1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn kỹ năng đọc hiểu văn bản nghệ thuật theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4 (2017)

126 183 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp nhằmhướng dẫn học sinh nắm được kiến thức đồng thời rèn luyện phát triển hainhóm kỹ năng chính đó là: nhóm kỹ năng tiếp nhận đọc, nghe, nhóm k

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

PGS TS ĐỖ HUY QUANG

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Đỗ HuyQuang đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, cung cấp cho em những kiến thức,những kinh nghiệm quý báu, động viên và khích lệ em hoàn thành khóa luậnvới đề tài: “Rèn kỹ năng đọc hiểu văn bản nghệ thuật theo quan điểm giaotiếp cho học sinh lớp 4”

Em xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, giảng viên khoa Giáo dụcTiểu học trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, các cô giáo và các em học sinhtrường Tiểu học Thanh Lâm A (Mê Linh, Hà Nội) đã tạo mọi điều kiện thuậnlợi giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Xuân Hòa, ngày 27 tháng 04 năm 2017

Sinh viên

Khúc Thị Nga

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này không trùng với kết quảnghiên cứu của một công trình nghiên cứu nào đã được nghiên cứu Các sốliệu, dẫn chứng, kết quả nêu trong khóa luận là hoàn toàn trung thực

Xuân Hòa, ngày 27 tháng 04 năm 2017

Sinh viên

Khúc Thị Nga

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Giả thuyết khoa học 5

7 Cấu trúc của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN NGHỆ THUẬT THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Văn bản 6

1.1.1.1 Văn bản là gì? 6

1.1.1.2 Văn bản là sản phẩm của giao tiếp, là môi trường giao tiếp có văn hóa và có tính chuẩn mực 6

1.1.1.3 Văn bản nghệ thuật 8

1.1.2 Đọc - hiểu văn bản 8

1.1.2.1 Quan niệm đọc 8

1.1.2.2 Đọc hiểu 8

1.1.3 Kỹ năng, kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật 9

1.1.3.1 Kỹ năng 9

1.1.3.2 Kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật 10

1.1.4 Quan điểm giao tiếp 10

1.1.4.1 Giao tiếp và giao tiếp ngôn ngữ 10

Trang 5

1.1.4.1.1 Khái niệm giao tiếp và giao tiếp ngôn ngữ 10

1.1.4.1.2 Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 12

1.1.4.2 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp 14

1.1.5 Giao tiếp sư phạm và giao tiếp văn học 17

1.1.5.1 Giao tiếp sư phạm 17

1.1.5.1.1 Giao tiếp giữa GV với HS và giao tiếp giữa các HS với nhau trong quá trình dạy học đọc - hiểu văn bản nghệ thuật 17

1.1.5.1.2 Giao tiếp giữa HS với các thế hệ khác trong quá trình đọc -hiểu văn bản nghệ thuật 19

1.1.5.2 Giao tiếp trong văn học 19

1.1.6 Đặc điểm của học sinh lớp 4 21

1.1.6.1 Đặc điểm tâm lý, sinh lý của học sinh lớp 4 21

1.1.6.2 Khả năng giao tiếp của HS 23

1.2 Cơ sở thực tiễn 24

1.2.1 Khảo sát phân môn Tập đọc trong chương trình SGK TV lớp 4

24 1.2.1.1 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Tập đọc lớp 4 24

1.2.1.2 Quy trình dạy Tập đọc lớp 4 25

1.2.1.3 Văn bản Tập đọc lớp 4 và câu hỏi hướng dẫn Tìm hiểu bài sau văn bản Tập đọc lớp 4 26

1.2.2 Khảo sát hoạt động dạy học đọc - hiểu văn bản nghệ thuật theo quan điểm ở lớp 4 29

1.2.2.1 Mục đích khảo sát 29

1.2.2.2 Đối tượng khảo sát 29

1.2.2.3 Nội dung khảo sát 29

1.2.2.4 Kết quả khảo sát 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN NGHỆ THUẬT THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 4 34

2.1 Rèn kỹ năng đọc thầm 34

Trang 6

2.2 Xây dựng hệ thống bài Tập đọc hiểu thơ theo quan điểm giao tiếp

cho HS lớp 4 35

2.2.1 Bài tập nhận diện ngôn ngữ văn bản 36

2.2.1.1 Bài tập đếm số chữ trên mỗi dòng thơ, xác định thể thơ của bài 36 2.2.1.2 Bài tập nhận ra vần trong mỗi khổ thơ, cách ngắt nhịp ở từng dòng thơ 39

2.2.1.3 Bài tập nhận diện tên bài thơ, tên tác giả 41

2.2.1.4 Bài tập xác định người nói và hoàn cảnh nói trong bài thơ 42

2.2.2 Bài tập làm rõ nghĩa của ngôn ngữ trong văn bản thơ 45

2.2.2.1 Bài tập giải nghĩa từ mới, từ khó 45

2.2.2.2 Bài tập xác định nội dung, nghệ thuật 45

2.3 Xây dựng hệ thống bài tập để rèn kỹ năng đọc hiểu văn bản truyện theo quan điểm giao tiếp cho HS lớp 4 48

2.3.1 Bài tập xác định đoạn, chia đoạn 48

2.3.2 Bài tập đọc hiểu nhân vật 48

2.3.3 Bài tập tìm hiểu sự kiện theo quan điểm giao tiếp 52

2.3.4 Bài tập bình giá về tính nghệ thuật của văn bản 53

2.3.5 Bài tập yêu cầu HS giao tiếp với tác giả 53

2.3.6 Bài tập bình giá về nội dung văn bản 54

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 55

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 56

3.1 Mục đích thực nghiệm 56

3.2 Phương pháp thực nghiệm 56

3.3 Đối tượng thực nghiệm 56

3.4 Quá trình thực nghiệm 56

3.5 Tiêu chí đánh giá 84

3.6 Kết quả thực nghiệm 84

Trang 7

KẾT LUẬN 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC 89

Trang 9

và ngành giáo dục Tiểu học nói riêng đã và đang tiến hành công cuộc đổi mớigiáo dục cả về nội dung và phương pháp dạy học các môn học Tiếng Việt làmột trong những môn học quan trọng ở bậc Tiểu học, biết đọc là biết thêmmột công cụ mới để học tập, để giao tiếp, để nắm bắt thông tin hằng ngày, học đọc đồng thời cũng giúp các em học viết, học nói một cách chính xác,ngôn ngữ trong sáng góp phần rèn luyện con người mới, hình thành một nhâncách toàn diện cho lớp chủ nhân tương lai của đất nước.

