Bài viết nghiên cứu xác định mối tương quan hình dạng răng cửa giữa hàm trên và hình dạng khuôn mặt trên người Việt. Kết quả nghiên cứu không tìm thấy tương quan có ý nghĩa về hình dạng răng cửa giữa hàm trên và hình dạng khuôn mặt trên người Việt. Điều đó cho thấy học thuyết về hình dạng răng phải tương đồng với hình dạng khuôn mặt đảo ngược không hoàn toàn đúng trong mọi trường hợp.
Trang 1TƯƠNG QUAN HÌNH DẠNG CỦA RĂNG CỬA GIỮA HÀM TRÊN
VỚI HÌNH DẠNG CỦA KHUÔN MẶT
Nguyễn Văn Quan*, Lê Hồ Phương Trang**
TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mối tương quan hình dạng răng cửa giữa hàm trên và hình dạng
khuôn mặt trên người Việt
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả với cỡ mẫu 100 sinh viên Đại
Học Y Dược TP Hồ Chí Minh (42 nam, 58 nữ) đáp ứng tiêu chí chọn mẫu Nghiên cứu được tiến hành bằng cách chụp ảnh định chuẩn khuôn mặt và khối răng trước trên Xác định hình dạng khuôn mặt và răng cửa giữa hàm trên theo phương pháp của Wolfart bằng phần mềm Photoshop CS3 và AutoCAD 2008 Đánh giá tương quan hình dạng răng cửa giữa hàm trên và khuôn mặt bằng hệ số tương quan Spearman trong phần mềm Stata
12
Kết quả: Sự phân bố hình dạng răng trong nghiên cứu như sau: răng hình bầu dục và răng hình tam giác
tương đương nhau (46% và 44%), ít nhất là hình vuông (10%).Về hình dạng khuôn mặt, tỷ lệ khuôn mặt hình tam giác chiếm 56%, kế đến là khuôn mặt bầu dục (44%) và không tìm thấy khuôn mặt hình vuông Có mối liên quan giữa phân bố hình dạng khuôn mặt theo giới tính: nam có khuôn mặt hình tam giác nhiều nhất 69,05%, nữ
có khuôn mặt hình bầu dục nhiều nhất 53,45%, tuy nhiên không tìm thấy mối liên quan giữa sự phân bố hình dạng răng theo giới tính Tỷ lệ tương đồng hình dạng răng-mặt chỉ chiếm 50% dân số Không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa về hình dạng răng-mặt (p>0,05).
Kết luận: Kết quả nghiên cứu không tìm thấy tương quan có ý nghĩa về hình dạng răng cửa giữa hàm trên
và hình dạng khuôn mặt trên người Việt Điều đó cho thấy học thuyết về hình dạng răng phải tương đồng với hình dạng khuôn mặt đảo ngược không hoàn toàn đúng trong mọi trường hợp
Từ khóa: hình dạng răng, hình dạng khuôn mặt, thẩm mỹ răng trước, mất răng toàn hàm
ABSTRACT
THE CORRELATION BETWEEN MAXILLARY CENTRAL INCISOR FORM AND FACE FORM IN
VIETNAMESE POPULATION
Nguyen Van Quan, Le Ho Phuong Trang
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 205 - 212
Objective: This study was performed to examine whether there was a correlation between teeth and face
forms in Vietnamese population
Materials and Methods: A cross-sectional study design was used with a sample size of 100 dental students
