị mất dấu phổi

trượt do xơ dính màng phổi Nếu lao phổi đang

tiến triển, siêu âm phổi có thể phát hiện những

nốt nhỏ dạng đông đặc dưới màng phổi, có thể

có tràn dịch màng phổi khu trú lượng ít” Tuy

nhiên, những thay đổi siêu âm phổi trên bệnh

lao phổi vẫn còn rất ít nghiên cứu Chúng ta cần phải thực hiện những nghiên cứu có qui mô lớn hơn để chứng minh vấn đề này

So sánh độ chính xác của siêu âm phổi với X-quang phổi tại giường

Trong nghiên cứu của chúng tôi, độ chính xác của siêu âm phổi cao hơn đáng kể khi so với

X-quang phổi (80% so với 52%, P < 0,001) Điều

này cũng tương đồng với nghiên cứu của tác giả Felippe(4), độ chính xác của siêu âm phổi là 84%,

cao hơn X-quang phổi (43%) với P = 0,01 Thật

vậy, siêu âm phổi tại giường đã được chứng minh là có độ chính xác cao hơn X-quang phổi khi đánh giá bệnh nhân xẹp phổi, TKMP, viêm phổi, hoặc ARDS qua nhiều nghiên cứu(1,2,3,6,10) Trong nghiên cứu của chúng tôi, chẩn đoán của X quang phổi chỉ có độ tương đồng đạt mức trung bình (chỉ số Kappa = 0,442) nhưng siêu âm phổi có độ tương đồng hoàn hảo (chỉ số Kappa = 0,837) khi so sánh với chẩn đoán cuối cùng Trong một nghiên cứu được tiến hành tại Ý, việc sử dụng siêu âm phổi tại giường đã giúp giảm 26% tổng số lần chụp X-quang ngực và giảm 47% tổng số lần chụp CT scan ngực ở những bệnh nhân nặng(11)

So sánh độ chính xác của siêu âm phổi với chẩn đoán ban đầu

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chẩn đoán lâm sàng ban đầu có độ chính xác

là 64%, thấp hơn độ chính xác của siêu âm

phổi có ý nghĩa thống kê với P = 0,042 Chẩn

đoán ban đầu có độ tương đồng khá (chỉ số Kappa = 0,706) và siêu âm phổi có độ tương đồng hoàn hảo (chỉ số Kappa = 0,837) khi so sánh với chẩn đoán cuối cùng

Silva và cộng sự(14) so sánh độ chính xác của siêu âm tim- phổi với kết quả chẩn đoán ban đầu, tiêu chuẩn vàng để so sánh là chẩn đoán cuối cùng của một nhóm chuyên gia, nghiên cứu thực hiện trên 78 bệnh nhân SHH cấp Tác giả nhận thấy siêu âm có độ chính xác cao hơn chẩn

đoán ban đầu (83% so với 63%, P <0,02) Kết quả

này chỉ ra rằng việc sử dụng siêu âm có thể cải

Trang 8

thiện đáng kể chẩn đoán ban đầu và từ đó kế

hoạch điều trị có thể được thay đổi trực tiếp dựa

trên kết quả siêu âm

Kết quả nghiên cứu của Felippe và cộng sự(4)

cũng cho thấy tỷ lệ chính xác gần tương tự như

kết quả của chúng tôi, độ chính xác cao hơn đối

với siêu âm phổi so với chẩn đoán ban đầu (84%

so với 65%) Tuy nhiên, nghiên cứu của Felippe

có sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Vì đã có quá nhiều chứng cớ về sự hữu ích

