1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu hiệu quả sử dụng của các từ ngữ chuyển trường nghĩa trong các văn bản tập đọc lớp 4 (2017)

77 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng các tác giả chủyếu nghiên cứu khái quát lí luận chung, chỉ đưa ra một số trường hợpchuyển trường nghĩa tiêu biểu chứ chưa đi vào văn bản cụ thể có sử dụnghiện tượng chuyển trường n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

LÊ THỊ THÁI

TÌM HIỂU HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CỦA CÁC

TỪ NGỮ CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌC LỚP 4

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài này tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáohướng dẫn khóa luận TS Phạm Thị Hòa đã tận tình hướng dẫn tôi trongsuốt quá trình thực hiện khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học

- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thànhkhóa luận này

Khóa luận được hoàn thành song không tránh khỏi những thiếu sót,hạn chế Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía thầy cô vàcác bạn sinh viên để đề tài nghiên cứu của chúng tôi tiếp tục được hoànthành

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Người thực hiện

Lê Thị Thái

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợcủa Giáo viên hướng dẫn TS Phạm Thị Hòa Các nội dung nghiên cứu vàkết quả trong đề tài này là trung thực chưa từng được ai công bố trong bất

cứ công trình nghiên cứu nào trước đây

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Người thực hiện

Lê Thị Thái

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc khóa luận 4

NỘI DUNG 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Lý thuyết chung về trường nghĩa 5

1.1.1 Khái niệm trường nghĩa 5

1.1.2 Vấn đề phân lập trường 7

1.2 Các loại trường nghĩa 7

1.2.1 Trường nghĩa dọc (trường biểu vật và trường biểu niệm) 7

1.2.2 Trường nghĩa ngang (trường tuyến tính) 12

1.2.3 Trường liên tưởng 13

1.3 Hiện tượng chuyển trường nghĩa 14

1.3.1 Khái niệm 14

1.3.2 Tác dụng của hiện tượng chuyển trường nghĩa 16

1.4 Đặc điểm học sinh lớp 4 và hoạt động dạy từ ngữ theo trường nghĩa cho học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học Hùng Vương 17

1.4.1 Đặc điểm học sinh lớp 4 17

1.4.2 Hoạt động dạy từ ngữ theo trường nghĩa cho học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học Hùng Vương 19

1.5 Tiểu kết chương 1 20

Trang 5

Chương 2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CỦA TỪ NGỮ CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌC LỚP 4 22

2.1 Khảo sát các từ ngữ chuyển trường nghĩa trong các văn bản tập đọc lớp

4 22

2.1.1 Kết quả khảo sát 222.1.2 Nhận xét 292.2 Hiệu quả của việc sử dụng từ ngữ chuyển trường nghĩa 302.2.1 Hiện tượng chuyển trường nghĩa từ trường con người sang trườngđộng vật 312.2.2 Hiện tượng chuyển trường nghĩa từ trường con người sang trườngthiên nhiên 362.2.3 Hiện tượng chuyển trường nghĩa từ trường con người sang trường đồ vật 40

2.2.4 Hiện tượng chuyển trường nghĩa từ trường con người sang trườngthực vật 432.2.5 Hiện tượng chuyển trường từ trường thiên nhiên sang trường con người 46

2.3 Tiểu kết chương 2 46

KẾT LUẬN 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Trang 6

và các hoạt động giao tiếp Môn Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác

tư duy; bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt; hình thành thói quen giữ gìn sựtrong sáng, giàu đẹp của môn Tiếng Việt; góp phần hình thành nhân cáchcon người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trong dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học nói chung, dạy học Tậpđọc nói riêng có vị trí vô cùng quan trọng trong hình thành và phát triểnnhân cách cho học sinh Nói đến bậc Tiểu học là nền tảng để học sinh cóđiều kiện học tiếp lên các bậc học cao hơn thì dạy Tập đọc có vị trí thenchốt để học sinh có kĩ năng sử dụng tốt tiếng mẹ đẻ, trau dồi ngôn ngữ, bồidưỡng vốn kiến thức về đời sống, giúp các em có cơ hội học tốt các mônhọc khác

Hiện tượng chuyển trường nghĩa là một hiện tượng khá đặc biệt trong

sử dụng ngôn ngữ Nó tạo ra những giá trị biểu đạt mới cho từ, theo nó tạo

ra nhiều liên tưởng bất ngờ về ý nghĩa cho câu và văn bản Hiện tượng nàykhi xuất hiện một cách tập trung và có chủ ý sẽ khiến cho cuộc giao tiếpngôn ngữ mang một sắc thái khác lạ Việc sử dụng từ vựng chuyển đổi

Trang 7

trường nghĩa là một trong những cách thức độc đáo và hiệu quả Có thể nóichuyển đổi trường nghĩa từ vựng có thể được coi là một biện pháp tu từhiệu quả trong sáng tác văn chương.

Trong các bài tập đọc lớp 4, nhiều tác giả đã sử dụng từ chuyển trườngnghĩa trong bài Mặc dù ở lớp 4 vốn từ vựng của học sinh khá nhiều, tuynhiên để hiểu được ý nghĩa cũng như hiệu quả sử dụng của nó trong các bàitập đọc còn hạn chế Việc nhận biết được hiệu quả sử dụng của các từchuyển trường nghĩa sẽ giúp học sinh biết cách sử dụng từ ngữ trong giaotiếp tốt hơn và sử dụng chúng như thế nào cho hiệu quả nhất

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu hiệu quả sửdụng của các từ ngữ chuyển trường nghĩa trong các văn bản Tập đọc lớp 4”

2 Lịch sử vấn đề

Hiện tượng chuyển trường nghĩa là hiện tượng diễn ra phổ biến trongcác tác phẩm văn chương cũng như hoạt động giao tiếp hằng ngày Nhờ cóhiện tượng này lên việc thể hiện tư tưởng, tình cảm, thái độ của con ngườitrong giao tiếp nói chung trở nên sinh động và giàu giá trị gợi cảm

