Sốc phản vệ là phản ứng quá mẫn tức thì, đe dọa sinh mạng bệnh nhân. Do đó vấn đề xử trí sớm và đúng sốc phản vệ luôn được đặt ra tại các cơ sở y tế. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm khảo sát các đặc điểm về điều trị bệnh nhi bị sốc phản vệ, góp phần đưa bệnh nhi ra sốc nhanh, làm giảm tỉ lệ sốc nặng, tỉ lệ tử vong.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU TRỊ BỆNH NHI BỊ SỐC PHẢN VỆ
TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1
Nguyễn Xuân Quốc*, Phạm Văn Quang**, Tăng Chí Thượng**
TÓM TẮT
Mục tiêu: Sốc phản vệ là phản ứng quá mẫn tức thì, đe dọa sinh mạng bệnh nhân Do đó vấn đề xử
trí sớm và đúng sốc phản vệ luôn được đặt ra tại các cơ sở y tế Nghiên cứu của chúng tôi nhằm khảo sát các đặc điểm về điều trị bệnh nhi bị sốc phản vệ, góp phần đưa bệnh nhi ra sốc nhanh, làm giảm tỉ lệ sốc nặng, tỉ lệ tử vong
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, mô tả cắt ngang, có phân tích trên 105 hồ sơ bệnh nhi từ 1
tháng - 15 tuổi được chẩn đoán sốc phản vệ nhập bệnh viện Nhi đồng 1 từ 01/06/2006 đến 01/06/2015
Kết quả: Tại tuyến trước: có 28 ca sốc phản vệ (trong 32 ca chuyển viện), 26 ca (92,9%) được điều trị
với Adrenaline, trong đó có 5 ca được điều trị Adrenaline TB/TDD/TM kết hợp với Adrenaline TTM 80,8% bệnh nhi được sử dụng đúng liều Adrenaline theo khuyến cáo Đường dùng Adrenaline ban đầu là
TB và TDD chiếm 80,8% Có 25/28 ca (89,3%) ra sốc Tại BVNĐ1 (83 ca sốc): 100% bệnh nhi đều được dùng Adrenaline đúng liều theo khuyến cáo 84,3% chỉ dùng Adrenaline TB/TDD/TM đơn thuần, 15,7%
có TTM Adrenaline 62,6% bệnh nhi được hỗ trợ hô hấp, trong đó có 7/83 ca (8,4%) phải đặt NKQ giúp thở 27,7% được truyền dung dịch điện giải chống sốc, 7,2% được TTM Dopamine và 3,6% được truyền Dobutamine Hầu hết bệnh nhi được dùng Hydrocortisone (98,8%) và Antihistamine H1 (100%) Kết quả điều trị: 99% bệnh nhân ra sốc và sống, 81,9% bệnh nhi ra sốc sau khi dùng 1-2 liều Adrenaline TB/TDD/TM (73,3% sau 1 liều và 8,6% sau 2 liều) Tỉ lệ sốc phản vệ nặng chiếm 10,5% và tỉ lệ tử vong thấp 1%
Kết luận: Trong điều trị sốc phản vệ, Adrenaline là thuốc quan trọng hàng đầu Nếu bệnh nhi được
điều trị sớm và đúng với Adrenaline có thể góp phần cải thiện tỉ lệ sốc phản vệ nặng và tỉ lệ tử vong
Từ khóa: sốc phản vệ, điều trị, Adrenaline
ABSTRACT
THERAPEUTIC FEATURES IN CHILDREN WITH ANAPHYLACTIC SHOCK AT PEDIATRIC
HOSPITAL No 1
Nguyen Xuan Quoc, Pham Van Quang, Tang Chi Thuong
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 22 - 28
Objective: Anaphylactic shock is an immediate reaction, threatening to children’s life So timely and
appropriate therapy is always requested for all of hospitals and heathy services Our study described therapeutic features in children with anaphylactic shock, contributing to help paediatric patients out of anaphylactic shock fastly, decreasing rate of severe and fetal anaphylactic shock