of The University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City (42 males, 58 females) between 18 and 26 of age Subjects were free from facial and dental deformities A standardized photographic procedure was used to record portrait of each subject’s face and anterior teeth Facial outlines and upper right incisor outlines were traced, using Photoshop CS3 and AutoCAD version 2008 software on the basis of Wolfart’s method Spearman coefficients were used to determine the possible correlation between teeth and face forms
Results: Tooth forms could be classified as ovoid (46%), tapered (44%), and square-shaped (10%) Face
*Khoa Phục Hình, Bệnh Viện Răng Hàm Mặt Trung Ương TP.HCM
Trang 2shapes could be classified as tapered (56%), ovoid (44%) A significant association could be shown between face shape and gender, but not between tooth form and gender A correspondence between tooth and face forms was only found in 50% of all cases There was no relationship between both structure ‘shapes (p>0.05)
Conclusion: The results indicated no correlation between the shapes of the face and of the central incisor The
theory of the tooth form should correspond to the inverted face shape could therefore not be confirmed
Keywords: tooth form, face shape, upper central incisor, and anterior tooth esthetics, edentulous
MỞ ĐẦU
Khi chọn lựa răng trước trong phục hình
toàn hàm, răng cửa giữa hàm trên đóng vai trò
quan trọng nhất vì nó là răng được người đối
diện chú ý trong tất cả các cử động tự nhiên
răng là một trong những bước quan trọng trong
thiết lập thẩm mỹ tối ưu khi thay thế răng thật
đã mất bằng răng giả Thông thường, răng cửa
giữa được sử dụng như một hướng dẫn cho việc
lựa chọn các răng thay thế phía trước Đây được
Một số học thuyết ra đời từ lâu giúp chọn lựa
răng cửa giữa hàm trên dễ dàng hơn như thuyết
tính khí, thuyết hình học của Williams, thuyết
SPA hay thuyết “Dentogenics” của Frush và
Fisher.Trong đó, thuyết hình học của Williams
về sự hài hòa giữa hình dạng răng cửa giữa hàm
trên và khuôn mặt ra đời năm 1914, được chấp
nhận bởi phần lớn các công ty nha khoa sản xuất
răng giả Thuyết này cũng được sử dụng trong
hầu hết các sách phục hình trên toàn thế giới
mặc dù thiếu những bằng chứng khoa học
thuyết phục(4,12)
Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành
nhằm xác định sự tồn tại của mối liên hệ này
giữa hình dạng răng – mặt Ngược lại, nghiên
có mối tương quan mặc dù tỷ lệ tương đồng
hình dạng răng – mặt không cao Như vậy, các
kết quả hiện nay vẫn chưa thống nhất do sử
dụng nhiều tham số, điểm mốc và phương
pháp nghiên cứu khác nhau
Vì những lý do trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định tương quan hình dạng của răng cửa giữa hàm trên với hình dạng khuôn mặt của người Việt Nam với những mục tiêu sau:
1- Xác định tỷ lệ hình dạng răng cửa giữa hàm trên và tỷ lệ hình dạng khuôn mặt
2- Đánh giá tương quan hình dạng răng cửa giữa hàm trên với hình dạng khuôn mặt
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Đối tượng nghiên cứu
100 sinh viên Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh đáp ứng tiêu chí chọn mẫu (42 nam, 58 nữ)