Chính vì những tác dụng to lớn ấy, vấn đề chuyển trường nghĩa của từngữ đã được nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu Người đi tiên

phong trong lĩnh vực này là Giáo sư Đỗ Hữu Châu Trong giáo trình Từ

vựng - ngữ nghĩa Tiếng Việt tác giá đã nêu lên những quy luật cơ bản của

hiện tượng chuyển trường nghĩa Đó là các từ trong một trường biểu vậtthường lôi léo nhau chuyển nghĩa theo một hướng nhất định Để chứngminh cho điều này tác giả lấy ví dụ từ “lửa” Từ này có thể chuyển sangtrường chỉ “tình cảm, trạng thái tâm lý” kéo theo các từ “hừng hực, nhennhóm, đốt…” cùng chuyển sang trường đó Hoặc từ chỉ bộ phận con ngườichuyển sang chỉ bộ phận của vật thể:

Ví dụ: Đầu → đầu sông, đầu núi

Trang 8

Tay → tay bầu, tay bíChân → chân bàn, chân mày, chân núi

Đã có nhiều tác giả nghiên cứu sự chuyển từ trường thực vật sangtrường con người:

Ví dụ: Quả → quả tim

Tác giả Phạm Thị Hòa lại nghiên cứu sự chuyển trường nghĩa của cácđộng từ biểu thị hành động vật lý sang hành động nói năng như: tâng bốc,

bới móc, vặn, chọc, kích… trong “Ngôn ngữ số 5 - 2000”

Trên đây chính là một số đóng góp của các nhà nghiên cứu về hiệntượng chuyển trường nghĩa trong từ vựng nói chung Nhưng các tác giả chủyếu nghiên cứu khái quát lí luận chung, chỉ đưa ra một số trường hợpchuyển trường nghĩa tiêu biểu chứ chưa đi vào văn bản cụ thể có sử dụnghiện tượng chuyển trường nghĩa cũng như là hiệu quả sử dụng của nó

Qua đề tài này, người viết dựa vào lý luận chung áp dụng vào việcnghiên cứu hiệu quả sử dụng của các từ ngữ chuyển trường nghĩa trong cácvăn bản Tập đọc lớp 4

3 Mục đích nghiên cứu

Từ việc hướng dẫn học sinh nhận biết và phân tích được hiệu quả sửdụng các từ ngữ chuyển trường nghĩa trong các văn bản của sách giáo khoaTiếng Việt 4 sẽ giúp học sinh tìm hiểu bài tập đọc tốt hơn, hiệu quả giờ dạy

học Tiếng Việt cao hơn.

Trang 9

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nói trên, người viết phải thực hiện cácnhiệm vụ cụ thể sau:

- Tìm hiểu cơ sở lý thuyết và thực tiễn có liên quan đến đề tài

- Khảo sát hiện tượng chuyển trường nghĩa trong các bài Tập đọc lớp 4

- Phân tích để thấy được hiệu quả sử dụng của các từ ngữ chuyểntrường nghĩa trong các văn bản Tập đọc lớp 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Hiệu quả sử dụng của các từ ngữ chuyển trường nghĩa trong các vănbản Tập đọc lớp 4

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loai

- Phương pháp phân tích ngôn ngữ

- Phương pháp tổng hợp

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khoá luận gồm hai chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn

Chương 2: Hiệu quả sử dụng của các từ ngữ chuyển trường nghĩatrong các văn bản Tập đọc lớp 4

Trang 10

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

1.1 Lý thuyết chung về trường nghĩa

1.1.1 Khái niệm trường nghĩa

Có rất nhiều các quan điểm khác nhau về trường nghĩa được các nhàngôn ngữ đưa ra, song tất cả đều dựa trên một nét chung, một nét cơ sở nào

đó để đưa ra một khái niệm đầy đủ về trường nghĩa

Năm 1896, M.Pokrovxkij viết: “Từ và ý nghĩa của chúng không tồn

tại tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng chúng ta thành những nhóm nhất định Cơ sở để tập hợp những nhóm như vậy là sự đồng nhất hay đối lập giữa chúng về nghĩa Chúng ta đã biết một cách tiên nghiệm rằng: Các từ như vậy hoặc giống nhau hoặc song hành với nhau trong sự biến đổi ý nghĩa và trong lịch sử của chúng, chúng ảnh hưởng lẫn nhau”.

Ở đây, M.Pokrovxkij đã đề cập đến sự liên tưởng nhất định giữa các từtrong cùng một trường và cơ sở để xác lập, tập hợp những nhóm từ trongcùng một trường là sự đồng nghĩa hay trái nghĩa và có liên quan đến nhau

về mặt ngữ nghĩa.”

Theo J.Trer: “Trong ngôn ngữ mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị

của nó do quan hệ với các từ khác trong trường quyết định, rằng trường là hiện thực ngôn ngữ nằm giữa từ riêng lẻ với toàn bộ từ vựng”

Còn theo L.Weisgerber: “Các trường cấu tạo từ, mỗi từ trong một dãy

là trung tâm của một trường cấu tạo bằng một yếu tố thống nhất nói chung

có ý nghĩa giống nhau” Theo tác giả cẫn phải tính đến các góc nhìn khác

nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự ngôn ngữ hóa một số lĩnhvực nào đó trong cuộc sống

Trang 11

Đến Fe.DeSaussure cho rằng: “Giá trị của bất kì yếu tố nào cũng do

yếu tố xung quanh quy định” Ông đã chỉ ra hai dạng chung nhất của ngôn

ngữ: quan hệ dọc và quan hệ ngang Từ đó có hai loại trường nghĩa: trườngnghĩa dọc và trường nghĩa ngang