Method: Cross-sectionnal, descriptive and analysis retrospective study for 105 paediatric patients
with age of 1 months to 15 years old, diagnosed anaphylactic shock at pediatric hospital No 1 from June 1 st
2006 to June 1 st 2015
* Bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức
** Bộ môn Nhi, Trường ĐHYK Phạm Ngọc Thạch - Bệnh viện Nhi Đồng 1
Trang 2Results: Tertiary health service: There were 28 anaphylactic shock cases in total 32 referral cases, 26
cases (92.9%) were treated with Adrenaline, in those 26 cases there were 5 cases (19.2%) treated with IM/SC/IV Adrenaline combined with continuous IV Adrenaline 80.8% patients were used Adrenaline with appropriate doses according to recommendations IM/SC initial Adrenaline doses were 80.8% There were 25/28 (89.3%) cases out of shock after treatment Pediatric hospital No 1 (83 cases with anaphylactic shock): 100% patients were used Adrenaline with appropriate doses 84.3% patients were only used alone IM/SC/IV Adrenaline 15.7% patients were used continuous IV Adrenaline 62.6% patients were supported with oxygen, consisting of 7/83 (8.4%) patients with intubulation 27.7% patients were given electrolyte fluids with antishock doses 7.2% patients with continuous IV Dopamine and 3.6% patients with continuous IV Dobutamine Almost patients were used Hydrocortisone (98.8%) and Antihistamine H1 (100%) There were 82/83 (98.8%) cases out of shock and alive; 1/83 (1.2%) case with death after treatment Results of treatment: 99% patient out of shock and alive, 81.9% patient out of shock after using
1 to 2 doses of IM/SC/IV Adrenaline (73.3% patients after 1 dose and 8.6% after 2 doses) The rate of severe anaphylactic shock were 10.5% and the rate of death were 1%
Conclusion: In treatment of anaphylactic shock, Adrenaline is the most important drug If patients
were treated immediately and appropriately with Adrenaline, we could reduce the rate of severe anaphylactic shock and death
Key words: anaphylactic shock, therapeutic features, Adrenaline/Epinephrine
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốc phản vệ là phản ứng quá mẫn tức thì, đe
dọa sinh mạng người bệnh, có thể dẫn đến tử
vong nếu không nhận biết sớm và xử trí kịp
thời(1,17) Sốc phản vệ có thể xảy ra ở bất cứ nơi
đâu, ở nhà, trường học, ngoài đường cũng như
trong bệnh viện với nhiều loại dị nguyên khác
nhau Có rất nhiều nguyên nhân đưa đến sốc
phản vệ như thuốc, thức ăn, vaccine, ong
đốt,…Do đó vấn đề nhận biết sớm các triệu
chứng khởi phát và xử trí đúng, kịp thời sốc
phản vệ luôn được đặt ra tại các cơ sở y tế
Trong những năm gần đây, tại Việt Nam,
sốc phản vệ do tiêm vaccine, tiêm thuốc thường