1.2 Hiện nay chương trình giáo dục Tiểu học đang nhấn mạnh việc dạyhọc tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp, dạy học tiếng Việt thông qua hoạtđộng giao tiếp Theo quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt thì giaotiếp vừa là mục đích, vừa là phương pháp, phương tiện để tổ chức các hoạtđộng học cho học sinh Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp nhằmhướng dẫn học sinh nắm được kiến thức đồng thời rèn luyện phát triển hainhóm kỹ năng chính đó là: nhóm kỹ năng tiếp nhận (đọc, nghe), nhóm kỹnăng tạo lập (nói, viết) trong các hoạt động giao tiếp cụ thể Dạy học theoquan điểm giao tiếp sẽ tạo ra các tình huống giao tiếp khác nhau, tạo động cơ

để kích thích nhu cầu giao tiếp của học sinh đồng thời góp phần rèn luyện tưduy, nâng cao vốn hiểu biết về tiếng Việt, văn hóa, xã hội, tự nhiên và conngười

1.3 Hiện nay, việc dạy học đọc - hiểu nói chung và dạy học đọc - hiểu

Trang 10

văn bản nghệ thuật nói riêng ở các trường Tiểu học nói chung mới chỉ dừnglại ở việc “giải mã văn bản”, tức là dạy học đọc - hiểu mới chỉ tập trung chủyếu vào hệ thống câu hỏi để HS tái tạo nội dung bài đọc, giải thích ý nghĩa từ

và nêu nội dung chính của bài đọc Các em chưa có điều kiện được “đốithoại” với các nhân vật cũng như với tác giả Các em cũng chưa có điều kiệnhiểu văn bản nghệ thuật theo cách hiểu, cách nhìn của bản thân các em màluôn phải hiểu một cách dập khuôn theo gợi ý của thầy, cô giáo, theo hệ thốngcâu hỏi trong sách giáo khoa Để giải quyết vấn đề này, nhiều công trìnhnghiên cứu đã đề cập đến việc dạy học theo quan điểm giao tiếp nhưng việcrèn luyện các kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật trong việc dạy học đọc -hiểu cho học sinh Tiểu học thì chưa có

1.4 Trong các phân môn của Tiếng Việt, phân môn Tập đọc có vai tròrất quan trọng, nhằm giúp học sinh phát triển khả năng giao tiếp trong đó đọc

- hiểu là đích đến của hoạt động học, đọc - hiểu gắn liền với hoạt động ngônngữ Rèn kỹ năng đọc - hiểu cho học sinh sẽ phải quan tâm đến hai kỹ năng:đọc văn bản và hiểu văn bản Nếu chỉ chú trọng rèn kỹ năng đọc thì giờ Tậpđọc không đạt được đích của việc dạy đọc là tìm hiểu bài và nếu chỉ chú ý rèn

kỹ năng hiểu thì giờ Tập đọc sẽ thành giờ giảng văn hay phân tích văn bản màthôi Chính vì vậy phải chú ý rèn luyện cho HS Tiểu học kỹ năng đọc - hiểu,đặc biệt là với HS lớp 4 Đây là giai đoạn mà HS đã có vốn kiến thức nhấtđịnh cũng như vốn từ cần thiết và đây là giai đoạn chuẩn bị cho cấp học caohơn Dạy học môn Ngữ văn ở cấp trung học cơ sở hay trung học phổ thôngđều đang đi theo định hướng dạy học đọc - hiểu văn bản Do đó, yêu cầu đặt

ra hiện nay là phải rèn luyện kỹ năng, năng lực đọc - hiểu văn bản cho họcsinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng

Chính vì những lí do trên tôi chọn đề tài: “Rèn kỹ năng đọc - hiểu văn

bản nghệ thuật theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4” để tìm hiểu và

Trang 11

Theo tác giả Nguyễn Trí trong cuốn Một số vấn đề dạy học tiếng Việt

theo quan điểm giao tiếp ở Tiểu học [11] “dạy tiếng trong giao tiếp (hoặc

bằng giao tiếp) và để giao tiếp là phương hướng giảng dạy tiếng mẹ đẻ” thìchương trình dạy tiếng mẹ đẻ của các nước trên thế giới được xây dựng theophương hướng lấy giao tiếp làm môi trường và phương pháp, lấy việc phục vụgiao tiếp làm nhiệm vụ và mục đích Chương trình dạy ngôn ngữ nói và viếttrong đó chú trọng dạy cả bốn kỹ năng đọc, viết, nghe, nói đồng thời rènluyện các kỹ năng đó trong sử dụng lời nói để giao tiếp, từ đó biến các kỹnăng thành năng lực của mỗi cá nhân học sinh Chương trình dạy tiếng Việt ởViệt Nam cũng đi theo xu hướng đó và đã đạt được thành tựu nhưng chưathực sự làm rõ việc dạy tiếng Việt là hình thành năng lực tiếng Việt trong suynghĩ, trong các thao tác của trí tuệ

Chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt mới từ sau năm 2000 đã thểhiện việc dạy tiếng Việt theo quan điểm GT thông qua hệ thống các chủ điểm

đa dạng, phong phú, thông qua hệ thống bài tập gắn liền với kỹ năng sử dụngtiếng Việt

Bên cạnh việc quan tâm đến dạy học tiếng việt theo quan điểm giao tiếpthì còn nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề dạy học đọc - hiểu theoquan điểm giao tiếp cho HS Tiểu học

Trong cuốn Phương pháp dạy học tiếng việt ở Tiểu học tác giả GS.TS Lê

Phương Nga [9] đã nghiên cứu về quá trình dạy Tập đọc ở Tiểu học trong đótác giả đã bàn luận sâu sắc về việc rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu cho HS Tiểu

Trang 12

học, xây dựng bài Tập đọc - hiểu cho HS Tiểu học.

Cũng theo GS.TS Lê Phương Nga trong Dạy học Tập đọc ở Tiểu học tác

giả đã chú trong xem xét các mặt về cả nội dung và hình thức của văn bảnnhằm giúp GV có căn cứ chính xác xác định nội dung luyện đọc thành tiếng

và đọc - hiểu cho HS Tiểu học, từ đó đưa ra tiến trình tổ chức giờ dạy Tập đọccho HS nhằm đạt hiểu quả tốt nhất trong việc dạy học của GV và tiếp thu kiếnthức, kỹ năng cho HS

Các công trình nghiên cứu của một số tác giả kể trên đã nêu ra được vaitrò quan trọng của việc dạy học tiếng việt theo quan điểm giao tiếp và dạy họcđọc - hiểu của phân môn Tập đọc cũng theo quan điểm giao tiếp Nhưng chưa

có công trình nào nghiên cứu việc rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệthuật theo quan điểm giao tiếp Chính vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu văn bản theo quan điểm giao tiếp cho học sinhlớp 4”, nhằm ngiên cứu và đề xuất được một hệ thống kỹ năng nhằm rènluyện cho HS lớp 4 trong quá trình đọc - hiểu văn bản nghệ thuật theo quanđiểm giao tiếp

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Đề ra biện pháp rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật theoquan điểm giao tiếp cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạyhọc phân môn Tập đọc ở lớp 4-phần tìm hiểu bài

Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của việc dạy học đọc - hiểu vănbản nghệ thuật theo quan điểm giao tiếp

Đề ra biện pháp thực hiện việc rèn kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệthuật theo quan điểm giao tiếp cho HS lớp 4

Thực nghiệm sư phạm, đánh giá quá trình vận dụng các biện pháp rèn

Trang 13

kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật theo quan điểm giao tiếp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy - học đọc - hiểu văn bản nghệ thuật cho HS lớp 4 tronggiờ Tập đọc