Ở Việt Nam, trường nghĩa cũng được rất nhiều tác giả quan tâm,nghiên cứu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Việt Hùng, Trong đó, Đỗ Hữu Châu là người đi đầu trong việc đưa ra lý thuyết vềtrường nghĩa cũng như những phạm trù ngôn ngữ liên quan đến trường

nghĩa Ông cho rằng: “Do các từ có không ít sự đồng nhất về hình thức và

về ý nghĩa, căn cứ vào giữa cái chung, giữa các từ để tiến hành sự phân lập toàn bộ từ của Tiếng Việt thành những hệ thống nhỏ hơn để đưa vào trường nghĩa” [2, 169] Hệ thống là tính chất hàn lâm về ngữ nghĩa của từ

vựng Tuy nhiên, do quá lớn và phức tạp nên những liên hệ ngữ nghĩa trong

từ vựng không thể hiện ra một cách trực tiếp giữa các từ được lựa chọnngẫu nhiên Chẳng hạn, hai từ “mặt trời” và “đôi dép” ngưới ta khó có thểnhận ra sự khác biệt giữa chúng

Do thế giới phản ánh vào ngôn ngữ mang tính tổng thể, liên tục, đểhiểu được nó chúng ta buộc phải chia cắt tổng thể thành những bộ phận nhỏhơn Chia hệ thống từ vựng thành hệ thống nhỏ hơn dựa trên ngữ nghĩagiữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa các tiểu hệ thống của chúng.Quan điểm về trường nghĩa trong luận văn này chúng tôi lấy quan

điểm của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở nghiên cứu Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa

được gọi là một trường nghĩa Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau

về ngữ nghĩa [2,170]

Chính do sự phong phú và phức tạp khi nghiên cứu các vấn đề liênquan đến trường nghĩa Việc tìm ra một khái niệm trường nghĩa đầy đủ, trọnvẹn vẫn đang là một vấn đề được đặt ra Nhưng để phục vụ cho phạm vi

Trang 12

nghiên cứu hiện nay của các nhà ngôn ngữ đã thống nhất đưa ra một địnhnghĩa chung có tính chất tương đối gần với các quan điểm đưa ra trước đó:

“Trường nghĩa là sự tập hợp các từ có sự đồng nhất nào đó về nghĩa”.

1.1.2 Vấn đề phân lập trường

Fe.DeSaussure trong giáo trình Ngôn ngữ học đại cương đã chỉ ra hai

dạng quan hệ: quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan

hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến và quan hệ hệ hình)

Theo hai dạng quan hệ đó có thể có hai loại trường nghĩa là trườngnghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến) và trường nghĩa ngang (trường nghĩa

tuyến tính) Trong giáo trình Từ vựng - ngữ nghĩa Tiếng Việt, Đỗ Hữu

Châu cũng phân lập theo hướng trên và giới thiệu các loại trường nghĩa,trong đó tác giả đi sâu vào hai trường nghĩa dọc: Trường nghĩa biểu vật vàtrường nghĩa biểu niệm

1.2 Các loại trường nghĩa

1.2.1 Trường nghĩa dọc (trường biểu vật và trường biểu niệm)

từ về mặt biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ Nhưvậy, chúng ta sẽ đưa một từ vào một trường nghĩa biểu vật nào đó khi nétnghĩa biểu vật của nó trùng với tên gọi của danh từ trên

Ví dụ với từ tay, ta có các trường sau:

- Bộ phận của tay: cánh tay, bàn tay, cổ tay, ngón tay, khuỷu tay, đốt,móng, lòng bàn tay, mu bàn tay, bắp tay, kẽ tay, ngón cái, ngón trỏ, ngóngiữa, ngón nhẫn, ngón út, hoa tay…

Trang 13

- Đặc điểm ngoại hình của tay: (ngón tay) búp măng, dùi đục, (bàntay) mỏng, dày, thô, cứng, mềm mại, (tay) vượn…

- Hoạt động của tay (chưa phân hóa): ấn, bám, bào, bấu, bấm, bẻ, bóc,bóp, bê, bế, bới, bốc, bưng, cào, cạo, cấu, cấy, chải, chặt, chẻ, chép, chỉ,cởi, cù, cuốc, dắt, đan, đánh, đào, đẽo, điểm (huyệt), đơm, đút, đưa, ghìm,gảy, giằng, giật, gieo, giữ, gõ, gói, gọt, hái, huých, kéo, khênh, khêu, kì, kí,lau, lột, lượm, nắn, nặn, nắm, ném, ôm, quạt, quàng, quơ, sảy, sờ, xách…

Ví dụ với từ “mắt”, ta có các trường:

- Bộ phận của mắt: lông mày, lông mi, mí, lòng trắng, lòng đen, conngươi, nước mắt…

- Cảm giác về mắt: chói, quáng, hoa, cộm, xót,…

- Đặc điểm về ngoại hình của mắt: bồ câu, ốc nhồi, lợn luộc, dao cau,lươn, lá răm, (mày) lưỡi mác, (mày) dài, chổi xể, nhung, huyền, xanh đen,…

- Đặc điểm về năng lực của mắt: đờ dẫn, sắc, lờ đờ, tinh anh, tốt, kém,toét, mù, lòa,…

- Hoạt động của mắt: nhòm, trông, thấy, ngó, liếc, nghé, nom, dòm,lúng liếng, đong đưa, nhìn trộm, trợn trừng, quắc…

- Bệnh của mắt: quáng gà, mắt hột, thong manh, cận thị, viễn thị, vảy

cá, hạt gạo,…

Khi xem xét các trường biểu vật cần chú ý những điều sau đây

So sánh các trường lớn với nhau cũng như so sánh các trường nhỏtrong cùng một trường lớn (như trường biểu vật của tay so với của chân),chúng ta thấy nó có sự khác nhau về số lượng từ ngữ và về tổ chức Nếu lại

so sánh các trường cùng một tên gọi (tức các danh từ) trong các ngôn ngữkhác nhau thì sự khác nhau trên càng rõ hơn nữa

Nếu tạm gọi một trường nhỏ (hay một nhóm nhỏ trong một trườngnhỏ) là một “miền” của trường thì thấy, các miền trong các trường thuộc

Trang 14

các ngôn ngữ rất khác nhau Có những miền trống - tức không có từ ngữ - ởngôn ngữ này nhưng lại không trống ở ngôn ngữ kia Điều này khẳng địnhtính ngôn ngữ và tính dân tộc của trường biểu vật.

