1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát các bệnh tim mạch ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Thống Nhất tp. Hồ Chí Minh

5 111 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 283,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết xác định tỉ lệ các bệnh tim mạch và các yếu tố nguy cơ (YTNC) của bệnh tim mạch trên BN BTMGĐC đang LMCK tại bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh.

Trang 1

KHẢO SÁT CÁC BỆNH TIM MẠCH Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN GIAI ĐOẠN CUỐI ĐANG LỌC MÁU CHU KỲ

TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thanh Vy*, Phạm Ngọc Thùy Trang*, Nguyễn Văn Tân*

TÓM TẮT

Mở đầu: Bệnh nhân (BN) bệnh thận mạn giai đoạn cuối (BTMGĐC) đang lọc máu chu kỳ (LMCK) có nhiều

biến chứng nguy hiểm trong đó biến chứng tim mạch là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu ở nhóm đối tượng này Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng ở những BN đang LMCK có nguy cơ cao vôi hóa và xơ vữa mạch máu, từ đó nguy cơ bệnh tim mạch cao gấp 5-30 lần so với người không mắc BTMGĐC

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ các bệnh tim mạch và các yếu tố nguy cơ (YTNC) của bệnh tim mạch trên BN

BTMGĐC đang LMCK tại bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế cắt ngang, tiến cứu Thực hiện trên 128 BN BTMGĐC đang LMCK tại

bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 01/2017 đến tháng 09/2017

Kết quả: Đối tượng tham gia nghiên cứu có tuổi trung bình là 64,7 ± 15,1, với nữ giới chiếm 47,7% bệnh

tim mạch có tần suất cao nhất trong nhóm BN BTMGĐC đang LMCK là tăng huyết áp (92,2%), theo sau là phì đại thất trái (50,8%) Các yếu tố tim mạch được xác định là: tuổi, huyết áp cao và tăng cholesterol toàn phần

Kết luận: Bệnh tim mạch phổ biến ở BN BTMGĐC là tăng huyết áp và yếu tố tim mạch gồm tuổi cao, huyết

áp cao và tăng cholesterol toàn phần

Từ khóa: bệnh tim mạch, bệnh thận mạn giai đoạn cuối, tỉ lệ, yếu tố nguy cơ

ABSTRACT

PREVALENCE AND RISK FACTORS FOR CARDIOVASCULAT DISEASE IN PATIENTS WITH

END-STAGE RENAL DISEASE ON HEMODIALYSIS

Nguyen Thanh Vy, Pham Ngoc Thuy Trang, Nguyen Van Tan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 ‐ No 1‐ 2018: 280 ‐ 284

Background: Cardiovascular disease (CVD) is the main cause of death among patients with end-stage renal

disease (ESRD) on hemodialysis

Objectives: The aims of this study were to examine the prevalence of and risk factors for CVD in patients

with ESRD on hemodialysis in Thong Nhat hospital – Ho Chi Minh City

Method: Cross-sectional study 128 participants ESRD on hemodialysis were examined in Thong Nhat

hospital – Ho Chi Minh City, from Janiary 2017 to September 2017

Results: The main cardiovascular abnormalities found in the study were hypertension (92.2%), followed by

left ventricular hypertrophy (50.8%) The risk factors for CVD were age, increased blood pressure and increased total cholesterol level.

Conclusion: The common CVD in patients with ESRD on hemodialysis were hypertension Age, increased

blood pressure and increased total cholesterol level were significantly associated with an increased risk for CVD among this population

* Bộ môn Lão khoa – Đại học Y Dược TP.HCM

Tác giả liên lạc: ThS Nguyễn Thanh Vy ĐT: 0915424018 Email: mdnguyenthanhvy@gmail.com

Trang 2

Key words: cardiovascular disease, end-stage renal disease, prevalence, risk factors

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh thận mạn giai đoạn cuối (BTMGĐC) là