Phạm vi nghiên cứu

HS lớp 4A2 trường Tiểu họcThanh Lâm A (Mê Linh - Hà Nội)

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp thống kê, so sánh

Phương pháp thực nghiệm sư phạm

6 Giả thuyết khoa học

Nếu văn bản nghệ thuật được nhìn theo quan điểm giao tiếp, đọc - hiểuvăn bản là khai thác các mối quan hệ giao tiếp trong và ngoài văn bản để HSđược giao tiếp với nhân vật, với tác giả, với các sự việc có trong bài đọc thìgiờ học đọc - hiểu sẽ thú vị hơn, học sinh sẽ có những kỹ năng đọc - hiểu vănbản nghệ thuật nghệ thuật theo quan điểm giao tiếp từ đó học sinh sẽ tích cực,chủ động hơn, chất lượng dạy học phân môn Tập đọc sẽ được nâng cao hơn

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Chương 2 Biện pháp rèn kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật theoquan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4

- Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

CỦA VIỆC DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN NGHỆ THUẬT THEO

QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Văn bản

1.1.1.1 Văn bản là gì?

Văn bản là một tổ chức có ký hiệu được sáng tạo ra cho người đọc, tồntại trước khi có hoạt động đọc của người đọc Văn bản là một chuỗi các kíhiệu được in trên giấy

Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu: “Văn bản là một chỉnh thể hoàn chỉnh vềhình thức, trọn vẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc và đọc lập về giaotiếp; là một biến thể dạng viết liên tực của ngôn bản, thực hiện một hoặc một

số đích nhất định nhằm vào những tiếp nhận nhất định, thường là không cómặt khi văn bản được sản sinh”

Có thể nói: Văn bản là con đẻ của tác giả, được tác giả cân nhắc từng từngữ, từng chi tiết để biểu thị về cuộc sống, con người, thiên nhiên, chính vìvậy văn bản có tính văn hóa và chuẩn mực Văn bản là môi trường giao tiếpgiữa tác giả và người đọc

1.1.1.2 Văn bản là sản phẩm của giao tiếp, là môi trường giao tiếp có văn hóa và có tính chuẩn mực

a Văn bản là sản phẩm của giao tiếp

Văn bản là sản phẩm ngôn ngữ do con người tạo ra trong quá trình giaotiếp Vì vậy văn bản được sản sinh ra trong quá trình giao tiếp, đồng thời làphương tiện giao tiếp Khi giao tiếp, con người luôn có mục đích giao tiếp cụthể nào đó như trao đổi nhận thức, ý kiến, truyền đạt, tiếp nhận tri thức, kinhnghiệm, bộc lộ thái độ, tình cảm, Do vậy văn bản luôn chứa đựng nội dung

Trang 15

thông tin trong từ ngữ, ngữ nghĩa của văn bản, cùng các nhân tố giao tiếptrong văn bản như nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh, nội dung giao tiếp,

b Văn bản là môi trường giao tiếp có văn hóa và có tính chuẩn mực

Văn bản là môi trường giao tiếp có văn hóa, có tính chuẩn mực bởi vănbản là một sản phẩm, là con đẻ của tác giả Để có thể sản sinh ra một văn bản,tác giả đã phải trải qua quá trình nhào nặn, chọn lọc từng chi tiết, từng từ,từng ngữ, từng hình ảnh, Và mỗi văn bản đều mang phong cách ngôn ngữkhác nhau, có nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, cũng như được sử dụng với mục đích giao tiếp khác nhau

Trong tiếng việt, có sáu loại phong cách ngôn ngữ văn bản đó là: phongcách sinh hoạt (nhật kí, tin nhắn, thư từ, ), phong cách nghệ thuật (tự sự:truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi kí, ; trữ tình: ca dao, vè, thơ, ; sân khấu: kịch,chèo, tuồng, ), phong cách chính luận, phong cách khoa học (tiểu luận, luậnvăn, sách giáo trình, SGK, ), phong cách báo chí, phong cách hành chính(thông tư, nghị định, đơn từ, báo cáo, hợp đồng, ) Mỗi văn bản kể trên đượcxây dựng theo quy chuẩn mang đặc thù riêng Ngôn ngữ sử dụng trong cácvăn bản kể trên được sử dụng theo những quy tắc nhất định, vừa có tínhnguyên tắc, vừa có tính sinh động tự nhiên, vừa có tính hình tượng của ngônngữ nghệ thuật, vừa có tính khúc chiết của ngôn ngôn ngữ khoa học Vì vậyngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là công cụ diễn đạt chính, là những tinhhoa văn hóa đã được kết tinh lại

Các văn bản được sử dụng trong SGK chủ yếu là những trích dẫn từ cáctác phẩm văn chương có ngôn ngữ ngắn gọn, hàm xúc, giàu hình ảnh, dễ đivào trong suy nghĩ của HS, gợi ở các em dòng cảm xúc mạnh mẽ Những vănbản đó có thể được xem là khuôn mẫu cho HS trong việc dùng từ, đặt câu, hệthống hóa và mở rộng vốn từ nhằm phục vụ việc giao tiếp cho các em tronghọc tập cũng như trong đời sống

Trang 16

Nói chung là khi HS tiếp xúc với các văn bản mà chủ yếu là các văn bảnnghệ thuật thì đó là HS đang được tiếp xúc với bài học về văn hóa, về cáihay, cái đẹp của văn chương, để xây dựng ở bản thân mỗi HS một con ngườivăn hóa, học văn là học cách làm người.

1.1.1.3 Văn bản nghệ thuật

Nói văn bản nghệ thuật là để phân biệt với những văn bản phi nghệ thuậtnhư văn bản hành chính, văn bản báo chí, văn bản khoa học Văn bản nghệthuật bao gồm các văn bản tự sự như truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi kí, ; vănbản trữ tình như ca dao, vè, thơ, ; sân khấu như kịch, chèo, tuồng,

Văn bản nghệ thuật hay còn gọi là văn bản văn chương là dùng ngôn từlàm chất liệu để xây dựng hình tượng nhân vật, phản ánh và biểu hiện đờisống Khi người đọc tiếp nhận văn bản nghệ thuật sẽ thấy được cái hay củangôn từ, từng từ từng ngữ đều bao gồm nghĩa đen và nghĩa hàm ẩn, mà tínhnghệ thuật chủ yếu được tìm thấy trong ý nghĩa hàm ẩn, từ đó HS nắm bắtđược cả nội dung và nghệ thuật của văn bản

1.1.2 Đọc - hiểu văn bản

1.1.2.1 Quan niệm đọc

Đọc là hoạt động nhận tin Hoạt động đọc chỉ xảy ra khi người đọc nắmđược chữ viết Đọc là quá trình dùng mắt để chuyển các kí hiệu chữ viết trongvăn bản để thành dòng “âm thanh ngôn ngữ” vang lên trong đầu

GS Phương Lựu từng khẳng định rằng: “Đọc tác phẩm là đưa tác phẩmvào văn cảnh mới, quan hệ mới, phát hiện ý nghĩa mới và người đọc khôngngừng làm phong phú mà còn là người sàng lọc và bảo tồn các tác phẩm vănhọc về mặt chất lượng”