Cần chú ý rằng, khi phân lập các trường, chúng ta cần chú ý đến nghĩabiểu vật chứ không chú ý đến từ Nói rõ hơn, phân lập trường không phải làphân loại từ Không phải một từ đã ở trường này thì không thể ở trường kiađược nữa Vì từu có tính nhiều nghĩa biểu vật, do đó từ có thể nằm trongnhiều trường biểu vật khác nhau hay trong nhiều trường nhỏ khác nhau tùytheo số lượng các ý nghĩa biểu vật của nó Tuy nhiên, vì có sự phân biệt ýnghĩa biểu vật chính và ý nghĩa biểu vật phụ, cho nên chúng ta có thể phânbiệt các trường biểu vật chính và phụ của từ Nếu nghĩa chính của từ nằmtrong trường nào thì trường đó là trường biểu vật chính của nó

Như thế, chúng ta có thêm một chỉ số nữa để đánh giá các từ: chỉ số

đó là số lượng cá trường mà từ đó có thể đi vào như một thành viên

Có những từ chỉ số trường là 1, có nghĩa là từ đó chỉ có thể nằm trong

một và chỉ một trường mà thôi (như các từ bồng, xách, quắc, phưỡn…) Đó

là những từ điển hình của trường.

Bên cạnh đó, lại có những từ đi vào hầu hết các trường biểu vật có thể

có của một ngôn ngữ, như các từ tốt, xấu, cao, thấp,… Rõ ràng là các từ cóchỉ số trường biểu vật thấp là những từ bị quy định về biểu vật rất mạnh,trái lại những từ càng đi vào nhiều trường thì tính bị quy định về biểu vậtcàng yếu, ý nghĩa càng khái quát

Do chỗ có các từ đi vào nhiều trường, cho nên các trường biểu vật cóthể “thẩm thấu” vào nhau “giao thoa” với nhau Hai trường biểu vật giaothoa với nhau khi một số từ của trường này cũng nằm trong trường kia.Căn cứ vào số lượng các từ chung cho hai trường nhiều hay ít màchúng ta nói đến tính độc lập tương đối nhiều hay ít giữa hai trường

Trang 15

Ví dụ: Chúng ta nói hai trường “người” và “thực vật” độc lập với nhau

cao hơn là hai trường “người” và “động vật” (hầu hết các từ ngữ chỉ bộphận cơ thể của trường “người”, một số hoạt động của người đều dùng

chung cho động vật, trong khi đó, các từ của trường thực vật như cành, rễ,

Ngoài cái lõi của trường là các lớp từ khác mỗi lúc một đi xa ra khỏilõi, liên hệ với trường mờ nhạt đi

b Trường biểu niệm

Căn cứ để phân lập các trường biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm của

từ Cấu trúc biểu niệm không chỉ riêng cho từng từ mà chung cho nhiều

từ Một trường biểu niệm là một tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu

niệm [2, 176]

Ví dụ: Trường biểu niệm (vật thể nhân tạo)… (phục vụ sinh hoạt):

- Dụng cụ để ngồi, nằm: ghế, giường, phản, đi văng,…

- Dụng cụ để che, phủ: màn, mùng, khăn, chăn, chiếu…

Ví dụ: Trường biểu niệm (hoạt động tác động đến X)… (làm X có tìnhtrạng Y)

Trang 16

Với cấu trúc biểu niệm này, chúng ta chỉ đưa vào trường những động

từ chỉ hoạt động tác động vào những đối tượng khác chủ thể của hoạt động

và gây ra những biến đổi thực sự nào đó ở đối tượng Đây là một trườnglớn, căn cứ vào Y mà chia thành những trường nhỏ:

- Làm cho X động (tĩnh - động) hoặc tĩnh (động - tĩnh)

+ X động hay tĩnh tại chỗ một cách cơ giới: rung, lay, lắc, lung lay…+ X dời chỗ hoặc dừng lại một cách cơ giới: đẩy, xô, ném, lao, giật,bẩy, hàm, phanh, dừng…

+ X là thiết bị cơ giới: phát động, khởi động, nổ (nổ máy), hãm, tắt(máy)…

- Làm cho X có những biến đổi cho bản thân: co, dãn, căng, mở, đóng,khép, bẹp, xẹp, phình,…

- X bị chết, mất đi: giết, ám sát, sát hại, diệt, xử tử, hành hình, hànhquyết, ngộ sát, đầu độc, ám sát,…

Các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ vàcũng có những “miền” với mức độ khác nhau

Do có hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm, cho nên một từ có thể đi vàonhiểu trường biểu niệm (hay đi vào những trường nhỏ) khác nhau Vì vậy,cũng giống như các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể giao thoavới nhau, thẩm thấu vào nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ điển hình

và những từ ở những lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi

Khi nói về hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm, chúng ta đề cập đến các

từ điển hình cho cấu trúc biểu niệm Các từ điển hình này tạo thành nhữngcái lõi, thành những trung tâm của các trường biểu niệm Nhờ chúng mà sựtồn tại của một trường biểu niệm mới được khẳng định Cũng chính nhờ sựđối chiếu với chúng mà chúng ta mới biết một từ có thể thuộc về bao nhiêutrường biểu niệm khác nhau Trong các ví dụ về trường và về nhóm nhỏ

Trang 17

trong trường, chúng ta đã đưa ra không ít những từ điển hình và những từngữ đi vào nhiều trường

Sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật hay trường biểu niệm, như