gặp, đặc biệt là ở trẻ em, có thể dẫn đến tử vong
nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp
thời Điều này đã và đang gây ra nhiều lo lắng
không chỉ đối với người nhà bệnh nhi mà còn
với cả nhân viên y tế, ít nhiều ảnh hưởng đến
việc điều trị bệnh cũng như việc tiêm ngừa các
vaccine trong chương trình Tiêm chủng mở
rộng cho trẻ em tại các cơ sở y tế Tại Việt Nam
có rất ít nghiên cứu về sốc phản vệ ở trẻ em Vì
vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm
phản vệ tại Bệnh viện Nhi đồng 1 Từ kết quả nghiên cứu này, chúng tôi hy vọng sẽ đưa ra những kiến nghị giúp điều trị kịp thời và đúng các bệnh nhi bị sốc phản vệ, góp phần làm giảm
tỉ lệ sốc phản vệ nặng và tỉ lệ tử vong ở các trẻ bị sốc phản vệ
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, có phân tích
Dân số nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhi được chẩn đoán sốc phản vệ tại Bệnh viện Nhi đồng 1 từ 01/06/2006 đến 01/06/2015
Cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu:
Z21-α/2 .p (1-p)
n = -
d2
với Z = 1,96.; α = 0,05; d = 0,07, p là tỉ lệ sốc phản vệ nặng (gồm tái sốc và sốc kéo dài) ở bệnh nhi p = 0,13 (16) ) Do đó, cỡ mẫu chúng tôi tính được là n = 89
Trang 3Tiêu chí chọn mẫu
Trẻ từ 1 tháng đến 15 tuổi nhập Bệnh viện
Nhi đồng 1 trong thời gian từ 01/06/2006 đến
01/06/2015 được chẩn đoán là sốc phản vệ
Tiêu chí loại trừ
Trẻ bị sốc phản vệ kèm với bất kỳ sốc do
nguyên nhân khác
Thu thập số liệu
- Tất cả các bệnh án có mã ICD 10 là T78.2
(sốc phản vệ), T80.5 (sốc phản vệ do huyết
thanh), T78.0 (sốc phản vệ do thức ăn), T88.6
(sốc phản vệ do thuốc) từ 01/06/2006 đến
01/06/2015 lấy từ phòng Công nghệ thông tin
bệnh viện
- Từ danh sách các bệnh nhân này, chúng tôi
sẽ chọn ra các bệnh nhi thỏa mãn các tiêu chí
chọn mẫu và tiêu chí loại trừ để đưa vào mẫu
nghiên cứu
- Các số liệu từ các bệnh án sẽ được thu thập
vào trong bệnh án nghiên cứu
Định nghĩa sốc phản vệ (1,6,16) :
- Có tiếp xúc với dị nguyên hoặc tiêm thuốc
Và - Khởi phát đột ngột (từ vài phút đến 12
giờ)
Và - Có biểu hiện sốc:
- Huyết áp kẹp: Huyết áp tâm thu – huyết
áp tâm trương ≤ 20 mmHg, hoặc
- Huyết áp tụt: huyết áp tâm thu giảm
Huyết áp tâm thu < 70 mmHg ở trẻ từ 1
tháng đến 1 tuổi
Huyết áp tâm thu < (70 mmHg + (2 x tuổi))
ở trẻ từ 1-10 tuổi
Huyết áp tâm thu < 90 mmHg ở trẻ từ
11-15 tuổi
- Huyết áp không đo được
Xử lý và phân tích số liệu
+ Số liệu thu thập được nhập vào, xử lý và
phân tích bằng phầm mềm SPSS 20.0
+ Thống kê mô tả: Tần số, tỉ lệ %, Trung bình và độ lệch chuẩn (Trung vị và khoảng tứ vị)
+ Thống kê phân tích: phép kiểm Chi bình phương (phép kiểm chính xác Fisher), T-Test + Ngưỡng ý nghĩa thống kê được lựa chọn p<0,05
KẾT QUẢ
Trong thời gian từ 01/06/2006 đến 01/06/2015, có 105 bệnh nhi bị sốc phản vệ nhập BVNĐ1 đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu
Đặc điểm điều trị
Điều trị tại cơ sở y tế tuyến trước
Trong số 32 ca chuyển đến BVNĐ1 từ tuyến trước, có 28 ca được chẩn đoán sốc phản vệ tại tuyến trước; 4 ca không được chẩn đoán sốc phản vệ khi đến nhập BVNĐ 1 đều vào sốc
Bảng 1: Dùng Adrenaline tại tuyến trước (n=28)
Dùng Adrenaline tại tuyến trước Tần số Tỉ lệ (%)
Dùng Adrenaline 26 92,9 Đường dùng Adrenaline ban đầu
Dùng Adrenaline TB/TDD/TM đúng
liều
21 80,8
Số liều Adrenaline TB/TDD/TM
Dùng Adrenaline TTM 5 19,2
Nhận xét: 26/28 ca (92,9%) được dùng
Adrenaline, trong đó có 5 ca được dùng
Adrenaline TTM Dùng đúng liều Adrenaline chiếm 80,8% Đường dùng Adrenaline ban đầu
là TB/TDD chiếm 80,8% 92,3% bệnh nhi dùng 1 liều Adrenaline
Bảng 2: Các biện pháp điều trị khác tại tuyến trước
(n=28)
Các biện pháp điều trị khác Tần số Tỉ lệ (%)
Dùng Antihistamine H1 13 46,4
Trang 4Nhận xét: Trong 28 ca sốc phản vệ do các
tuyến trước chuyển, có 78,6% bệnh nhi được
dùng Corticoid (Hydrocortisone) 46,4% ca
được dùng Antihistamine H1
Bảng 3: Kết quả điều trị tại tuyến trước (n=28)
Kết quả điều trị tại tuyến trước Tần số Tỉ lệ (%)
Nhận xét: Có 89,3% ca ra sốc và 10,7% ca
không ra sốc sau khi được xử trí tại tuyến trước
Điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng 1
Bệnh nhi bị sốc phản vệ nhập BVNĐ 1 có 2
nhóm:
Nhóm đã ra sốc: gồm 22 ca đã ra sốc tại
tuyến trước, khi nhập BVNĐ1 sinh hiệu ổn định
Nhóm sốc: gồm 83 ca (4 ca không sốc ở
tuyến trước đến BVNĐ1 vào sốc, 3 ca ra sốc
tuyến trước đến BVNĐ1 tái sốc, 3 ca không ra
sốc tuyến trước tiếp tục sốc tại BVNĐ1, 73 ca tự
đến/đang điều trị tại BVNĐ1 bị sốc phản vệ)
Bảng 4: Dùng Adrenaline ở nhóm sốc lúc nhập/đang
điều trị tại BVNĐ1 (n=83)
Sử dụng Adrenaline Tần số Tỉ lệ (%)
Dùng Adrenaline 83 100
Đường dùng Adrenaline ban đầu
Dùng đúng liều Adrenaline
TB/TDD/TM (n=81)
81 100
Số liều Adrenaline TB/TDD/TM
(n=81)
Cách dùng Adrenaline
Adrenaline TB/TDD/TM 70 84,3
Adrenaline TB/TDD/TM + Adrenaline
TTM
11 13,3
Nhận xét: 100% bệnh nhi được dùng
Adrenaline Dùng Adrenaline TB/TDD/TM
đúng liều là 100% Dùng 1 liều Adrenaline
TB/TDD/TM đơn thuần là 84,3%
● Hỗ trợ hô hấp:
Bảng 5: Hỗ trợ hô hấp ở nhóm sốc lúc nhập/đang điều trị tại BVNĐ1 (n=83)
Tần số Tỉ lệ (%)
Các biện pháp hỗ trợ
hô hấp (n=52)
Oxy qua cannula/
mask + NKQ giúp thở
NCPAP + NKQ giúp thở
Nhận xét: 62,6% bệnh nhi trong nhóm sốc
được hỗ trợ hô hấp, trong đó có 7/83 ca (8,4%) phải đặt NKQ giúp thở
Truyền dịch chống sốc và dùng các thuốc vận mạch khác
Bảng 6: Truyền dịch chống sốc và dùng các thuốc
vận mạch khác ở nhóm sốc lúc nhập/đang điều trị tại BVNĐ1 (n=83)
Tần số Tỉ lệ (%)
Truyền dịch điện giải chống sốc 23 27,7 Truyền dịch đại phân tử chống sốc 1 1,2 Dùng Dopamine TTM 6 7,2 Dùng Dobutamine TTM 3 3,6
Nhận xét: Trong nhóm bệnh nhi bị sốc lúc