1.1.2.2 Đọc hiểu

Để hiểu được văn bản đọc, người đọc phải thực hiện hàng loạt các thaotác tư duy (phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, ) xem xét quan hệ giữa các sự

Trang 17

kiện, chi tiết, tình tiết trong văn bản nghệ thuật Ở giai đoạn này hoạt động tưduy gắn liền với hoạt động ngôn ngữ Đọc hiểu là đích của hoạt động đọc.Khi tiếp nhận văn bản thì quá trình đọc hiểu là quá trình người đọc đồng sángtạo với tác giả Trong quá trình đọc hiểu người đọc cũng đã góp phần sáng tác

ra hiệu quả của văn bản đọc Thông qua hệ thống ngôn từ của tác giả màngười đọc có thể tưởng tượng, xây dựng nên thế giới của các nhân vật theotâm tư, tình cảm cảm, cảm xúc của riêng mình Đọc giả không chỉ đồng cảmvới suy nghĩ, với cảm xúc của tác giả mà còn tự mình có thể đi sâu nghiêncứu những điều tác giả ngầm muốn nói và đôi khi đọc giả có thể phát hiện ranhững điều mà chính tác giả cũng có thể bất ngờ vì đó là những khát vọng,những ý thức của chính người đọc đã khám phá được Việc người đọc có thểđồng sáng tạo ra hiệu quả của văn bản đó là vì người đọc đặt tác phẩm ở hoàncảnh mới, quan hệ mới và lối suy nghĩ mới từ đó đưa ra được những hiệu quả

ý nghĩa mới

Trong giờ Tập đọc nếu ban đầu khi đặt một văn bản nghệ thuật (tácphẩm văn học) cho HS là những cá thể đọc thì đó chỉ là những vật thể gồmnhững ký hiệu chữ cái trên giấy trước mắt HS, nhưng khi diễn ra hoạt độngđọc - hiểu thì khi đó văn bản trở thành đối tượng mà HS muốn tác động, còn

HS sẽ trở thành chủ thể tác động vào văn bản bằng cả tri thức và tâm hồn

“Đọc tức là hiểu” khi đọc mà không hiểu thì chỉ đạt được đích là biếtghép thành thạo các chữ cái để tạo thành từ và đọc được thành tiếng Đọc -hiểu tức là sau khi kết thúc hoạt động đọc người đọc nắm được các thông tintrình bày trong văn bản và biết cách đánh giá các thông tin đó và đôi khi cókhả năng phát hiện ra lượng thông tin mới, luồng ý nghĩa mới

1.1.3 Kỹ năng, kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật

1.1.3.1 Kỹ năng

Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng Những định nghĩa

Trang 18

này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân củangười viết Tuy nhiên hầu như chúng ta đều thừa nhận kỹ năng được hìnhthành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quátrình lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn

có chủ đích và định hướng rõ ràng

Kỹ năng hiểu theo nghĩa thông thường là: “khả năng vận dụng nhữngkiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” theo Từ điểnTiếng Việt, NXB Đà Nẵng, trung tâm từ điển học, 2005

1.1.3.2 Kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật

Kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật là một trong những kỹ năng sửdụng tiếng Việt cần hình thành và rèn luyện cho học sinh Kỹ năng này liênquan trực tiếp đến các hoạt động của thị giác và chủ yếu sử dụng các hoạtđộng của tư duy với sự kiểm soát của ý thức

Kỹ năng đọc - hiểu văn bản nghệ thuật là một kỹ năng chuyên biệt có thểphân thành một số kỹ năng chuyên sâu hơn như: kỹ năng đọc - hiểu văn bảnthơ, kỹ năng đọc - hiểu văn bản truyện ngắn, kỹ năng đọc hiểu văn bản kịch,

1.1.4 Quan điểm giao tiếp

1.1.4.1 Giao tiếp và giao tiếp ngôn ngữ

1.1.4.1.1 Khái niệm giao tiếp và giao tiếp ngôn ngữ

a Khái niệm giao tiếp

Giao tiếp là một hiện tượng tâm lí - xã hội - ngôn ngữ rất phức tạp Chonên rất khó để đưa ra một định nghĩa đầy đủ và thống nhất Có rất nhiều quanniệm khác nhau về giao tiếp:

- Giao tiếp là một hiện tượng đặc thù của con người, chỉ có ở xã hộiloài người

- Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đócon người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, tác động qua lại với nhau

Trang 19

- Giao tiếp là sự trao đổi, tiếp xúc với nhau bằng chuỗi các yếu tốngôn ngữ của người tham dự nói năng tạo nên để truyền đạt nội dung giaotiếp Đó là quá trình tạo lập mã và giải mã với phương tiện được sử dụng làngôn ngữ nhằm hướng đến mục đích nhất định

A Leonchiev đưa ra định nghĩa giao tiếp như sau: “Đó là một hệ thốngnhững quá trình có mục đích và động cơ trong hoạt động tập thể, thực hiệncác quan hệ xã hội và nhân cách, quan hệ tâm lý và sử dụng các phương tiệnđặc thù mà trước hết là ngôn ngữ”

Theo Từ điển Thuật ngữ ngôn ngữ học, giao tiếp là “sự thông báo hay

truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó” Theo đó, có thể hiểu giaotiếp là hoạt động giữa hai người hay hơn hai người nhằm bày tỏ với nhau mộtthông tin trí tuệ hoặc cảm xúc, một ý muốn hành động hay một nhận xét về sựvật, hiện tượng nào đó

Tóm lại, giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin để nhận biết và tácđộng lẫn nhau trong quan hệ giữa người với người nhằm đạt được mục đíchnhất định Vì vậy giao tiếp là một quá trình hoạt động tâm lý hết sức phức tạptrải qua ba trạng thái: thứ nhất là trao đổi thông tin, tiếp xúc tâm lý, thứ hai làhiểu biết lẫn nhau, thứ ba là tác động và ảnh hưởng lẫn nhau Nếu không thựchiện tốt hoặc không thực hiện đủ cả ba trạng thái đó thì quá trình giao tiếp sẽkém hiệu quả hoặc gặp trục trặc

Một hoạt động giao tiếp được hình thành bởi các nhân tố: nội dung giaotiếp, nhân vật giao tiếp, hình thức giao tiếp, phương tiện giao tiếp, hoàn cảnhgiao tiếp, các nhân tố này có mỗi quan hệ qua lại, bền chặt với nhau để cũnghướng đến mục đích giao tiếp

b Khái niệm giao tiếp ngôn ngữ

Giao tiếp ngôn bằng ngôn ngữ nói tắt là giao tiếp ngôn ngữ là giao tiếplấy ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết làm phương tiện

Trang 20

1.1.4.1.2 Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

a Ngôn ngữ nói

Là ngôn ngữ hướng vào người khác, biểu hiện bằng âm thanh và đượctiếp nhận bằng thính giác (tai nghe), bao gồm ngôn ngữ đọc thoại và đốithoại