đã nói, dựa trên sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ Nó phảnánh hai cách nhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau Tuy nhiên, hai loạitrường nghĩa dọc này có liên hệ với nhau: nếu lấy nét nghĩa biểu vật trongcấu trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để tập hợp thì chúng ta có các trườngbiểu vật Nhưng chỉ cần phân lập một trường biểu vật thành các trường nhỏthì phải dựa vào các nét nghĩa khác trong cấu trúc biểu niệm Trái lại, khiphân lập các trường biểu niệm, chúng ta đưa vào cấu trúc biểu niệm, songkhi phân nhỏ chúng ra, đến một lúc nào đó phải sử dụng nét nghĩa biểu vật

Ví dụ: Để phân nhỏ trường (hoạt động) (tác động đến X)… (làm X dời

chỗ), chúng ta phải dùng đến các nét nghĩa biểu vật như (người) (động vật),

(phương tiện vận tải) (nước)… để phân biệt các từ vác, khiêng, đẩy,… với

tha, quắp… với tải, chở… với cuốn…

Dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phải phân lập được các trường.Nhưng, cũng nhờ các trường, nhờ sự định vị được từng từ một trong trườngthích hợp, mà chúng ta hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của từ

1.2.2 Trường nghĩa ngang (trường tuyến tính)

Tiêu chí để phân loại trường tuyến tính là dựa hẳn vào ngữ nghĩa của

từ trung tâm Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từlàm gốc rồi tìm tất cả các từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyếntính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ

Ví dụ: Trong trường tuyến tính của từ tay là búp măng, mềm, ấm,

lạnh, nắm, cầm, dùi đục, bốc,… Những từ ngữ như: đá, đạp không thuộc

trường tuyến tính của từ tay.

Các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với

từ trung tâm trong các loại ngôn bản Phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta

Trang 18

có thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp

và tính chất của các quan hệ đó Thực tế chúng là những từ cùng thuộc mộttrường biểu vật đi với nhau sao cho nét nghĩa biểu vật của chúng phải phù

hợp với nhau Chúng ta nói đi thoăn thoắt chứ không ai nói đi liến thắng,

vì liến thắng đòi hỏi nét nghĩa biểu vật nói, không đòi hỏi nét nghĩa đi mặc

dù cả hai từ thoăn thoắt và liến thắng đều có nét nghĩa biểu niệm “liên tiếp,

nhanh chóng thành từng chuỗi”

Cùng với các trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm, thìtrường nghĩa tuyến tính góp phần phát hiện ra tính hệ thống, quan hệ ngữnghĩa giữa các đơn vị từ vựng trong hệ thống từ vựng, phát hiện những đặcđiểm nội tại và những hoạt động của từ

1.2.3 Trường liên tưởng

Sự phân lập các trường biểu vật, biểu niệm như trên là vấn đề cần thiết

để tìm hiểu và cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ pháp, phát hiện những đặc điểm nộitại và đặc điểm hoạt động của từ Nhưng đó mới chỉ là sự phân tích “cấutrúc bề mặt” của ngôn ngữ trong ngôn ngữ còn “cấu trúc bề sâu” Đó là lý

do để xác lập trường liên tưởng

Nhà ngôn ngữ học người Pháp Ch Bally là tác giả đầu tiên của kháiniệm trường liên tưởng Theo ông, mỗi từ có thể là một trung tâm củatrường liên tưởng như từ bò của tiếng Pháp chẳng hạn, có thể gợi ra do liêntưởng:

+ Bò cái, bò mộng, bê, sừng, gặm cỏ, nhai trầu,…

+ Sự cày bừa, cái cày, cái ách,…

+ Những ý niệm về tính thụ động mà chúng ta gặp trong các lối sosánh trong các thành ngữ Pháp

Dễ dàng nhận thấy rằng các từ trong một trường liên tưởng là sự hiệnthực hóa, sự cố định bằng từ các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm.Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằmtrong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những

Trang 19

từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm.Song, trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới doxuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tươngđối đồng nhất, lặp đi lặp lại Điều này khiến cho các trường liên tưởng cótính dân tộc, tính thời đại và cá nhân.

Ý nghĩa biểu vật có những từ trong trường liên tưởng giống nhau,nhưng cũng có những từ khác nhau về nghĩa Các trường liên tưởng thườngkhông ổn định, nên ít có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữnghĩa của các từ và từ vựng Có nhiều trường hợp phải dùng tới nhiềutrường liên tưởng nhưng như vậy thì dẫn tới một chuỗi kết hợp mơ hồ vềnghĩa

Ví dụ: Khi nhắc tới chiến tranh thì ta liên tưởng tới: bom, đạn, hỏalực, pháo đài,…

Khi nhắc tới mùi vị thì ta liên tửng tới: mặn, nhạt, đắng, thơm,…

1.3 Hiện tượng chuyển trường nghĩa

1.3.1 Khái niệm

Từ có thể đi vào một số trường lập thành ngoại vi của trường đó do:

- Tính nhiều nghĩa khiến từ nhập nhằng

- Do bản thân cấu trúc ngữ nghĩa mà chúng ta lấy làm cơ sở chứa mộthoặc một vài nét nghĩa chung, nét nghĩa này có mặt trong một số cấu trúcngữ nghĩa khác

Ví dụ: từ “sập” trong tiếng Việt có thể phân biệt hai loại đồ dùng: loại

để chứa đựng điển hình là các từ: tủ, giường, ghế… loại để đỡ thân thể conngười giường, ghế, phản… Nhưng cái sập được cấu tạo vừa để đỡ thân thểcon người ở tư thế nghỉ ngơi và vừa được cấu tạo để chứa đựng Do vậy, từsập có thể đi vào trường nghĩa thứ nhất hay thứ hai đều được

Do đó hiện tượng chuyển trường biểu vật và biểu niệm nên một từ cóthể đi vào nhiều trường biểu vật, biểu niệm khác nhau vì thế xảy ra hiệnchuyển trường nghĩa của từ