vấn đề sức khỏe toàn cầu Hiện nay, trên thế giới

có khoảng 1,5 triệu người mắc BTMGĐC đang

được điều trị thay thế thận và ước đoán con số

này sẽ tăng lên gấp đôi vào năm 2020 Người ta

dự báo rằng, cứ mỗi một BN được điều trị thay

thế thận thì có tới 100 người mắc bệnh tim mạch

ở các giai đoạn khác nhau đang sinh sống trong

cộng đồng Những BN điều trị thay thế thận có

nhiều biến chứng như thiếu máu, nhiễm trùng,

cường cận giáp thứ phát, suy dinh dưỡng

trong đó biến chứng tim mạch là nguyên nhân

gây tử vong hàng đầu, chiếm 43 ‐ 52 % các

trường hợp(12) Bên cạnh một số yếu tố nguy cơ

tim mạch thường gặp như tăng huyết áp (THA),

rối loạn lipid máu (RLLM), đái tháo đường

(ĐTĐ)(13), BN suy thận mạn còn có các yếu tố

nguy cơ (YTNC) khác liên quan đến tình trạng

ure máu cao như tình trạng quá tải dịch, viêm

mạn tính, rối loạn chuyển hóa canxi – phospho,

thiếu máu, suy dinh dưỡng giảm albumin máu(1,

11) Tất cả những yếu tố này đã góp phần làm

tăng tỉ lệ bệnh tim mạch (BTM) và tử vong do

tim mạch ở những BN này Tại Việt Nam, theo

số liệu thống kê, có khoảng 6 triệu người bị bệnh

thận mạn tính, chiếm khoảng 6,73% dân số

Trong đó, có khoảng 800.000 BN ở tình trạng

BTMGĐC cần điều trị thay thế nhưng chỉ có 10%

bệnh nhân (BN) được điều trị lọc máu Trên thực

tế, tỉ lệ này có thể cao hơn và ngày càng gia tăng

Với mục đích tìm hiểu những yếu tố nguy cơ tim

mạch và biến chứng tim mạch đặc thù trong

nhóm đối tượng BN BTMGĐC đang lọc máu

chu kỳ (LMCK), chúng tôi đã tiến hành nghiên

cứu: “Khảo sát các bệnh tim mạch ở BN bệnh

thận mạn giai đoạn cuối đang lọc máu chu kỳ tại

bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh.” Kết

quả của nghiên cứu này có thể góp phần hữu ích

cho các bác sĩ tim mạch và các bác sĩ thận học

lâm sàng trong quản lý và chăm sóc tối ưu cho

BN BTMGĐC đang LMCK

Mục tiêu nghiên cứu Trên nhóm BN BTMGĐC đang LMCK tại bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh:

Xác định tỉ lệ các bệnh lý tim mạch

Xác định các yếu tố nguy cơ tim mạch

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang, tiến cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh

BN BTMGĐC đang LMCK tại bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 01/2017 đến tháng 09/2017

Tiêu chuẩn loại trừ

BN không đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Thu thập số liệu

Tất cả BN BTMGĐC đang LMCK tại bệnh viện Thống Nhất thỏa tiêu chuẩn chọn và tiêu chuẩn loại trừ đều được chọn vào nghiên cứu

BN được hỏi bệnh, khám lâm sàng và thu thập

hồ sơ: triệu chứng, bệnh lý nền mạn tính, YTNC, các xét nghiệm chẩn đoán và điều trị

Chúng tôi dựa vào các yếu tố sau để xác định

biến số trong nghiên cứu: bệnh mạch vành đã

được chẩn đoán bằng chụp mạch vành có can thiệp hoặc có kết quả chụp MSCT mạch vành;

phì đại thất trái được đánh giá thông qua chỉ số

khối cơ thất trái dựa trên siêu âm tim qua thành

ngực; tăng huyết áp khi đã được chẩn đoán từ trước hoặc đang điều trị bằng thuốc hạ áp; suy

tim được chẩn đoán từ trước hoặc hiện tại kết

quả siêu âm tim có phân suất tống máu giảm

dưới 50%; rối loạn nhịp gồm ba bệnh: rung nhĩ,

cuồng nhĩ và suy nút xoang, được chẩn đoán bằng điện tâm đồ do bác sĩ chuyên ngành nhịp tim học đọc hoặc những BN suy nút xoang có đặt máy tạo nhịp

Đối với mục tiêu xác định yếu tố nguy cơ,

chúng tôi quy ước các biến số gồm: béo phì với

BN có chỉ số khối cơ thể ≥ 23 kg/m2; tăng

canxi-phospho máu khi tích số Ca P ≥ 55 mg2/dL2;