nhập BVNĐ1, có 27,7% được truyền dung dịch điện giải chống sốc, 7,2% được TTM Dopamine
và 3,6% được truyền Dobutamine
Dùng Corticoid và Antihistamine H1
Bảng 7: Dùng Corticoid và Antihistamine H1 ở
nhóm sốc lúc nhập BVNĐ1/đang điều trị tại BVNĐ1 (n=83)
Tần số Tỉ lệ (%)
Dùng Corticoid 82 98,8
Dùng Antihistamine H1 (n=83) 83 100
Trang 5Nhận xét: 98,8% bệnh nhi được dùng
Antihistamine H1
Kết quả điều trị 83 ca sốc phản vệ tại BVNĐ 1
Bảng 8: Kết quả điều trị 83 ca sốc phản vệ tại
BVNĐ1 (n=83)
Kết quả điều trị 83 ca sốc phản
vệ tại BVNĐ1
Tần số Tỉ lệ (%)
Sốc nặng, tử vong 1 1,2
Nhận xét: 98,8% bệnh nhi ra sốc, sống, chỉ có
1 ca (1,2%) sốc nặng, tử vong
Kết quả điều trị chung
Bảng 9: Kết quả điều trị sống-chết (n=105)
Kết quả điều trị sống-chết Tần số Tỉ lệ (%)
Nhận xét: 99% bệnh nhi sốc phản vệ được
cứu sống, chỉ có 1 ca tử vong (1%)
Bảng 10: Kết quả điều trị bệnh nhi bị sốc phản vệ
(n=105)
Kết quả điều trị bệnh nhi bị sốc phản vệ Tần
số
Tỉ lệ (%)
Sống
Ra sốc sau 1 liều Adrenaline TB/TDD/TM 77 73,3
Ra sốc sau 2 liều Adrenaline TB/TDD/TM 9 8,6
Ra sốc sau 3 liều Adrenaline TB/TDD/TM 3 2,9
Ra sốc sau ≥ 1 liều Adrenaline TB/TDD/TM
và AdrenalineTTM
6 5,7
Ra sốc sau ≥ 1 liều Adrenaline TB/TDD/TM
+ Epinephrin TTM + Dopamine TTM
6 5,7
Ra sốc sau ≥ 1 liều Adrenaline TB/TDD/TM
+ Epinephrin TTM + Dopamine TTM +
Dobutamine TTM
3 2,9
Nhận xét: 99% bệnh nhi ra sốc và sống, trong
đó 73,3% bệnh nhi ra sốc sau 1 liều Adrenaline
TB/TDD/TM, chỉ có 1 ca (1%) tử vong
Bảng 11: Phân loại bệnh nhi sốc phản vệ (n=105)
Phân loại bệnh nhi sốc phản vệ Tần số Tỉ lệ (%)
Sốc nặng
Phân loại bệnh nhi sốc phản vệ Tần số Tỉ lệ (%)
Sốc + ARDS/hôn mê 2 1,9
Nhận xét: 10,5% bệnh nhi bị sốc nặng (tái sốc,
sốc kéo dài, sốc kèm ARDS/hôn mê) và 1% bệnh nhi tử vong
BÀN LUẬN Điều trị tại tuyến trước
Dùng Adrenaline
92,9% ca được dùng Adrenaline TB/TDD/TB, chỉ 2 ca (7,1%) không được dùng Adrenaline TB/TDD/TM Trong 26 ca được dùng Adrenaline TB/TDD/TB có 5 ca được dùng Adrenaline TTM sau đó; 21/26 ca (80,8%) được dùng Adrenaline đúng liều và 5/26 ca (19,2%) không đúng liều Đường dùng Adrenaline ban đầu là TB/TDD chiếm nhiều nhất (80,8%), đúng như khuyến cáo Đường TB được khuyến cáo nhiều hơn TDD vì làm Adrenaline tăng nhanh hơn trong huyết tương và mô(3,6) Đường dùng Adrenaline TM chiếm 19,2% Do Adrenaline
TM có nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng nên hiện nay không khuyến cáo dùng nữa(6) 92,3%
ca được dùng 1 liều Adrenaline TB/TDD/TM và 7,7% ca được dùng 2 liều Adrenaline TB/TDD/TM Như vậy đa số các ca sốc phản vệ
ở tuyến trước chỉ cần dùng 1 liều TB/TDD/TM
là ra sốc
Kết quả điều trị tại tuyến trước: Có 25/28 ca (89,3%) ra sốc sau khi được xử trí tại tuyến trước
và sinh hiệu ổn khi nhập BVNĐ1 Có 3/25 ca (10,7%) không ra sốc và vẫn sốc lúc nhập BVNĐ1, kết quả 2 ca ra sốc sau 2 liều Adrenaline TB/TDD/TM và 1 ca ra sốc sau 1 liều Adrenaline TB/TDD/TM kết hợp Adrenaline TTM