+ Ngôn ngữ đối thoại biểu hiện sự giao tiếp qua lại (thường là giữa haiphía) trong đó có sự chủ động và sự thụ động được chuyển đổi luân phiên từngười này sang người kia, người này nói người kia nghe và ngược lại, đóchính là sự luân phiên thay đổi vai trò chủ thể giao tiếp, khi người này là chủthể thì người kia là đối tượng giao tiếp Mỗi phát ngôn đều được kích thíchbởi phát ngôn có trước và phản xạ lại phát ngôn có trước ấy Thuận lợi nhấtcho ngôn ngữ đối thoại là kiểu tiếp xúc không mang tính quan phương, làkiểu trò chuyện bằng khẩu ngữ Do đối thoại trực tiếp mặt đối mặt nên ngoàiviệc sử dụng phương tiện ngôn ngữ còn kèm theo những phương tiện phingôn ngữ Vì vậy trong quá trình giao tiếp, chủ thể phải biết cách diễn đạtbằng lời nói và đồng thời phải biết lắng nghe, theo dõi nét mặt, cử chỉ, hànhđộng của đối tượng giao tiếp, có khả năng phán đoán tâm trạng, tâm ý củangười đó và từ đó tự điều chỉnh hành vi, tâm lý của mình

+ Ngôn ngữ đọc thoại: là ngôn ngữ mà người nói, nói cho một người haymột nhóm người nghe mà không có chiều ngược lại một cách trực tiếp, ví dụnhư: người dẫn bản tin thời sự, Ngôn ngữ này đòi hỏi người nói phải có sựchuẩn bị trước về nội dung và tìm hiểu về đối tượng sẽ lắng nghe Vì tín hiệungôn ngữ phát đi chỉ có một chiều từ người nói nên câu, từ phải được gọtgiũa, lựa chọn chính xác, rõ ràng, đúng quy tắc ngữ pháp và yêu cầu sự tậptrung chú ý ở cả người nói và người nghe

b Ngôn ngữ viết

Ngôn ngữ viết ra đời muôn hơn ngôn ngữ nói, được biểu hiện bằng chữ

Trang 21

viết và được thu nhận bằng thị giác (mắt)

Ngôn ngữ viết có đặc điểm riêng là ngoài yêu cầu chặt chẽ về ngữ phápcòn có yêu cầu về chính tả Trong ngôn ngữ viết sự hỗ trợ của hệ thống dấucâu, của các kí hiệu văn tự, giúp biểu hiện thêm nội dung giao tiếp

Nhìn chung ở ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết thì giao tiếp đều gồm haimặt là tạo lập và lĩnh hội Khi nói mặt tạo lập là nói, lĩnh hội là nghe, khi viếtmặt tạo lập là viết, mặt lĩnh hội là đọc Như vậy ngôn ngữ nói và ngôn ngữviết là hai công cụ giao tiếp quan trọng bằng ngôn ngữ, giúp đạt được mụcđích của giao tiếp

Trong giao tiếp ngôn ngữ giữ ba chức năng chính đó là: chức năng thôngbáo, chức năng biểu cảm, chức năng tác động Ba chức năng này được thểhiện một cách đa dạng qua văn bản, đem lại những hiệu quả tương ứng Chứcnăng thông báo giúp văn bản phát huy hiệu quả về nhận thức giúp người đọc,người nghe tiếp nhận lượng thông tin mà văn bản đề cập đến, chức năng biểucảm phát huy hiệu quả về việc bộc lộ tình cảm, cảm xúc, chức năng tác độngphát huy hiệu quả về hành động tác động đến đối tượng tiếp nhận Ba chứcnăng này không tách rời mà đan xen nhau, tùy từng văn bản mà chức năngnào sẽ giữ vai trò là chức năng chủ yếu

Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ gồm hai quá trình là tạo lập và lĩnhhội văn bản

Tạo lập văn bản là hoạt động của người truyền tin đã tạo một văn bản(nói và viết) được người truyền “mã hóa” bằng ngôn ngữ Lĩnh hội là hoạtđộng của người nhận tin khi “giải mã” ngôn ngữ mà họ nhận được Để giải

mã được hệ thống tín hiệu ngôn ngữ của người truyền tin, người nhận tin phảidựa vào năng lực ngôn ngữ cũng với thói quen, kinh nghiệm trong giao tiếp

để chiếm lĩnh được nội dung, ý nghĩa của văn bản Hiệu quả của quá trìnhgiao tiếp ở đây phụ thuộc vào cả sự mã hóa thông tin và giải mã thông tin

Trang 22

Tuy nhiên việc lĩnh hội thông tin từ văn bản ngôn ngữ nhiều khi khôngđơn giản, đặc biệt là đối với các văn bản nghệ thuật với nhiều tầng ý nghĩa,các nhân vật giao tiếp lại khác nhau về đặc điểm tâm lý lứa tuổi, thói quen sửdụng ngôn ngữ, nét văn hóa, Chúng ta thường thấy xuất hiện không íttrường hợp người nói và người nghe không hiểu ý nhau, “ông nói gà, bà nóivịt”, người nói thì đưa ra một nội dung thông tin A, người nghe thì lại hiểuthành nội dung B Xảy ra hiện tượng này vì có thể do chính đối tượng giaotiếp, hoặc do văn bản, do việc tạo mã hoặc giải mã thông tin gặp vấn đề Nhưvậy để lĩnh hội hiệu quả thông tin thì các nhân vật giao tiếp phải chú ý đồngthời đến văn bản và các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trong quá trình giaotiếp.

1.1.4.2 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp

Giao tiếp là hoạt động bao gồm nhiều nhân tố có quan hệ qua lại, ràngbuộc với nhau

a Nhân vật giao tiếp

Đó là những người tham gia vào quá trình giao tiếp (người nói với ngườinghe, người viết với người đọc), một người hay nhiều người, với những đặcđiểm về sinh lý, tâm lý và xã hội cũng như tri thức, trình độ hiểu biết, tất cảnhững đặc điểm của nhân vật giao tiếp đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quảgiao tiếp

b Nội dung giao tiếp

Nội dung giao tiếp là những vấn đề mà nhân vật giao tiếp đề cập đến khigiao tiếp Đó là những gì đã, đang hoặc sẽ xảy ra trong thế giới thực mà conngười ta đang sống hoặc là ở một thế giới khác được tưởng tượng ra Khi nóiđến sự vật, sự việc nào đó thì phải xác định rõ sự vật đó thế nào, ai làm gì với

ai, ở đâu, khi nào và nhăm mục đích gì,

Trong dạy học, nội dung giao tiếp có thể là ngôn ngữ, ví dụ trong trường

Trang 23

hợp khi dạy môn tếng Việt, các thầy cô giáo dùng tiếng Việt để nói về tiếngViệt, về những đơn vị ngữ pháp và quy tắc dùng chúng

c Phương tiện giao tiếp và kênh giao tiếp

Phương tiện giao tiếp chủ yếu đó là ngôn ngữ Ngôn ngữ đượcdùng trong giao tiếp bao gồm cả nói và viết và chúng thường ở dạng mộtbiến thể Chẳng hạn, biến thể tiếng địa phương như tiếng Hà Nội, tiếng Huế,tiếng Sài Gòn, biệt ngữ xã hội,