Trang 20

Các từ trong cùng một trường do có sự thống nhất về mặt ngữ nghĩanên các từ bao giờ cũng có sự trung hòa, dễ tạo ra sự mòn sáo Để tạo sự

lạ hóa trong giao tiếp, người ta có thể nhắc từ ở trường này sang ởtrường khác Nói cách khác, với sự chuyển nghĩa linh hoạt và thườngxuyên của các từ trong văn bản cũng như hoạt động giao tiếp thì ta thấyranh giới giữa các trường nghĩa bị xóa mờ, các từ có xu hướng thâm nhập

từ trường nghĩa này sang trường nghĩa khác Đó là hiện tượng chuyểntrường nghĩa

Hiện tượng chuyển trường nghĩa là hiện tượng một trường thuộc ý

niệm này được chuyển sang dùng cho sự vật thuộc trường ý niệm khác

Do nhu cầu giao tiếp ngày càng đa dạng và phức tạp của con người,

từ (đơn hoặc phức) lúc mới xuất hiện chỉ có một nghĩa biểu vật nhưng khi

sử dụng một thời gian nó có thêm nhiều nghĩa biểu vật mới Đó là sựchuyển biến ý nghĩa biểu vật của từ Khi nghĩa biểu vật của từ thay đổi thìnghĩa biểu niệm của từ cũng có nhiều khả năng thay đổi Từ đó, nghĩa biểuthái của nó cũng có thể thay đổi theo

Sự chuyển nghĩa trên của từ chính là cơ sở của sự chuyểntrường nghĩa của từ Không phải bất cứ hiện tượng chuyển nghĩa nào cũngdẫn đến sự chuyển trường nghĩa của từ, nhưng có thể khẳng định rằng, sựchuyển trường nghĩa bắt đầu từ sự chuyển nghĩa của từ Bởi vì, khi từchuyển nghĩa thì nội dung biểu thị của từ thay đổi dẫn đến từ cũng chuyểnsang trường nghĩa mới tương ứng với nội dung biểu thị mới của nó

Ví dụ: từ “mũi” là từ có nhiều nghĩa, mỗi lần chuyển biến ý nghĩa thì

từ lại chuyển sang một trường nghĩa khác

- Bộ phận của cơ quan hô hấp: mũi người, mũi chó, mũi mèo,…

(Từ thuộc trường con người hoặc trường động vật)

Trang 21

- Phần trước của tàu thuyền: mũi tàu, mũi thuyền,…(Từ thuộc trường phương tiện giao thông)

Trang 22

- Bộ phận nhọn của vũ khí: mũi dao, mũi gươm, mũi súng,

(Từ thuộc trường đồ vật)

- Phần đất nhô ra ngoài biển: mũi đất, mũi Cà Mau,…

(Từ thuộc trường đất đai)

Khi các từ ngữ chuyển từ trường nghĩa này sang trường nghĩa khác,chúng mang theo những đặc điểm vốn có của nó ở trong trường nghĩaban đầu Như ở ví dụ từ “mũi” ở trên, nét nghĩa về sự vật (nhọn, nhô ratrước hết so với cái toàn thể) của từ “mũi” trong trường hợp đầu tiênchuyển vào nghĩa của các từ thuộc các trường nghĩa còn lại

Hiện tượng chuyển trường nghĩa là hiện tượng thẩm thấu, giaothoa lẫn nhau giữa các các trường và có lõi trung tâm với từ điển hình Ởmỗi trường nghĩa có những từ ngữ mang ý nghĩa mới bổ sung dựatrên nét nghĩa cơ bản ban đầu

Đây là hiện tượng có tính quy luật nên khi chuyển có những từ chuyểnhướng đồng loạt cùng hướng (các từ có phạm vi biểu vật hay cùng một cấutrúc biểu niệm thì khi chuyển nó chuyển theo cùng một hướng)

Ví dụ: Khi chuyển trường nghĩa thì một số từ chỉ bộ phận của conngười: đầu, cổ, tay, mũi, miệng,… có thể chuyển sang một số trường nghĩakhác như:

- Chuyển sang trường thực vật: mắt mỉa, tay tre,…

- Chuyển sang trường thiên nhiên: đầu núi, đầu sông, mặt trời, mặt đất,…

- Chuyển sang trường thực vật, hiện tượng: cổ chai, cổ áo, mũithuyền, mặt ghế,…

1.3.2 Tác dụng của hiện tượng chuyển trường nghĩa

Tác dụng đầu tiên của hiện tượng chuyển trường nghĩa đối với ngônngữ là làm giàu vốn từ vựng Khi một từ chuyển trường nó biến thành từ

Trang 23

đa nghĩa, từ vẫn giữ nguyên hình thức ngữ âm cũ nhưng lại mang mộtnội

Trang 24

dung mới hay nghĩa mới, nội dung này luôn có quan hệ tương sinh với nộidung cũ (nghĩa cũ, nghĩa gốc) của từ Từ càng chuyển qua nhiều trườngnghĩa thì càng mang nhiều nghĩa mới - nội dung biểu đạt của nó

càng phong phú Thí dụ, từ tóc vốn thuộc về trường con người, biểu

hiện sợi lông mọc trên đầu người, khi chuyển sang trường sự vật nó biểu

hiện dây kim loại trong bóng đèn tròn (tóc bóng đèn)

Chuyển trường nghĩa của từ không chỉ có tác dụng làm giàu vốn từvựng, đáp ứng nhu cầu giao tiếp của con người mà còn góp phần làm tăngkhả năng diễn đạt, tăng sức biểu cảm của ngôn từ

Khi chuyển trường nghĩa, ngoài những giá trị biểu đạt mới xuất hiện ởtrường nghĩa mới, từ còn giữ được những ấn tượng ngữ nghĩa vốn có củatrường nghĩa cũ Đặc tính này làm cho giá trị biểu đạt của từ càng phongphú

1.4 Đặc điểm học sinh lớp 4 và hoạt động dạy từ ngữ theo trường nghĩa cho học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học Hùng Vương

1.4.1 Đặc điểm học sinh lớp 4

Chúng ta đã biết với đặc điểm của học sinh Tiểu học hiện nay là rấthiếu động, thích khám phá Việc tiếp nhận tri thức của các em ngày càngđược nâng cao, tư duy ngày càng phát triển hơn so với trước Với học sinhlớp 4 thì năng lực nhận thức, tiếp nhận tri thức của các em đã được nângcao rõ rệt

a Đặc điểm tâm

Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trongsáng Ở giai đoạn này, hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệtquan trọng đối với sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu học Dựa trênnhững thành tựu phát triển tâm lí đã đạt được của giai đoạn trước, trẻ

Trang 25

sẽ tạo lập nên những cái mới trong đời sống tâm lí của mình, mà trướchết là tính chủ định, kĩ năng làm việc trí óc, sự phản tỉnh - những cấu tạotâm lí mới đặc trưng cho lứa tuổi này.