Trang 3

cholesterol toàn phần ≥ 6,2 mmol/L; LDL‐

cholesterol ≥ 2,58 mmol/L; HDL‐cholesterol <

1,03 mmol/L; triglyceride ≥ 2,26 mmol/L

Xử lý số liệu

Phần mềm SPSS 16.0 Biến định lượng có

phân phối chuẩn: mô tả bằng trung bình ± độ

lệch chuẩn, so sánh bằng phép kiểm T‐test Biến

định lượng không có phân phối chuẩn: mô tả

bằng trung vị (tứ phân vị 25; tứ phân vị 75), so

sánh bằng phép kiểm Mann‐Whitney Khảo sát

các yếu tố tim mạch: các biến được phân tích đơn

biến bằng phép kiểm χ2 để xác định YTNC tiềm

ẩn và đạt p < 0,05 sẽ được phân tích hồi quy

logistic đa biến

KẾT QUẢ

Chúng tôi thu thập được dữ liệu của 128 đối

tượng thỏa tiêu chuẩn nhận bệnh tham gia vào

nghiên cứu

Đặc điểm dân số nghiên cứu

Bảng 1 Đặc điểm dân số nghiên cứu

Người cao tuổi 86 (67,2)

Thời gian chạy thận (tháng) 49,7 ± 36,2

Số lần lọc máu (lần/tuần) 2,7 ± 0,6

Tỉ lệ các bệnh lý tim mạch

Chúng tôi xác định được các bệnh tim mạch

thường gặp nhóm BN đang LMCK, và ghi nhận

tăng huyết áp là bệnh có tần suất cao nhất với

118 BN (92,2%), tiếp theo là phì đại thất trái với

65 BN (50,8%) (xem Biểu đồ 1)

Biểu đồ 1 Tỉ lệ các bệnh lý tim mạch trên BN

BTMGĐC đang LMCK

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ

phì đại thất trái ở hai giới có sự khác biệt đáng kể

(p<0,001) với nữ là 72,1% và nam 31,3% Các bệnh tim mạch khác không có khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giới

Yếu tố nguy cơ tim mạch

Bảng 2 Phân tích đơn biến các yếu tố nguy cơ tim mạch

Tăng huyết áp 74,28 <0,001

Tăng canxi-phospho máu 0,03 0,87 Tăng cholesterol toàn phần 3,77 0,05 Tăng LDL-cholesterol 0,01 0,93 Giảm HDL-cholesterol 0,18 0,67 Tăng triglyceride 0,06 0,81

Các yếu tố tim mạch ở BN BTMGĐC đang LMCK gồm: tuổi cao, huyết áp cao và tăng cholesterol toàn phần (xem Bảng 2)

Bảng 3 Phân tích hồi quy đa biến các YTNC tim mạch

Giới 0,91 0,91 0,12 – 7,04 Đái tháo đường 0,37 2,62 0,28 – 127,05 Tăng canxi-phospho máu 0,87 0,87 0,11 – 6,77 Tăng cholesterol toàn phần 0,05 0,13 0,01 – 7,99 Tăng LDL-cholesterol 0,93 0,93 0,13 – 10,67 Giảm HDL-cholesterol 0,67 1,42 0,18 – 11,01 Tăng triglyceride 0,81 1,30 0,14 – 64,01

Nghiên cứu của chúng tôi chưa xác định được các YTNC tim mạch trên BN BTMGĐC đang LMCK qua phân tích hồi quy đa biến

BÀN LUẬN

Tỉ lệ bệnh tim mạch

Nghiên cứu của chúng tôi trên 128 BN BTMGĐC đang LMCK tại bệnh viện Thống nhất

và ghi nhận được tăng huyết áp là bệnh có tần suất cao nhất (92,2%), tiếp theo là phì đại thất trái (50,8%), bệnh mạch vành (20,3%), suy tim (20,3%), rối loạn nhịp (10,2%) và tai biến mạch máu não (9,4%) Tăng huyết áp (THA) là một biến chứng thường gặp ở BN bệnh thận mạn Tần suất THA tăng theo sự giảm độ lọc cầu thận (GFR) Tần suất mới mắc THA cao hơn đáng kể

ở những BN LMCK Trong 69 đơn vị lọc máu tại Hoa Kỳ, gần 86% BN LMCK bị THA và tỉ lệ