Để cho giao tiếp đạt hiệu quả thì người truyền và người nhận tínhiệu phải có trình độ tương ứng nhất định trong việc sử dụng ngôn ngữ

Phương tiện giao tiếp luôn được sử dụng thông qua một kênh giao tiếpnhất định Kênh giao tếp là đường liên lạc giữa các nhân vật giao tiếp, kênhnói-nghe trực tiếp, kênh nói-nghe gián tiếp, kênh viết-đọc thông quachữ viết, Vì vậy phải tổ chức kênh sao cho quá trình giao tiếp đạt hiệu quảnhất Ví dụ: kênh viết - đọc thông qua chữ viết thì cần phải cấu trúc bài viết

ra sao và làm thế nào để đối tượng giao tiếp nhìn thấy rõ các chữ viết

d Hoàn cảnh giao tiếp

Hoàn cảnh giao tiếp là bối cảnh diễn ra quá trình giao tiếp, bao gồm cảkhía cạnh vật chất và khía cạnh xã hội

Khía cạnh vật chất dễ nhận biết nhất là thời điểm cụ thể, không gian cụthể, số người hiện diện, khí hậu, đồ vật xung quanh, của cuộc giao tiếp cụthể

Khía cạnh xã hội bao gồm những hiểu biết của người tham gia giao tiếp,môi trường xã hội của sự giao tiếp: môi trường có tính chất lễ nghi trangtrọng hay là môi trường không có tính chất lễ nghi

e Mục đích giao tiếp

Mục đích giao tiếp là cái mà mọi cuộc giao tiếp đều hướng đến Thỏa

Trang 24

mãn nhu cầu trao đổi thông tn, nhu cầu chia sẻ tình cảm, nhu cầu tiếp xúc giả

Trang 25

trí, nhu cầu hợp tác, nhu cầu khẳng định bản thân,

16

Trang 26

1.1.5 Giao tiếp sư phạm và giao tiếp văn học

1.1.5.1 Giao tiếp sư phạm

Giao tiếp giữa con người với con người trong hoạt động sư phạm đượcgọi là giao tiếp sư phạm, đó là việc tổ chức các hoạt động trao đổi, bàn luận,đánh giá, trong một quy trình dạy học với sự tham gia của người dạy vàngười học

Bên cạnh mối quan hệ giao tiếp chủ yếu là giữa người dạy (GV) vàngười học (HS) thì ở mỗi nội dung học khác nhau lại nảy sinh thêm một mối quan hệ giao tiếp mới đó là giao tiếp giữa HS với nội dung bài học

Trong thực tế, ở môn Tập đọc, khi GV hướng dẫn HS tếp xúc với vănbản và đi sâu tìm hiểu văn bản đó thì sẽ nảy sinh một mối quan hệ khácnữa đó là quan hệ giữa HS này với HS khác, giao tiếp giữa HS với một thế

hệ khác, thế hệ khác ở đây có thể hiểu đó là các bài Tập đọc được trích dẫntrong SGK có thể là các tác phẩm dân gian: truyện cổ tích, thần thoại, truyềnthuyết, chúng được sáng tác trong những thời kỳ lịch sử khác nhau, vì vậykhi các em đọc - hiểu các tác phẩm này thì cũng có nghĩa là các em đang giaotếp với những con người ở những thời đại đó Khi tm hiểu bài Tập đọc, dưới

sự hướng dẫn của GV thì tự các em HS có thể trao đổi với nhau, hơn nữa mỗi

HS lại có sự cảm nhận riêng bằng tâm hồn mình, đặt tnh cảm của mình đểhiểu và cảm thụ bài đọc Tóm lại, có thể nói giao tiếp sư phạm trong dạy họcđọc - hiểu là giao tiếp giữa GV và HS, giao tiếp giữa các HS với nhau và giaotếp giữa HS với thế hệ nào đó

1.1.5.1.1 Giao tiếp giữa GV với HS và giao tếp giữa các HS với nhau trong quá trình dạy học đọc - hiểu văn bản nghệ thuật

Đây là hai mối quan hệ giao tiếp cơ bản trong nhà trường Vai trò củangười GV chính là định hướng, tổ chức các hoạt động học tập cho HS, giúp

HS chiếm lĩnh được nội dung bài học Đặc biệt là trong dạy học đọc - hiểu, ở

Trang 27

đó GV phải khéo léo tổ chức các hoạt động học tập, gợi mở tư duy cho HSbằng hệ thống các câu hỏi, giao tiếp trực tếp với HS để đạt được mục tiêucủa việc dạy và học

Ví dụ: Khi dạy bài Tập đọc “Đoàn thuyền đánh cá” (T.V4, tập 2, tr.59)

GV đưa ra một hệ thống câu hỏi để giao tiếp với HS như:

- Qua phần đọc bài Tập đọc, theo em đoàn thuyền đánh cá ra khơi khinào? Những câu thơ nào cho em biết điều đó?

- Đoàn thuyền đánh cá trở về vào lúc nào? Em biết điều đó nhờ nhữngcâu thơ

nào?

Trong quá trình giao tiếp với HS, GV có thể đưa ra phương pháp và hìnhthức tổ chức học tập phù hợp, hơn nữa khi giao tiếp trực tiếp giáo viên cóthể dự đoán khả năng tiếp nhận của HS đề từ đó giúp các em điều chỉnh quátrình đó đạt hiểu quả tốt nhất Dạy học đọc - hiểu theo định hướng giao tếpkhông những tạo điều kiện để HS chủ động phát triển nhận thức mà còn pháttriển năng lực giao tiếp Trong tổ chức hoạt động học tập, GV có thể tiếnhành cho HS trao đổi, bàn luận, thảo luận nhóm, giúp cho việc tiếp nhậnbài học trở nên đa dạng, sâu sắc hơn Các hoạt động giao tếp sư pham luônđược người GV lựa chọn và chuẩn bị kỹ lưỡng thể hiện trong kế hoạch dạyhọc từ khâu xác định mục tiêu cho đến khâu kết thúc bài học, phân rõ từnghoạt động của GV và HS

Bên cạnh đó, trong quá trình tm hiểu bài Tập đọc, các HS được trao đổi,tranh luận cũng như đưa ra những nhận xét xung quanh nội dung bàihọc chính là hoạt động giao tiếp quan trong giúp các em hiểu và nắmchắc nội dung bài, đồng thời phát triển ở các em các kỹ năng giao tiếp nhưbày tỏ ý kiến, tranh luận, bàn luận,

Trang 28

1.1.5.1.2 Giao tiếp giữa HS với các thế hệ khác trong quá trình đọc - hiểu văn bản nghệ

1.1.5.2 Giao tiếp trong văn học

Giao tiếp trong văn học là hoạt động giao tiếp dùng văn học làm phươngtện để truyền tải thông điểm của người truyền (tác giả) và người nhận (đọcgiả) Người sáng tác ra tác phẩm văn học muốn truyền tải tư tưởng, tìnhcảm, quan điểm của mình, người đọc nhờ có tác phẩm mà tiếp nhận đượcnhững tư

tưởng, tình cảm, quan điểm đó Có thể nói tác phẩm văn học là cầu nối, làphương tiện để tác giả và người đọc tếp xúc giao tiếp với nhau

Người xưa có câu: “Thi ngôn chí” (thơ bày tỏ lý tưởng), “Thi duyêntình” (thơ bày tỏ tình cảm) Nhà thơ, nhà văn sáng tác ra những tác phẩmvăn học là để bàn luận, bày tỏ tâm tư tình cảm của chính mình về cuộc sống(gồm cả cuộc sống nội tâm và cuộc sống thực tại mà nhà văn nhận thấy)

“Sáng tác văn chương là một nhu cầu giao tiếp, một hoạt động giao tếpvới đời sống, với mọi người và với chính bản thân chủ thể sáng tạo” [7,tr.225]

Trang 30

muốn người đọc thấu hiểu những gì họ suy nghĩ, những gì họ quan sát thấy,những giá trị nghệ thuật qua từng từ ngữ, từng câu chữ, họ muốn ngườiđọc có thêm những hiểu biết mới về con người, về xã hội.