Trang 26

Tuổi tiểu học là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng phương thứclĩnh hội Cùng với việc lĩnh hội, tiếp thu một hệ thống tri thức về các mônhọc, trẻ em học cách học, học kĩ năng sống trong môi trường trường học

và môi trường xã hội Cùng với sự ảnh hưởng khá lớn của môi trườnggiáo dục gia đình và quan hệ bạn bè cùng tuổi, cùng lớp và trường học,học sinh tiểu học lĩnh hội các chuẩn mực quy tắc đạo đức của hành vi Sựlĩnh hội trên tạo ra những biến đổi cơ bản trong sự phát triển tâm lí củahọc sinh tiểu học Chúng không chỉ đảm bảo cho các em thích ứng vớicuộc sống nhà trường và hoạt động học, mà còn chuẩn bị cho các emnhững bước ngoặt quan trọng trong cuộc sống ở tuổi thiếu niên- lứa tuổi

có xu thế vươn lên làm người lớn

b Đặc điểm ng n ng

Hầu hết học sinh tiểu học lứa tuổi này có ngôn ngữ nói thành thạo,ngôn ngữ viết đang dần thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữpháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng

tự học, tự đọc, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bảnthân thông qua các kênh thông tin khác nhau Ngôn ngữ có vai trò hết sứcquan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lí tính của trẻ, nhờ cóngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễdàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ.Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được

sự phát triển trí tuệ của trẻ

c Đặc điểm tư duy

Ở học sinh lớp 4, đang trong giai đoạn cuối bậc Tiểu học tư duy củahọc sinh sẽ chuyển từ trực quan cụ thể sang trừu tượng khái quát Đó làkết quả của quá trình học sinh tiếp xúc với thực tế, trao đổi với xã hội và

Trang 27

học tập và đặc biệt là hoạt động học tập trong nhà trường Các thao tácphân

Trang 28

tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa của học sinhđược hình thành và phát triển Ở giai đoạn này, tư duy cụ thể ít mangtính trực tiếp đã tách nhiều ra khỏi tri giác trực tiếp và dần mang tínhtrừu tượng Tưởng tượng của các em đang hình thành và phát triển

trong hoạtđộng học tập và các hoạt động khác của các em Khuynh hướngtưởng tượng ở học sinh là tiến dần đến phản ánh một cách đúng đắn

và đầy đủ hiện thực khách quan trên cơ sở những tri thức tương ứng.Hình ảnh tưởng tượng trở nên trọn vẹn hơn, phân biệt hơn bởi số lượngchi tiết nhiều hơn và sự sắp xếp chúng càng chặt chẽ, có lí hơn

d Đặc điểm ch ý

Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năngkiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú không chủđịnh chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ýđến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn cónhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng Sự tập trungchú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và

dễ bị phân tán trong quá trình học tập

Ở cuối tuổi tiểu học, đặc biệt là từ học sinh lớp 4 dần hình thành kĩnăng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần

và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tậpnhư học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hátdài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thờigian, trẻ đã định

lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắnghoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định

1.4.2 Hoạt động dạy từ ng theo trường nghĩa cho học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học Hùng Vương, Ph c Yên, Vĩnh Ph c

Trang 29

Học sinh lớp 4 chưa được học khái niệm về trường nghĩa và hiện tượngchuyển trường nhưng cácem đã được học biện pháp tu từ nhân hóa.Đây

Trang 30

thực chất là hiện tượng chuyển trường nghĩa từ các trường không chỉngười sang trường con người Vì vậy, để có thể hướng dẫn học sinh tìmhiểu, học tập một cách tốt nhất thì giáo viên cần nắm vững, hiểu rõ vềkhái niêm trường nghĩa, hiện tượng chuyển trường nghĩa và phân tíchđược các hiện tượng chuyển trường nghĩa có ở các từ mà giáo viên đanggiảng dạy Nhưng qua dự giờ và qua trao đổi với giáo viên, chúng tôi thấygiáo viên chưa có ý thức làm rõ tác dụng của hiện tượng chuyển trườngnghĩa của các từ đã làm cho: con vật, đồ vật, thiên nhiên, cây cối sangtrường con người có tác dụng như thế nào Giáo viên mới chỉ nói đượcnhân hóa làm cho các đối tượng vô tri vô giác sống động như thế giới conngười mà chưa có ý thức làm sáng rõ cái hay của biện pháp nhân hóa màthực chất là hiện tượng chuyển trường nghĩa này, luôn làm người đọc đốichiếu hình ảnh đối tượng ở hai trường nghĩa Ví dụ hình ảnh nhân hóa chị

Nhà Trò vừa cho người đọc liên tưởng tới hình ảnh con vật mảnh mai, lại

vừa liên tưởng tới hình ảnh cô gái gầy gò yếu ớt Liên tưởng này có được

là do sự quan sát tài tình và cách dùng từ ngữ để chuyển trường nghĩa củatác giả vô cùng chuẩn xác

Thứ hai, đó là hiện tượng chuyển trường nghĩa Đây là hiện tượngmột trường thuộc ý niệm này được chuyển sang dùng cho sự vật thuộc