Tiêu chí chọn mẫu
Các đối tượng nghiên cứu có cha mẹ là người Việt Nam, dân tộc Kinh, không có pha trộn chủng tộc 2 đời gần nhất Chỉ số khối cơ thể (BMI) trong giới hạn bình thường (từ 18,5 đến 24,99) Khớp cắn Angle hạng I răng 6 Có đầy đủ răng vĩnh viễn trên cung răng tương đối cân xứng Các răng trước trên ngay ngắn, đúng vị trí, không sâu, di lệch hoặc mòn nặng Không có phục hình hoặc miếng trám trên răng cửa giữa hàm trên Không chỉnh hình răng Không có bệnh nha chu hoặc viêm nướu nặng Không có tật xấu về răng miệng Mặt cân xứng Không có
dị dạng mặt bẩm sinh, tiền sử chấn thương hay
phẫu thuật mặt
Phương tiện nghiên cứu
Máy ảnh kỹ thuật số Canon, loại DSLR, hiệu EOS 550D, có độ phân giải 18.0 Megapixel, ống
Trang 3kính macro Canon EF 100 USM Máy tính, phần
mềm đo đạc AutoCAD 2008, Photoshop CS3…
Phương pháp nghiên cứu
Chụp ảnh khuôn mặt
Chụp ảnh khuôn mặt nhìn thẳng của đối
tượng ở tư thế nghỉ sinh lý theo các tiêu chuẩn
chuẩn hóa sau: Đối tượng ngồi trên ghế, mắt
nhìn thẳng theo đường ngang, thả lỏng cơ mặt
miệng, thư giãn hàm dưới và hai môi chạm nhẹ
Mặt phẳng Frankfort của đối tượng song song
với mặt phẳng ngang Máy ảnh kỹ thuật số với
tiêu cự 100 mm được cố định trên giá đỡ Điểm
lấy nét ở tâm ống kính trùng với điểm định vị
phía mũi Khoảng cách từ ống kính đến đối
tượng là 150 cm
Chụp ảnh khối răng trước trên
Tư thế chụp ảnh giống chụp khuôn mặt có
thêm dụng cụ banh môi má để có thể thấy rõ các
răng trước Điều chỉnh sao cho mặt phẳng nhai
song song với mặt phẳng nằm ngang Khoảng
cách từ máy ảnh đến đối tượng là 40cm, điểm
ngắm lấy nét là tiếp điểm của hai răng cửa giữa
hàm trên
Phác họa hình dạng răng và khuôn mặt
Phần 1: Phác họa đường nét và xác định các kích
thước
Dùng phần mềm photoshop CS3 và
AutoCAD
Vẽ đường viền khuôn mặt qua các giới hạn
giải phẫu: bờ trên lấy đường chân tóc, mặt bên
lấy gò má, góc hàm dưới, bờ dưới kết thúc ở
cằm
Vẽ đường viền của răng qua đường viền cổ
răng, bờ gần xa và cạnh cắn
Vẽ đường giữa của răng qua điểm giữa cạnh
cắn và điểm cao nhất của cổ răng (X) Vẽ 2
đường tiếp tuyến đi qua 2 điểm bên nhất ở phía
gần, xa của răng sao cho song song với đường
giữa Xác định 2 điểm O1 (điểm gần cổ răng nhất
trên đoạn giao nhau giữa tiếp tuyến bên xa và
đường viền ngoài của răng), O2 (điểm gần cạnh
bên gần và đường viền ngoài của răng) Từ 2 điểm O1và O2, vẽ 2 đường vuông góc với đường giữa tại 2 điểm S1 và S2 Vẽ đường vuông góc với đường giữa tại S là trung điểm của S1S2 xác định kích thước TB Chia đoạn SX làm 5 phần,
TA được xác định bằng đường vuông góc với đường giữa tại điểm tương ứng bằng 4/5 chiều dài SX về phía cổ răng (Hình 1)
Hình 1 Xác định hình dạng răng cửa giữa hàm trên
theo Wolfart (TB: Đoạn thẳng vuông góc với S1S2 tại trung điểm S TA: Đoạn thẳng song song với TB
về phía cổ răng và vuông góc với XS ở vị trí tương ứng bằng 1/5 đoạn XS.)