Điều trị nhóm sốc lúc nhập/đang điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng 1 (n=83 ca)
Dùng Adrenaline
100% bệnh nhi được dùng Adrenaline,
Trang 6trong đó dùng Adrenaline TB/TDD/TM đơn
thuần chiếm tỉ lệ cao nhất (84,3%) Tỉ lệ bệnh nhi
được dùng Adrenaline trong nghiên cứu chúng
tôi tương tự kết quả nghiên cứu của Bùi Văn
Cường (2014)(2) (100%), Phạm Văn Thắng
(2009)(13) (90%) Đường dùng Adrenaline liều
ban đầu: TDD chiếm cao nhất 50,6%, TB chiếm
43,4%, TM chiếm 3,6%, TTM 2,4% Kết quả này
khác với kết quả nghiên cứu của Ronna L
Campbell và cộng sự (2015)(17) với 67,7% dùng
bút tự tiêm bắp, 19,6% TB, 8,3% TDD, 3,3% TM
và 1,1% TTM liên tục và của Bùi Văn Cường
(2014)(2) với Adrenaline TM 93% Trong nhóm
này có 3/83 ca (3,6%) được dùng Adrenaline TM,
thấp hơn Adrenaline TM tại tuyến trước (19,3%)
Việc dùng Adrenaline TM có thể do nhiều lý do
khách quan lẫn chủ quan, vì nghiên cứu của
chúng tôi từ 01/6/2006 đến 01/6/2015 nên có thể
chưa có các khuyến cáo về đường dùng
Adrenaline nào là tốt hơn Tất cả 100% bệnh nhi
trong nhóm này đều được dùng Adrenaline
TB/TDD/TM đúng liều 76,5% bệnh nhi được
dùng 1 liều Adrenaline TB/TDD/TM, 17,3%
dùng 2 liều và 6,2% dùng 3 liều Trong nghiên
cứu của Ronna L Campbell và cộng sự (2015)(17),
tất cả các ca quá liều xảy ra khi dùng
Adrenaline TM Các tác giả này cũng có khuyến
cáo nên dùng Adrenaline TB ở liều đầu tiên,
tránh TM trừ các tình huống đặc biệt Trong các
ca được dùng 2 liều Adrenaline TB/TDD/TM, có
9 ca sốc (64,3%) và 5 ca sốc nặng (35,7%) Trong
5 bệnh nhi được dùng 3 liều Adrenaline
TB/TDD/TM, có 2 ca sốc (40%) và 3 ca sốc nặng
(60%) Như vậy dùng Adrenaline từ 2-3 liều
thường gặp ở các ca sau dùng 1 liều vẫn chưa ra
sốc hoặc các ca sốc nặng (tái sốc) Theo khuyến
cáo có thể lặp lại 1 liều Adrenaline TB/TDD sau
liều Adrenaline đầu tiên từ 5-15 phút, có thể
dùng tối đa 3 liều Adrenaline (1,6) Nếu bệnh nhi
nặng nên chuẩn bị truyền tĩnh mạch Adrenaline
với liều khởi đầu là 0,1 μg/kg/phút, điều chỉnh
tăng liều dần để đạt hiệu quả về huyết áp, tối đa
0,5 μg/kg/phút(1) Do đó thường sau 1 đến 2 liều
đáp ứng thì nên chuyển sang dùng Adrenaline TTM Trong 83 ca sốc tại BVNĐ1 có 13/83 ca (15,6%) được dùng Adrenaline TTM
Dùng Corticoid
Trong nhóm này, 98,8% bệnh nhi được dùng Corticoid Kết quả này tương tự như kết quả của các tác giả: Phạm Văn Thắng (2009)(13)
(100%), Bùi Văn Cường (2014) (2) (100%), Erdem Topal và cộng sự (2013)(4) (92,6%), Erdem Topal
và cộng sự (2014)(5) (90%) Điều này cho thấy sự tuân thủ Phác đồ điều trị trong điều trị sốc phản
vệ tại BVNĐ1
Dùng Antihistamine H1