Trang 4

kiểm soát huyết áp của các BN này chỉ được

30%(4) Nguyên nhân THA ở BN LMCK có nhiều

nguyên nhân phối hợp gồm quá tải dịch, hoạt

hóa hệ RAS, tăng hoạt hệ thần kinh giao cảm và

tăng chất ức chế nitric oxide trong máu Thường

những BN này cần từ 3 loại thuốc hạ áp trở lên

để kiểm soát huyết áp

Yếu tố nguy cơ tim mạch

Chúng tôi ghi nhận các yếu tố tim mạch ở

BN BTMGĐC đang LMCK trong nghiên cứu là:

tuổi cao, tăng huyết áp và tăng cholesterol toàn

phần Một số yếu tố có thể điều chỉnh trên từng

cá thể, hứa hẹn tiềm năng giảm thiểu và phòng

ngừa nguy cơ tim mạch trên nhóm BN này, từ

đó có thể nâng cao chất lượng cuộc sống cho BN

đang LMCK

Tuổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi xác dịnh

được tuổi cao là yếu tố tim mạch (χ2 23,99; p =

0,001) Tuổi là YTNC quan trọng nhất đối với

BTM, và nguy cơ tăng gấp 3 lần mỗi 10 tuổi(3)

Nguyên nhân tuổi tác làm tăng nguy cơ bệnh

tim mạch có thể giải thích do nồng độ cholesterol

máu tăng theo tuổi(9) và mối liên quan giữa tuổi

và sự thay đổi tính chất cơ học và cấu trúc của

thành mạch, dẫn đến mất tính đàn hồi động

mạch từ đó có thể đưa đến bệnh mạch vành(8)

Tăng huyết áp

Huyết áp cao cũng là một trong các yếu tố

tim mạch ở BN LMCK (χ2 74,28; p < 0,001) Theo

Foley và cộng sự, huyết áp cứ tăng mỗi 10

mmHg ở BN LMCK, nguy cơ phì đại thất trái

tăng 48%, bệnh tim thiếu máu cục bộ tăng 39%

và suy tim sung huyết tăng 44%(4)

Đái tháo đường

BN đái tháo đường có nguy cơ cao bị hội

chứng vành cấp, và gia tăng tần suất suy tim mới

mắc Kiểm soát đường huyết kém làm tăng nguy

cơ tử vong ở BN lọc máu Hướng dẫn của NKF‐

K/DOQI khuyến cáo HbA1C <7% đối với BN đái

tháo đường có bệnh thận mạn(5)

Tăng cholesterol toàn phần

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tăng cholesterol toàn phần là nguy cơ tim mạch (χ2 3,77; p = 0,05) Một số nghiên cứu ở BN BTMGĐC chỉ ra mối quan hệ giữa nồng độ cholesterol máu và nguy cơ tử vong, đặc biệt là ở những BN không có dấu hiệu suy dinh dưỡng

và viêm(10) Một nghiên cứu về chuyển hóa cholesterol ở

BN chạy thận nhân tạo (CTNT) có kèm hoặc không kèm bệnh mạch vành cho thấy bệnh nhân CTNT có nồng độ cholesterol thấp hơn những người không CTNT và sự hấp thu cholesterol của họ lại tăng lên nhằm bù trừ Tuy nhiên sự tổng hợp cholesterol cao, tương quan với chỉ số khối cơ thể cao là một yếu tố tiên lượng độc lập cho sự xuất hiện bệnh mạch vành ở BN CTNT(6) Trong lọc máu, mối liên quan giữa chlolesterol toàn phần và LDL‐C theo đường cong hình chữ U: BN có nồng độ LDL‐C

>100mg/dL (2,6 mmol/L) sẽ tăng nguy cơ biến cố tim mạch, nhưng với nồng độ thấp, biểu hiện qua tình trạng suy dinh dưỡng, cũng làm tăng tần suất tử vong Quá trình lọc máu, các thông số liên quan đến CTNT làm thay đổi tình trạng rối loạn lipid máu ở BN như loại màng lọc, loại dịch lọc, sử dụng thuốc kháng đông, thuốc gắn kết phosphate Việc sử dụng màng lọc polysulfone high‐flux và màng cellulose triacetate làm giảm nồng độ triglycerid và tăng apolipoprotein A1 và nồng độ HDL‐C(6) Sử dụng chất kháng đông heparin kéo dài làm phóng thích lipoprotein lipase từ bề mặt nội mô làm giảm lipoprotein lipase và suy giảm dị hóa triglyceride giàu lipoprotein

Các nguy cơ tim mạch khác

Thói quen sinh hoạt

BN đang LMCK mạn tính thường ít hoạt động hơn và có mức hoạt động thấp hơn ngay cả

so với nhóm người khỏe mạnh có lối sống tĩnh tại Ngoài ra, hút thuốc có mối liên quan đến tăng nguy cơ bệnh tim ở BN lọc máu(2, 14)