Vẽ đường giữa của khuôn mặt qua điểm giữa 2 góc mắt, đỉnh mũi và nhân trung, đường này cắt đường viền ngoài của khuôn mặt ở vùng cằm tại X Vẽ 2 đường tiếp tuyến đi qua 2 điểm tiếp xúc bên phải và trái của khuôn mặt sao cho song song với đường giữa Xác định 2 điểm O1 (điểm gần vùng cằm nhất trên đoạn giao nhau giữa tiếp tuyến bên trái và đường viền ngoài của khuôn mặt), O2 (điểm gần vùng trán nhất trên đoạn giao nhau giữa tiếp tuyến bên phải và đường viền ngoài của khuôn mặt) Từ 2 điểm
Trang 4tại 2 điểm S1 và S2 Vẽ đường vuông góc với
đường giữa qua S là trung điểm của S1S2 xác
định kích thước FB Chia đoạn SX làm 5 phần,
FA được xác định bằng đường vuông góc với
đường giữa tại điểm tương ứng bằng 4/5 chiều
dài SX về phía cằm (Hình 2)
Thiết lập tỷ số TAB (TQ) = TA/TB, FAB (FQ)
= FA/FB Phân loại hình dạng răng và khuôn mặt
theo công thức Wolfart: TA/TB, FA/FB ≤ 0,61
(hình tam giác), 0,61 < TA/TB, FA/FB < 0,70 (hình
bầu dục), TA/TB, FA/FB ≥ 0,70 (hình vuông)
(Hình 3)
Hình 2 Xác định hình dạng khuôn mặt theo Wolfart
(FB: Đoạn thẳng vuông góc với S1S2 tại trung điểm
S FA: Đoạn thẳng song song với FB về phía cằm và vuông góc với XS ở vị trí tương ứng bằng 1/5 đoạn XS.)
Hình 3 Phân loại hình dạng răng và khuôn mặt theo Wolfart (14)
Xử lý số liệu
Dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần
mềm Stata 12 Tính tỷ lệ hình dạng răng cửa giữa
sánh các tỷ lệ hình dạng răng cửa giữa hàm trên,
khuôn mặt giữa nam và nữ Dùng hệ số tương
quan Spearman để đánh giá tương quan hình
dạng răng cửa giữa hàm trên và hình dạng khuôn mặt
Sai lệch do các thủ thuật đo gián tiếp qua ảnh được hạn chế bằng cách đánh giá độ kiên định của người đo trên một mẫu lấy ra ngẫu nhiên 20 đối tượng (chiếm 20% mẫu) bằng 2 lần đo Kết quả kiểm định cho thấy hệ số tương quan ICC
<
Trang 5thể hiện mối tương quan giữa các thông số của 2
lần đo của cùng một người đo luôn ở mức r>0,90
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Hình dạng răng cửa giữa hàm trên
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, răng
hình bầu dục chiếm tỷ lệ cao nhất (46%), kế đến
là răng hình tam giác (44%) và thấp nhất là răng
hình vuông (10%) (Bảng 1) Nghiên cứu của
cũng cho thấy tỷ lệ răng hình bầu dục chiếm cao
nhất (39% và 81%) Tuy nhiên nghiên cứu
Thổ Nhĩ Kỳ lại tìm thấy răng hình vuông có tỷ lệ
cao nhất (52,9% và 43,97%) Như vậy, có thể thấy
hình dạng răng phân bố rất khác biệt ở một số
dân tộc
Hình dạng khuôn mặt
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận trên 100
đối tượng người Việt tham gia nghiên cứu có
đến 56% khuôn mặt hình tam giác (chiếm tỷ lệ
cao nhất), 44% khuôn mặt hình bầu dục và
không tìm thấy khuôn mặt hình vuông (Bảng 1)
Đức cho thấy mặt hình bầu dục chiếm tỷ lệ cao
nhất (41%), kế đến là mặt hình vuông (32%) và
cuối cùng là mặt hình tam giác (27%) Trong
người Croatia, hình bầu dục chiếm 83%, hình
vuông chiếm 9,2% và hình tam giác là 7%
qua đánh giá bằng mắt cho thấy mặt bầu dục
chiếm 51,15%, mặt hình vuông chiếm 27,5% và
mặt tam giác chiếm 21,35% Nghiên cứu của
mắt cho thấy mặt hình bầu dục chiếm tỷ lệ cao