Một sáng tác văn học có thể được người khác tiếp nhận bằng hình thứcnghe (thính giả) hoặc đọc (đọc giả) Quá trình tiếp nhận diễn ra từ khi vănbản ngôn từ được tiếp xúc cho đến khi phân tch, lĩnh hội những giá trị

về nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm qua hệ thống ngôn ngữ, sau

đó là sự đánh giá tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật của chính tác giả Tiếpnhận tác phẩm văn học là hoạt động khám phá, nhận thức của người đọc vềcon người và cuộc sống qua lăng kính của nhà thơ, nhà văn Bên cạnh việctiếp nhận tác phẩm, người đọc thông qua hoạt động giao tiếp văn học còn

có thể tác động

ngược trở lại tác phẩm văn học, đem đến một giá trị mới, hình ảnh mớiđôi khi ngoài suy nghĩ của tác giả Điều đó làm phong phú thêm giá trị của tácphẩm

Khi giao tiếp với tác phẩm văn học, có thể người đọc không biết tớingười tạo ra tác phẩm ấy là ai, nhưng chắc chắn nhớ tới các hình tượng vănhọc được tạo nên trong tác phẩm Như vậy người đọc đã trực tiếp giaotiếp với hình tượng văn học, chúng giống như những thực thể sống, hiểnhiện ngoài đời với những đặc điểm, tnh cách, số phận riêng biệt Có thể làdùng hình tượng con người để nói về chính con người, hình tượng convật, hình

tượng thiên nhiên để ám chỉ con người, Chẳng hạn như khi tiếp xúc vớitruyện “Tấm Cám” qua nghe kể chuyện hoặc đọc truyện thì hiện lêntrước mắt chúng ta là một cô Tấm dịu dàng, hiền lành, chăm chỉ, thường bị

gì ghẻ và cn của mụ bắt nạt nhưng cuối cùng vẫn được hưởng một cuộc sốnghạnh phúc, còn cô Cám lười biếng, xấu tnh, mụ gì ghẻ nanh ác, tham lam

Trang 31

đều bị trừng phạt thích đáng Đây là những nhân vật đại diện cho những conngười bằng xương bằng thịt ngoài đời được tác giả dân gian khéo léo đưavào câu

Trang 32

chuyện để thể hiện nguyện vọng một cuộc sống bình đẳng hạnh phúc, ngườiở

hiền gặp lành, người ác gặp ác

Điểm khác biệt điển hình giữa hình tượng nhân vật văn học và thực

tế đời sống đó là trong văn học luôn hướng đến chân, thiện, mĩ, hình tượngvăn học luôn được khắc họa một cách sâu sắc bằng những từ ngữ, chi tiết cótính biểu đạt cao Chính vì thế, khi giao tiếp với hình tượng văn học, đòi hỏingười đọc phải thấy được điểm sáng trong mỗi hình tượng, phát hiện đượcchi tết nào hay, từ ngữ nào biểu đạt rõ nhất hình tượng văn học của tácphẩm

Như vậy qua giao tiếp văn học, HS có thể khám phá ra đặc điểm tínhcách của nhân vật, các mối quan hệ của các nhân trong văn bản đọc từ đóhiểu

được nội dung ý nghĩa của bài Tập đọc

1.1.6 Đặc điểm của học sinh lớp 4

1.1.6.1 Đặc điểm tâm lý, sinh lý của học sinh lớp 4

Cấp Tiểu học được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn đầu Tiểu học (lớp1,2,3) và giai đoạn cuối Tiểu học (lớp 4,5) Trong giai đoạn lớp 4, các em đã

có sự phát triển cao hơn về tâm lý, sinh lý

- Tâm lý của các em lớp 4 cũng đã phát triển một số mặt như: ýthức, tự đánh giá, lòng tự trọng và dễ tự ái Các em quan tâm đến bản thânmình nhiều hơn, các em gái xuất hiện thế giới nội tâm, có những sự riêng tư,nhiều

điều thầm kín, sự gắn kết về tình bạn cùng giới với nội tâm phong phú Quan

hệ của các em với người lớn bắt đầu gặp phải những rào cản tâm lý, xảy ranhững xung đột trong ứng xử

- Sự phát triển trí tuệ

Trang 34

mang tính mục đích, phương hướng rõ ràng Tri giác có chủ định, các em biết lập kế hoạch học tập, biết làm các bài tập từ dễ đến khó).

Về tư duy: ở HS lớp 4, các em biết khái quát lý luận Tuy nhiên hoạtđộng phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ sài

Về tưởng tượng: ở giai đoạn cuối Tiểu học, tưởng tượng tái tạo đãbắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ HS đã có thể tái tạo ra những hìnhảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển, HS bắt đầu pháttriển kỹ năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, tưởng tượng của HS trong giaiđoạn này bị chi phối mạnh bở các xúc cảm, những hình ảnh sự việc gắn liềnvới những rung động tình cảm của các em

Về chú ý: ở giai đoạn cuối Tiểu học, từ lớp 4 trẻ dần hình thành kỹ năng

tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và ngàycàng chiếm ưu thế, ở HS đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tậpnhư học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát, Trong sựchú ý của HS bắt đầu xuất hiện giới hạn yếu tố thời gian, HS đã định lượnghoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định

Về trí nhớ: ở HS ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường.Ghi nhớ có chủ định phát triển Tuy nhiên hiệu quả của việc ghi nhớ có chủđịnh còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tập trung trí tuệ của các

em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý, hứng thú của các em

Về ý chí: các em đã có kỹ năng biến yêu cầu của người lớn thành mụcđích hành động của mình Tuy nhiên năng lực ý chí của các em còn thiếu bềnvững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vichủ yếu vẫn phục thuộc vào hứng thú nhất thời của các em

Về ngôn ngữ: bắt đầu lớp 4 thì ngôn ngữ viết ở HS đã dần thành thạo vàbắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ ngôn ngữ

Trang 35

phát triển mà HS có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức về thế giới xungquanh

Trang 36

và tự khám phá bản thân thông qua ngôn ngữ nói và viết của chính các

em Và thông qua khả năng ngôn ngữ của HS mà chúng ta có thể đánh giáđược sự phát triển trí tuệ của trẻ