Trong nhóm này, 100% bệnh nhi đều được dùng Antihistamine H1 Kết quả này cao hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác: Erdem Topal và cộng sự (2013)(4) (96,3%,), F Orhan và cộng sự (2011)(8) (93,7%), Russel S và cộng sự (2010)(18) (93%), Phùng Nguyễn Thế Nguyên và cộng sự (2006)(14) (92,1%), Erdem Topal và cộng sự (2014)(5) (86,6%,), Bùi Văn Cường (2014)(2) (87,5%)
Kết quả điều trị
Trong lô nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có
8 ca tái sốc (7,6%) Theo F Estelle R Simons, Carlos A Camargo (2015)(7), thường tái sốc xảy
ra trong 8-10 giờ sau khi đã giải quyết xong các triệu chứng ban đầu Điều này cho thấy không nên cho bệnh nhi xuất viện sớm, ít nhất là trong vòng 24 giờ đầu kể từ lúc bệnh nhi ra sốc vì khi
về nhà bệnh nhân có thể tái sốc (sốc pha hai) Trong lô nghiên cứu, bệnh nhi ra sốc sống chiếm đến 99% (104/105 ca), trong đó tỉ lệ bệnh nhi bị sốc nặng chiếm 10,5% (tái sốc 7,6%, sốc kéo dài 1%, sốc kèm ARDS/hôn mê 1,9%) Có 1
ca (1%) tử vong trong bệnh cảnh sốc nặng (tái sốc kèm ARDS) Kết quả này cũng tương tự như kết quả nghiên cứu của các tác giả khác: Joyce M Lee và cộng sự (2000)(9), tỉ lệ tử vong là 2%, tỉ lệ sốc kéo dài là 1%, tỉ lệ tái sốc là 6%; Merh S và cộng sự(12), tỉ lệ sốc một pha 87%, tỉ lệ tái sốc 11%
và sốc kéo dài 2%; F Orhan và cộng sự (2011)(8)
Trang 7cộng sự (2012)(10) với tỉ lệ tái sốc 3,6%; Yi-Chen
Hsin và cộng sự(19) với tỉ lệ tử vong là 0,5%
(người lớn); Erdem Topal và cộng sự (2013)(4)
với tỉ lệ tái sốc là 0,9% 73,3% bệnh nhi ra sốc sau
1 liều Adrenaline TB/TDD/TM, 8,6% ra sốc sau 2
liều Adrenaline TB/TDD/TM, 2,9% ra sốc sau 3
liều Adrenaline TB/TDD/TM Chỉ có 14,3 %
bệnh nhi được dùng thuốc vận mạch TTM
(Adrenaline, Dopamine, Dobutamine)
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 105 trẻ được chẩn đoán sốc
phản vệ nhập BVNĐ1 từ 1/6/2006 đến 1/6/2015,
chúng tôi nhận thấy sốc phản vệ nếu được điều
trị sớm và đúng với Adrenaline có thể góp phần
đưa bệnh nhi ra sốc nhanh và làm giảm tỉ lệ sốc
nặng, tỉ lệ tử vong
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bạch Văn Cam (2013), “Sốc phản vệ”, Tăng Chí Thượng, chủ
biên, Phác đồ điều trị bệnh viện nhi đồng 1 năm 2013, nhà xuất
bản y học, xuất bản lần 8, tr 38-44 3
2 Bùi Văn Cường, Nhận xét đặc điểm lâm sàng và điều trị
phản vệ tại khoa hồi sức tích cực bệnh viện Bạch Mai, Hội
thảo về cấp cứu sốc phản vệ, ngày 24 tháng 4 năm 2014, Bệnh
viện Bạch Mai 5
3 Dhami S, Panesar SS, Roberts G, Murano A, Worm M, Bilò
MB, Cardona V, Dubois AEJ, DunnGalvin A, Eigenmann P,
Fernandez-Rivas M, Halken S, Lack G, Niggermann B, Rueff,
Santos AF, Vlieg-Boerstra B, Zolkipli ZQ & Sheikh A on
behalf of the EAACI Food Allergy and Anaphylaxis
Guidelines Group, “Management of anaphylaxis: a
systematic review”, Allergy 2014, 69, pp 168-175 33
4 Topal E et al (2013), Epidemiological and clinical features of