nhất (56%), kế đến là hình vuông (30%) và sau
cùng là tam giác (14%) Nhìn chung, các nghiên
cứu khác trên thế giới đều cho thấy khuôn mặt
hình bầu dục chiếm tỷ lệ cao nhất và thấp nhất là
hình tam giác Trong khi nghiên cứu của chúng
tôi lại tìm thấy khuôn mặt hình tam giác nhiều
nhất và khuôn mặt hình vuông thấp nhất (Bảng
tộc và phương pháp phân loại khác nhau hoặc có thể đặc điểm nhóm nghiên cứu khác nhau
Bảng 1 Tỷ lệ hình dạng răng và hình dạng khuôn
mặt
n Tỷ lệ
Hình dạng răng Hình tam giác 44 44,0%
Hình dạng khuôn mặt Hình tam giác 56 56,0%
Xét hình dạng răng - mặt theo giới tính
Ở răng cửa giữa hàm trên, nghiên cứu chúng tôi không tìm thấy mối liên hệ giữa hình dạng răng với giới tính, mặc dù răng hình tam giác thấy nhiều ở nam nhất (52,38%); trong khi ở nữ, răng hình bầu dục chiếm nhiều nhất (48,28%) Ghi nhận này tương đồng với nghiên cứu của
răng bầu dục nhất và nam có nhiều răng tam giác nhất Tuy nhiên, nghiên cứu chúng tôi cho thấy sự khác biệt về hình dạng răng theo giới tính không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) (Bảng 2)
Pedrosa lại thấy ở cả nam và nữ đều xuất hiện hình dạng răng bầu dục chiếm nhiều nhất thì Ibrahimagic ghi nhận răng vuông-tam giác xuất hiện nhiều ở cả nam và nữ Trái lại, nghiên cứu
răng theo giới tính có ý nghĩa, nhưng ở cả nam
và nữ đều có tỷ lệ răng bầu dục cao nhất (42,5%
và 53,3%) Như vậy, nhìn chung kết quả các nghiên
cứu đều không phù hợp với học thuyết “Dentogenics”
về chọn răng dựa trên giới tính khi cho rằng nữ giới thường có răng hình bầu dục và nam thường có răng hình vuông
Bảng 2 Phân bố hình dạng răng cửa giữa hàm trên
theo giới tính
Hình dạng răng cửa giữa hàm trên
Hình tam giác Hình bầu dục Hình vuông
p
Nam 22 52,38 18 42,86 2 4,76 42
> 0,05
Nữ 22 37,93 28 48,28 8 13,79 58
Trang 6Xét về hình dạng khuôn mặt, ghi nhận của
chúng tôi cho thấy có đến 69,05% nam có khuôn
mặt hình tam giác trong khi nữ giới có khuôn
mặt hình bầu dục chiếm nhiều nhất với 53,45%
và không tìm thấy mặt hình vuông ở cả nam và
nữ Sự khác nhau giữa nam và nữ có ý nghĩa
lại thấy khuôn mặt bầu dục ở nam và nữ cao xấp
xỉ ngang nhau và chiếm tỷ lệ cao nhất (41% và
40%) Sự khác biệt còn lại chỉ ở khuôn mặt tam
giác và khuôn mặt vuông Trong khi, khuôn mặt
vuông ở nam nhiều hơn (38%) thì mặt tam giác ở
nữ nhiều hơn (34%) Nghiên cứu của
không có sự ảnh hưởng của giới tính lên hình
dạng khuôn mặt Ibrahimagic ghi nhận người
Croatia có tỷ lệ mặt hình bầu dục rất cao ở cả
nam và nữ (80,2% và 85%)
Bảng 3 Sự liên quan giữa hình dạng khuôn mặt và
giới tính
Hình dạng
khuôn mặt
Vuông Bầu dục Tam giác
p
Nam (n=42) 0 0 13 30,95 29 69,05
< 0,05
Nữ (n=58) 0 0 31 53,45 27 46,55
Kiểm định chi bình phương
Xét tương quan hình dạng răng - mặt
Vẻ mặt có hiệu ứng tâm lý và xã hội quan
trọng đối với mỗi cá nhân, trong đó những đặc
trưng thường liên quan nhất đến khuôn mặt ở
Từ khi Williams đưa ra quy luật về sự hài
hòa giữa hình dạng răng cửa giữa hàm trên và
hình dạng khuôn mặt đảo ngược vào những
rộng rãi trong nhiều sách giáo khoa trên toàn thế