1.1.6.2 Khả năng giao tiếp của HS

a Khả năng giao tếp sư phạm

Ở giai đoạn cuối Tiểu học (lớp 4,5) là giai đoạn các em ở lứa tuổi thiếunhi lớn Các em đã bắt đầu có sự phát triển vượt bậc về tâm, sinh lý và trítuệ Đặc biệt, nhờ có khả năng ngôn ngữ phát triển, trẻ có kỹ năng giaotiếp tốt hơn Quan hệ giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò với trò đã dần trởnên quen thuộc, gần gũi Trong giờ dạy môn Tiếng Việt nói chung, và dạyhọc phần đọc - hiểu trong phân môn Tập đọc nói riêng đang phát triển kiểu

tổ chức học tập giao tiếp nên ở HS lớp 4, kỹ năng giao tếp sư phạm củacác em đã tốt hơn Mặt khác ở giai đoạn này, các em đã có kỹ năng chú

ý, khả năng tìm tòi, vì vậy các em có thể đọc và tiếp nhận kỹ năng thựchiện hoạt động có định hướng Từ đó dần mở rộng hơn các môi trường giaotiếp sư phạm cho các em

Nói chung ở HS lớp 4, các em đã phát triển khả năng giao tiếp sư phạmtốt, phù hợp với việc dạy học theo quan điểm giao tiếp, góp phần nâng caohiệu quả cho việc dạy học, đặc biệt là dạy học đọc hiểu các văn bản

b Khả năng giao tếp văn học

HS Tiểu học đặc biệt là HS lớp 4 đã bước đầu biết tm hiểu về chiều sâucủa sự vật, hiện tượng và có sự đọc lập về suy

nghĩ

Khi nghiên cứu sâu về sự phát triển tư duy của trẻ, đặc biệt là HS lớp 4,

5 các nhà tâm lý học đều kết luận rằng HS lứa tuổi này có khả năng phân tchcác sự vật thành từng phần riêng rẽ và tến hành tri giác từng phần Khi tiếpnhận đối tượng các em có khả năng sử dụng quy luật của hiện tương

Trang 37

Hơn nữa, HS lứa tuổi này đã có sự nhạy cảm đặc biệt đối với những yếu tốcảm

Trang 38

xúc hình tượng Vì thế khi HS được tiếp xúc, được nghe thầy, cô giáo kể vềnhững câu chuyện có tình tết li kì, hấp dẫn, hay những đoạn văn gây cảmgiác hồi hộp, thì tự các em cũng có những biểu hiện như sự lo lắng, hồihộp, mong chờ, khi nghe những câu chuyện có ý nghĩa về sự chia lìa, mấtmát thì các em rất tự nhiên sẽ bộc lộ sự buồn bã, đồng cảm Cảm xúc của các

em được bộc lộ rõ nhất đó là khi các em được hóa thân thành các nhân vậtkhi kể lại câu chuyện đó

Nhà văn Goorki đã nói: “Văn học là nhân học”, thật vậy, những tácphẩm văn chương thực sự đã trở thành những cuốn cẩm nang về đờisống, mỗi bài đọc sẽ là bài học cùng các em đi đến hết cuộc đời Ở HS lớp

4, các em đã bắt đầu thích đọc những truyện dài hơn, và sau khi đọc các em

có khả năng diễn đạt, kể lại những điều mình đã tiếp nhận được, điều đó cónghĩa là các em đã biết tái hiện lại các sự kiện, nhân vật trong văn bản Đặcbiệt là những cái gì thuộc về tâm hồn, về cảm xúc thì dù các em còn nhỏnhững vẫn có thể cảm nhận được bởi các em có sự nhạy cảm, rung động từtrái tm Và nhờ đó các em có khả năng giao tiếp với nhà văn, giao tiếp vớicác nhân vật, giao tiếp với tác phẩm

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khảo sát phân môn Tập đọc trong chương trình SGK TV lớp 4

1.2.1.1 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Tập đọc lớp 4

a Vị trí của phân môn Tập đọc lớp 4

Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, tư

tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả thế hệ đương thời phần lớnđều

được ghi lại bằng chữ viết Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếpnhận nền văn minh của loài người Biết đọc, con người sẽ có khả năng tiếp

Trang 39

nhận, từ đó biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tựnhiên, xã hội, tư duy Đặc biệt khi đọc được tác phẩm văn chương, HS không

Trang 40

chỉ được thức tỉnh nhận thức mà còn có sự rung động tình cảm, nảy nởnhững mơ ước tốt đẹp, khơi dậy hành động, sức sáng tạo cũng như được bồidưỡng tâm hồn.

Vì những lẽ trên, phân môn Tập đọc nói chung và phân môn Tập đọc lớp

4 nói riêng có vị trí rất quan trọng, giúp các em chiếm lĩnh ngôn ngữ dùngtrong giao tiếp và học tập và là công cụ để học tập các môn học khác Đọcmột cách ý thức sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tưduy cho HS Việc dạy phân môn Tập đọc sẽ giúp các em hiểu biết hơn, bồidưỡng ở các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ mộtcách logic, tư duy có hình ảnh

b Nhiệm vụ của phân môn Tập đọc lớp 4

Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt có nhiệm vụđáp ứng yêu cầu hình thành và phát triển kỹ năng đọc cho học sinh

Tập đọc là một môn thực hành, nhiệm vụ quan trong nhất đó làhình thành kỹ năng, năng lực đọc cho HS: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát,đọc trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung, những điều HS đọchay còn gọi là đọc - hiểu) và đọc diễn cảm

Nhiệm vụ thứ nữa là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phươngpháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho HS Thông quaviệc dạy Tập đọc, làm cho HS thích thú đọc và thấy được đọc có lợi ích chocác em trong cuộc sống, làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiếnthức văn hóa cho các em; phát triển ngôn ngữ và tư duy; giáo dục tư tưởng,đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ cho HS

1.2.1.2 Quy trình dạy Tập đọc lớp 4

A Kiểm tra bài cũ

B Dạy bài mới

1 Giới thiệu bài

Ngày đăng: 15/01/2020, 11:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Dĩnh (1992), Giao tiếp ngôn ngữ và vấn đề dạy ngôn ngữ, TC nghiên cứu giáo dục số 5 Khác
2. Nguyễn Thị Hạnh (2002), Dạy học đọc hiểu ở Tiểu học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Khác
3. Phạm Minh Hạc (1985), Giáo trình tâm lí học, Nxb Giáo dục, Hà Nội 4. Tạ Đức Hiển, Nguyễn Việt Nga, Phạm Đức Minh (2005), Cảm thụ vănhọc Tiểu học 4, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
5. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan (2011), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
6. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
7. Phương Lựu, Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hòa, Lê Lưu Oanh (2002), Lí luận văn học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác
8. Nhiều tác giả (2006), Sách giáo viên tiếng Việt lớp 4, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
9. Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (1999), Phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Khác
10. Lê Thị Minh Nguyệt (2006), Về vấn đề dạy tiếng Việt theo định hướng giao tiếp, TC Giáo dục số 151, tr.16-17 Khác
11. Nguyễn Trí (2009), Một số vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở Tiểu học, Nxb Giáo dục Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w