anaphylaxis: Single center experience with 109 children,
Pediatric Allergy, Immunology, and Pulmonology, 26(2), pp
88-92 37
5 Topal E et al (2014), Severe anaphylaxis in children: A
single-center experience, Pediatr Neonatol, 55(4), pp 320-332 38
6 Simons FER, Camargo CA (2015), Anaphylaxis: Rapid
recognitionand treatment, www.uptodate.com, updated: Dec
18, 2014 40
7 Simons FER, Ardusso LRF, Bilò MB, Cardona V, Ebisawa M,
El-Gamal YM, Lieberman P, Lockey RF, Muraro A, Roberts
G, Sanchez-Borges M, Sheikh A, Shek LP, Wallace DV and
Worm M (2014), International consensus on (ICON)
anaphylaxis, World Allergy Organization Journal, 7, pp 1-19 42
8 Orhan F et al (2011), Anaphylaxis in Turkish children: a multi-centre, retrospective, case study, Clinical and
Experimental Allergy, 41(12), pp 1767-1776 44
9 Lee JM and Greenes DS (2000), Biphasic anaphylactic
reactions in Pediatrics, Pediatrics, 106, pp 762-766 54
10 Liew WK et al (2013), Paediatric anaphylaxis in a
Singaporean children cohort: changing food allergy triggers
over time, Asia Pacific Allergy, 3(1), pp 29-34 64
11 Malling H-J, Hansen KS (2005), Anafylaksi ( Anaphylaxis ) ,
Ugeskr Laeger , 167, pp 664-666 72
12 Mehr S, Liew WK, Tey D, Tang ML (2009), Clinical preditors for biphasic reactions in children presenting with
anaphylaxis, Clin Exp Allergy, 39(9), pp 1390 75
13 Phạm Văn Thắng (2009), Nhận xét đặc điểm lâm sàng và điều trị sốc phản vệ do thuốc ở trẻ em tại bệnh viện Nhi
Trung ương, Đề tài nghiên cứu khoa học tại khoa Hồi sức tích cực,
bệnh viện Nhi Trung ương 10
14 Phùng Nguyễn Thế Nguyên, Bùi Quốc Thắng (2006), Phản
ứng phản vệ tại khoa cấp cứu bệnh viện Nhi đồng 1, Tạp chí
y học TP Hồ Chí Minh, tập 10, phụ bản của số 1, 2006, tr
112-115 7
15 Silva R et al (2011), Anaphylaxis in children: A nine years
retrospective study (2001-2009), Allergologia et Immunopathologia, 41(1), pp 31-36 89
16 Nowak R, Farrar JR, Brenner BE, Lewis L, Silverman RA, Emerman C, Miller J, Singer E, Camargo CA, Wood J (2013), Customizing anaphylaxis guidelines for emergency medicine,
The Journal of Emergency Medicine, Vol 45, No 2, pp 299-306
92
17 Campell RL et al (2015), Epinephrine in anaphylaxis: Higher
risk of cardiovascular complications and overdose after administration of intravenous bolus Epinephrine compared
with intramuscular Epinephrine, J Allergy Clin Immunol Pract,
3, pp 76-80 93
18 Russell S et al (2010), Anaphylaxis management in the
pediatric emergency department: opportunities for
improvement, Pediatrics Emergency Care, 26 (2), pp 71-76 94
19 Hsin YC et al (2011), Clinical features of adult and pediatric anaphylaxis in Taiwan, Asian Pac J Allergy Immunol 2011, 29,
pp.307-12 111
Ngày nhận bài báo: 09/03/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 24/03/2016 Ngày bài báo được đăng: 15/04/2016