của siêu âm phổi nên gần đây, ngày 27/4/2017 đã

có một hội nghị đồng thuận của các chuyên gia

thuộc hội tim mạch châu Âu (ESC-ACCA) về

vấn đề sử dụng siêu âm tim và siêu âm phổi

trong đánh giá và điều trị suy tim cấp Hội nghị

đồng thuận đã đưa ra khuyến cáo(12): Quá phụ

thuộc vào những triệu chứng lâm sàng có thể

làm chậm trễ việc chẩn đoán và kéo dài thời gian

cần điều trị cho bệnh nhân suy tim cấp Siêu âm

phổi có thể giúp cải thiện độ chính xác chẩn

đoán và theo dõi đáp ứng điều trị ở bệnh nhân

suy tim cấp Siêu âm phổi cho phép đánh giá

nhanh nhiều tình trạng như phù phổi cấp, tràn

dịch màng phổi và TKMP

KẾT LUẬN

Siêu âm phổi tại giường thực hiện theo

BLUE protocol có thể nhanh chóng cho ra chẩn

đoán nguyên nhân SHH cấp với độ chính xác

chung là 80% và đúng > 90% trong chẩn đoán

phù phổi cấp, TKMP Với độ chính xác không

đạt được như nghiên cứu gốc của profile A/B,

siêu âm phổi trong nghiên cứu của chúng tôi có

độ nhạy kém trong chẩn đoán COPD/ hen PQ và

độ đặc hiệu mức trung bình trong chẩn đoán

viêm phổi Điều này có lẽ do tiền căn lao phổi

chiếm tỷ lệ cao của bệnh nhân tham gia nghiên

cứu đã ảnh hưởng đến kết quả của siêu âm

Siêu âm phổi có độ tương đồng hoàn hảo

(chỉ số Kappa = 0,837) khi so sánh với chẩn đoán

cuối cùng và có độ chính xác cao hơn có ý nghĩa

thống kê khi so sánh với X-quang phổi tại

giường và chẩn đoán ban đầu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cortellaro F, Colombo S, Coen D, et al (2012), "Lung ultrasound is an accurate diagnostic tool for the diagnosis of

pneumonia in the emergency department ", Emerg Med J, 29

(1), pp 19-23

2 Dexheimer Neto FL, Dalcin Pde T, Teixeira C, et al (2012),

"Lung ultrasound in critically ill patients: a new diagnostic

tool", J Bras Pneumol, 38 (2), pp 246-56

3 Ding W, Shen Y, Yang J, et al (2011), "Diagnosis of pneumothorax by radiography and ultrasonography: a

meta-analysis", Chest 140, pp 859–66

4 Felippe LD, Juliana MS (2014), "Diagnostic accuracy of the Bedside Lung Ultrasound in Emergency protocol for the diagnosis of acute respiratory failure in spontaneously

breathing patients", J Bras Pneumol, 41 (1), pp 58-64

5 Karin AH, Jan WG, Wimten H, et al (2007), "Low Value of Routine Chest Radiographs in a Mixed Medical-Surgical

ICU", Chest 132, pp 823-828

6 Koenig SJ, Narasimhan M, Mayo PH (2011), "Thoracic

ultrasonography for the pulmonary specialist”, Chest 140 (5),

pp 1332-41

7 Hunter L, Bélard J, et al (2016), "Miliary tuberculosis:

sonographic pattern in chest ultrasound", Infection, Springer,

pp 243–246

8 Lichtenstein DA (2016), "Lung Ultrasound in the Critically Ill The BLUE Protocol", Springer International Publishing, pp

10-60

9 Lichtenstein DA, Mezière GA (2008), "Relevance of Lung Ultrasound in the Diagnosis of Acute Failure Respiratory- The

BLUE Protocol", Chest, 134, pp 117-125

10 Manno E, Navarra M, Faccio L, et al (2012), "Deep impact of ultrasound in the intensive care unit: the “ICU-sound”

protocol", Anesthesiology 117 (4), pp 801-9

11 Peris ATL, Zagli G, Batacchi S, et al (2010), "The use of point-of-care bedside lung ultrasound significantly reduces the number of radiographs and computed tomography scans in

critically ill patients.", Anesth Analg, 111 (3), pp 687-92

12 Price S, Platz E, Cullen L, et al (2017), "Expert consensus document: Echocardiography and lung ultrasonography for

the assessment and management of acute heart failure.", Nat

Rev Cardiol, Acute Heart Failure Study Group of the European

Society of Cardiology Acute Cardiovascular Care Association,

pp 1-3

13 Ray P, Birolleau S, Lefort Y, et al (2006), "Acute respiratory failure in the elderly: etiology, emergency diagnosis and

prognosis", Crit Care, 10 (3), pp R82

14 Silva S, Biendel C, Ruiz J, et al (2013), "Usefulness of cardiothoracic chest ultrasound in the management of acute

respiratory failure in critical care practice", Chest, 144 (3), pp

859-65

15 World Health Organization (WHO) Global Tuberculosis Report

2012 2012 [cited 2017 17-6]; Available from: http://apps.who.int/medicinedocs/en/d/Js19908en/

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 19/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 11:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w