giới mặc dù thiếu những bằng chứng khoa học
thuyết phục Những năm gần đây, nhiều nhà
nghiên cứu đánh giá mối tương quan này trên
hầu hết các dân tộc và quốc gia của họ bằng
nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, phần
lớn đều không tìm thấy mối tương quan thật sự
có ý nghĩa giữa hình dạng hai cấu trúc này Các
dân số có sự tương đồng giữa hình dạng răng -
chủng tộc cũng cho thấy sự tương đồng trên nhóm người da trắng là 30%, da màu là 20%, da đen là 25%, da vàng là 20% và sự tương đồng trung bình trên 4 nhóm chủng tộc là 23,7% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận
tỷ lệ 50% hình dạng răng và mặt có sự tương đồng, trong đó răng tam giác - khuôn mặt tam giác chiếm 28%, răng bầu dục - khuôn mặt bầu dục chiếm 22%, không tìm thấy sự tương đồng răng hình vuông - khuôn mặt hình vuông Tuy
nhiên, kết quả nghiên cứu không tìm thấy mối tương
quan có ý nghĩa giữa hình dạng răng và mặt (kiểm
định thống kê cho thấy hệ số tương quan Spearman là 0,151 và p>0,05) (Bảng 4) Tỷ lệ này cao hơn các nghiên cứu trên, nhưng lại tương
đánh giá bằng mắt)
Bảng 4 Sự liên quan giữa hình dạng của răng cửa
giữa hàm trên và hình dạng khuôn mặt
Hình dạng răng
Hình dạng khuôn mặt Hệ số
Spearman p Tam giác Bầu dục
0,151 > 0,05
Khi xét mối tương quan giữa hình dạng 2 cấu trúc này Nhiều tác giả đã sử dụng các phương pháp khác nhau Một số nghiên cứu đánh giá tương quan, phân loại hình dạng bằng mắt bởi các bác sĩ có nhiều năm kinh nghiệm về phục hình có hay không được huấn luyện theo cách phân loại của Williams như các nghiên cứu của Pedrosa(8), Bersun(2), Koralakunte(7) cho thấy
tỷ lệ tương đồng tới 50% Các tác giả khác thì cho rằng phương pháp quan sát bằng mắt không
phức tạp khi phân loại răng - mặt qua cách nhìn bằng mắt Farias cho rằng phân loại bằng mắt có thể bị ảnh hưởng bởi tâm trí của người đánh giá
Trang 7và thường không logic Đồng quan điểm với
loại có thể bị ảnh hưởng bởi những gì học ở
trường và thông qua sách vở Một vài nghiên
cứu dùng phân loại của Williams Tuy nhiên, sự
đồng thuận của cách phân loại này không cao,
chỉ 65% trường hợp đồng thuận và 15% không
thể phân loại được Flores cũng cho rằng
phương pháp này có thể gây những sai lệch bởi
vì nó phục thuộc vào nhiều yếu tố khác như kinh
nghiệm, kiến thức, sự đồng thuận xã hội và sự
phân loại bị ảnh hưởng bởi vài đặc tính riêng
Nhận ra những hạn chế thông qua cách đánh giá
bằng mắt, Wolfart và Farias dùng những thông
số đo đạc hình học để phân loại và đánh giá
tương quan nhằm hạn chế những cảm nhận chủ
quan của người đánh giá Nghiên cứu của chúng
tôi cũng cùng quan điểm này Như vậy, thông
qua những nghiên cứu cho thấy dù đánh giá bằng
mắt hay bằng các phương pháp đo đạc hình học khác
nhau, các tác giả vẫn không tìm thấy mối tương quan
có ý nghĩa thật sự về hình dạng giữa hai cấu trúc
răng - mặt
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi và nhiều
nghiên cứu trên thế giới cho thấy quy luật hài hòa
của Williams về hình dạng răng - mặt không hoàn
toàn đúng trên tất cả dân số Với tỷ lệ của hơn
mười công trình nghiên cứu, mức tương đồng