Trang 31

trường ý niệm khác Bên cạnh đó tìm hiểu được tác dụng của hiện tượngchuyển trường nghĩa

Trang 32

Thứ ba, đó chính là đặc điểm học sinh lớp 4 và hoạt động dạy từ ngữtheo trường nghĩa của giáo viên Mặc dù học sinh không được học

về trường nghĩa nhưng giáo viên cần nắm vững kiến thức này để giảngdạy sâu sắc hơn

Trang 33

Chương 2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CỦA TỪ NGỮ CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA TRONG

Giữa các trường nghĩa có sự giao thoa - các trường nghĩa có chungmột số đơn vị từ Vì vậy, sự phân loại của chúng tôi cũng chỉ mang tínhchất tương đối

Để phù hợp với hoạt động dạy Tập đọc cho học sinh lớp 4, chúng tôichỉ khảo sát và phân loại các từ theo các trường biểu vật

2.1.1 Kết quả khảo sát

Qua việc khảo sát các bài tập đọc lớp 4, chúng tôi có kết quả khảo sátnhư sau:

St Văn bản

Các từ ngữ chuyển trường nghĩa

Câu chứa từ ngữ chuyển

1 Dế mèn Một hôm qua một vùng nước

xanh dài, tôi chợt nghe tiếng k h ó

c

tỉ tê

Con người Động vậtbênh vực

kẻ yếu

Tôi gặp c h ị Nhà Trò n g ồ i g ục

đ ầ u bên tảng đá cuội

Chị Nhà Trò đã b é n h ỏ lại g ầ y

Trang 34

yế u quá

Chị m ặ c á o thâm dài

Sau đấy không may mẹ em mất

đi, còn lại t h u i t h ủi có mình em

Mà em ố m y ế u, kiếm bữa cũng

chẳng đủ

Mấy bận bọn nhện đã đ á nh em Đứa đ ộ c á c không thể cậy khỏe

4 Tre Việt Thân g ầ y g u ộ c, lá mong manh Con người Thực vật

Nam Mà sao nên lũy nên thành tre ơi

? Từ ngữ để Thực vật

gọi của

23

Trang 35

con người

Rễ s i ê n g không ngại đất

nghèo

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu c ầ n cù

V ươn m ì nh trong gió tre đu

Cây k h a m k h ổ vẫn h á t r u lá

cành Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm

Phẩm chất Thực vậtcủa con

người

Bão bùng thân b ọ c lấy thân

Tay m tay ní u tre gần nhau

Gà trống và Anh chà n g Gà Trống tinh nhanh

l õ i đ ờ i,

Báo cho b ạ n h u xa gần đều hay

Con người Động vậtcáo

Lòng tôi s ung s ư ớ n g muôn

phần Trạng thái Động vật

Cáo nghe h ồ n l ạ c p h á ch b a y của con

Xin đừng e n g ạ i , xuống đây người

Trang 36

Còn một mình, chú bé Đất nhớ

q uê

Mới đến cái bếp, gặp trời đổ mưa,

chú ngấm nước, r ét quá Lúc sau n ó ng r á t cả chân tay.

Chú s ợ , lùi lại

Ô ng Hòn R ấ m c ư ờ i bảo:

- Sao chú mày nhá t thế?

Chú bé n g ạ c nh i ên hỏi lại

Hai người bột trong lọ b u ồ n

t ênh

Chàng kị sĩ sợ quá , t h c ngựa

vọt

chạy, chạ y đến miệng cống G

ặ p công chúa trong cái hang tối,

chàng h ỏ i Chàng kị sĩ h o ả n g h ố t , biết mình

bị l ừ a , vội d ì u công chúa ch

ạ y t r ố n

Lúc ấy, Đất Nung đang đi dọc bờ

25

Trang 37

ngòi Thấy hai người b ị n ạ n, chú liền n h ả y x uố n g , v ớ t lên bờ phơi

8 Bè xuôi Sông La ơi sông La Từ ngữ để Thiên nhiên

Đ ắ m m ì n h trong êm ả người

9 Chợ Tết Sương hồng lam m ấ p nóc nhà Hoạt động Thiên nhiên

Tia nắng tía n h á y hoài trong

ruộng lúa

của conngười

Núi uố n m ì nh trong chiếc áo the

26

Trang 38

10 Hoa học trò Vừa buồn mà lại vừa vui mới

thực sự là n ỗ i n i ề m bông phượng

Trạng thái Thực vậtcủa con

ngườiMột hôm, bỗng đâu trên những

cành cây b á o một tin thắm

Hoạt động Thực vậtcủa con

người

11 Khúc hát ru Lưng đ ưa n i và tim há t thành

lời

Hoạt động Bộ phậnnhững em của con con người

12 Đoàn Sóng đã c à i then , đêm s ậ p cửa Hoạt động Thiên nhiên

thuyền Mặt trời độ i biểnnhô màu mới của con

Câu hát c ă n g b u ồ m cùng gió

khơi

Hoạt động Sự vậtcủa con

Đêm ngày d ệ t b i ể n muôn luồng

13 Bài thơ về Nhìn thấy gió vào xo a mắt đắng Hoạt động Thiên nhiên

tiểu đội xe của con

không kính người

Nhìn thấy con đường chạ y thẳng Hoạt động Sự vật

27

Ngày đăng: 15/01/2020, 11:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Đại học và Trung cấp chuyên nghiệp, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Nhà XB: NXB Đại học và Trung cấpchuyên nghiệp
2. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đại học Quốc giaHà Nội
3. Đỗ Hữu Châu, Tiếng Việt 10, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999 4. Phạm Thị Hòa, Ngôn ngữ số 5, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 10", NXB Giáo dục, Hà Nội, 19994. Phạm Thị Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đà Nẵng - Trung tâm từđiển học
8. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Tiếng Việt 4, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 4
Nhà XB: NXB Giáo dục ViệtNam
9. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Tiếng Việt 4, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 4
Nhà XB: NXB Giáo dục ViệtNam
10. Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đà Nẵng

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w