Trang 5

Urê huyết và liệu pháp thay thế thận

Urê huyết và các liệu pháp thay thế thận dẫn

đến tăng đáng kể chất oxy hóa, sản phẩm của

mảnh vỡ bổ thể và cytokine, tăng các phân tử kết

dính trong tế bào nội mạc, và các yếu tố tiền

viêm(7) Những yếu tố này có thể tạo môi trường

cơ hội để phát triển nhanh xơ vữa động mạch

Rối loạn chuyển hóa chất khoáng

Ở BN lọc máu, tăng lượng canxi nhập vào

(dùng làm chất kết hợp với phospho để điều trị

chứng tăng phospho huyết và có thể dẫn đến

tăng sản phẩm canxi‐phospho máu) có thể trực

tiếp làm tăng vôi hóa động mạch vành Những

quan sát này làm tiền đề cho K/DOQI khuyến

cáo duy trì sản phẩm canxi‐phospho máu dưới

55 mg2/dL2 ở BN chạy thận

KẾT LUẬN

Bệnh tim mạch thường gặp trong nhóm BN

đang LMCK ở bệnh viện Thống Nhất TP Hồ

Chí Minh là tăng huyết áp Yếu tố tim mạch

nhóm dân số này gồm tuổi, huyết áp cao và tăng

cholesterol toàn phần Kết quả này góp phần

hữu ích cho các bác sĩ lâm sàng tim mạch và thận

học trong quản lý và chăm sóc cho bệnh nhân

BTMGĐC đang LMCK, đồng thời giúp cho các

nhà lâm sàng thấy được tầm quan trọng trong

việc tầm soát và kiểm soát tốt các YTNC tim

mạch ở các bệnh nhân BTMGĐC đang LMCK

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Anavekar NS & Pfeffer MA (2004) Cardiovascular risk in

chronic kidney disease Kidney International, 66, S11‐S15

2 Di Benedetto A, Marcelli D, D'andrea A, Cice G, D'isa S,

Cappabianca F & Pergamo O (2005) Risk factors and

underlying cardiovascular diseases in incident ESRD patients

Journal of nephrology, 18(5), 592‐598

3 Finegold JA, Asaria P & Francis DP (2013) Mortality from ischaemic heart disease by country, region, and age: statistics from World Health Organisation and United Nations

International journal of cardiology, 168(2), 934‐945

4 Foley RN, Parfrey PS, Harnett JD, Kent GM, Murray DC & Barre

PE (1996) Impact of hypertension on cardiomyopathy,

morbidity and mortality in end‐stage renal disease Kidney

international, 49(5), 1379‐1385

5 Foundation NK (2012) KDOQI clinical practice guideline for

diabetes and CKD: 2012 update American Journal of Kidney

Diseases, 60(5), 850‐886

6 Fukushima M, Miura SI, Mitsutake R, Fukushima T, Fukushima

K & Saku K (2012) Cholesterol metabolism in patients with hemodialysis in the presence or absence of coronary artery

disease Circulation Journal, 76(8), 1980‐1986

7 Hörl WH (2004) Atherosclerosis and uremic retention solutes

Kidney international, 66(4), 1719‐1731

8 Jani B & Rajkumar C (2006) Ageing and vascular ageing

Postgraduate medical journal, 82(968), 357‐362

9 Jousilahti P, Vartiainen E, Tuomilehto J & Puska P (1999) Sex, age, cardiovascular risk factors, and coronary heart disease

Circulation, 99(9), 1165‐1172

10 Kilpatrick RD, McAllister CJ, Kovesdy CP, Derose SF, Kopple JD

& Kalantar‐Zadeh K (2007) Association between serum lipids

and survival in hemodialysis patients and impact of race Journal

of the American Society of Nephrology, 18(1), 293‐303

11 Knutsen R, Knutsen SF, Curb JD, Reed DM, Kautz JA & Yano K (1988) The predictive value of resting electrocardiograms for 12‐ year incidence of coronary heart disease in the Honolulu Heart

Program Journal of clinical epidemiology, 41(3), 293‐302

12 Li H & Wang S (2013) Cardiovascular disease in hemodialysis

patients Hemodialysis InTech

13 Sarnak MJ & Levey AS (2000) Epidemiology, diagnosis, and management of cardiac disease in chronic renal disease Journal

of thrombosis and thrombolysis, 10(2), 169‐180

14 Shah DS, Polkinghorne KR, Pellicano R & Kerr PG (2008) Are traditional risk factors valid for assessing cardiovascular risk in end‐stage renal failure patients? Nephrology, 13(8), 667‐671

Ngày nhận bài báo: 24/11/2017 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 27/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 11:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w