hình dạng răng-mặt chỉ từ 50% trở xuống cho
thấy khi ứng dụng quy luật này trên lâm sàng,
trong phục hình toàn hàm, các chuyên gia phục
hình cần kết hợp với nhiều yếu tố khác để đạt
được thẩm mỹ tối ưu nhất cho bệnh nhân
Pedrosa thấy rằng các đặc tính chung, văn hóa,
mặt sinh học, và những nét cá nhân hóa của
bệnh nhân nên được quan tâm để đạt được kết
và những mong mỏi của bệnh nhân khi chọn
răng – mặt là nơi gặp nhau giữa nhu cầu của cả
Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những lý giải cũng như quan điểm cá nhân cho sự không tương đồng về hình dạng răng - mặt này Wright cho rằng nếu theo quy luật hài hòa giữa tương quan răng - mặt, một khi có những thay đổi đường nét của khuôn mặt bởi bệnh tật, tuổi già, thiếu cân hay thừa cân sẽ phải kéo theo sự thay đổi bắt buộc của hình dáng răng để phù hợp với quy luật hài hòa Điều này trái với tự nhiên khi
mà hình dáng răng có vẻ không thay đổi theo
những thay đổi theo thời gian khác nhau Khi độ tuổi tăng lên, da sẽ xuất hiện nhiều nếp nhăn và
co lại, dẫn tới giảm kích thước khuôn mặt Trong một số trường hợp, giảm kích thước dọc của mặt làm mặt trở nên ngắn hơn và đường cong vùng
má nhô hơn dẫn đến thay đổi hình dạng Hơn nữa răng cũng có sự thay đổi theo tuổi Người càng lớn tuổi, răng càng xoay, nghiêng theo hướng gần xa, lệch đường giữa, mòn răng và trụt nướu Từ đó, tác giả cho rằng thẩm mỹ của hình dạng răng cửa không phải chỉ nhờ vào sự tương đồng giữa hình dạng răng và khuôn mặt, bởi vì những thay đổi trong nụ cười thì quan trọng hơn là hình dạng răng cửa Ví dụ: thiếu gai nướu giữa 2 răng sẽ làm cho răng hình bầu dục giống răng tam giác
Ibrahimagic thấy rằng không có thuyết chọn lựa răng giả nào chính xác và đáng tin cậy hoàn toàn Khi chọn lựa răng giả trong phục hình, dù cho hình dạng răng giả được chọn hợp lý đi nữa thì trong quá trình sắp răng và tạo đường viền nướu giả cho răng, hình dạng răng vẫn có thể bị thay đổi(4)
Lombardi không đồng tình với học thuyết của Williams vì hai lý do Thứ nhất, bệnh nhân
có hình dạng khuôn mặt điển hình rất khó gặp bởi vì hầu hết mọi người có khuôn mặt pha trộn hình dạng Thứ hai, hình dạng của một răng đơn
lẻ (răng cửa giữa hàm trên) không quan trọng bằng tổng thể bộ răng được sắp xếp hài hòa trong một thể thống nhất (dẫn theo
Trang 8Bên cạnh đó, quan niệm “cái đẹp” có thể
khác nhau giữa bệnh nhân và nha sĩ bởi vì thẩm
mỹ thường liên quan đến tình trạng xã hội và
sinh lý Trong một vài trường hợp, sở thích của
bệnh nhân về hình dạng, kích thước và toàn bộ
kết cấu bộ răng giả đôi khi khác với quan niệm
cầu của họ, những chọn lựa về hình dạng, kích
thước, màu sắc răng giả có thể được thực hiện
trên hàm sáp bằng nhiều cách khác nhau và thử
trên miệng cho đến khi bệnh nhân hài lòng
KẾT LUẬN
Về hình dạng răng - mặt
Tỷ lệ phân bố các loại hình dạng răng cửa
giữa hàm trên: hình tam giác (44%), hình bầu
dục (46%), hình vuông (10%)
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
giữa nam và nữ (p> 0,05) về phân bố hình dạng
răng cửa giữa hàm trên
Tỷ lệ phân bố các loại hình dạng khuôn mặt:
hình tam giác (56%), hình bầu dục (44%), hình
vuông (0%)
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa
nam và nữ (p< 0,05) về phân bố hình dạng khuôn
mặt Nam giới có khuôn mặt tam giác nhiều nhất
chiếm 69,05 % Nữ có khuôn mặt hình bầu dục
chiếm nhiều nhất (53,45%)
Về tương quan hình dạng răng - mặt
Nghiên cứu này không tìm thấy tương
quan có ý nghĩa giữa hình dạng răng cửa giữa
hàm trên và hình dạng khuôn mặt (p> 0,05) Tỷ
lệ tương đồng giữa hình dạng hai cấu trúc này
là 50%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Abdulhadi L.M (2012) Face- central incisor form matching in
selected south Asian population Scientific Research and Essays,
7 (5) :616-620
2 Berksun S., Hasanreisoglu U., Gokdeniz B (2002) Computer-based evaluation of gender identification and morphologic
classification of tooth face and arch forms.J Prosthet Dent, 88 (6)
:578-84
3 Farias F.D.O., Ennes J.P., Zorzatto J.R (2010) Aesthetic Value
of the Relationship between the Shapes of the Face and
Permanent Upper Central Incisor.Int J Dent, 2010 :1-6
4 Ibrahimagić L., Jerolimov V., Čelebić A (2001) The choice of
tooth form for removable dentures.Acta stomatologica Croatica,
35 (2) :237-244
5 Ibrahimagić L., Jerolimov V., Čelebić A., Carek V., Baučić I., Knezović Zlatarić D (2001) Relationship between the face
and the tooth form.Collegium antropologicum, 25 (2) :619-626
6 Kassab N.H (2005) The selection of maxillary anterior teeth width in relation to facial measurements at different types of
face form.Al-Rafidain Dental Journal, 5 (1) :15-22
7 Koralakunte P.R., Budihal D.H (2012) A clinical study to evaluate the correlation between maxillary central incisor
tooth form and face form in an Indian population.J Oral Sci, 54
(3) :273-8
8 Pedrosa V.O., França F.M.G., Flório F.M., Basting R.T (2011) Study of the morpho-dimensional relationship between the
maxillary central incisors and the face.Brazilian Oral Research,
25 (3) :210-216
9 Sellen P.N., Jagger D.C., Harrison A (1999) Methods used to select artificial anterior teeth for the edentulous patient: a
historical overview.Int J Prosthodont, 12 (1) :51-8
10 Sellen P.N., Jagger D.C., Harrison A (1998) Computer-generated study of the correlation between tooth, face, arch
forms, and palatal contour.J Prosthet Dent, 80 (2) :163-8
11 Shah D.S., Shaikh R., Mattani H., Rana D., Trivedi A (2011) Correlation between Tooth, Face and Arch Forms-A
Computer Generated Study.Journal of the Indian Dental
Association, 5 (7) :873-77
12 Trần Thiên Lộc, Lê Hồ Phương Trang, Nguyễn Thị Cẩm Bình,
Nguyễn Hiếu Hạnh (2005) Phục Hình Răng tháo lắp toàn hàm
Nhà Xuất Bản Y Học,125-34
13 Varjao F.M., Nogueira S.S., Russi S., Arioli Filho J.N (2006) Correlation between maxillary central incisor form and face
form in 4 racial groups.Quintessence Int, 37 (10) :767-71
14 Wolfart S., Menzel H., Kern M (2004) Inability to relate tooth
forms to face shape and gender European Journal of Oral
Sciences, 112 (6) :471-476
Ngày nhận bài báo: 05/01/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 18/02/2016 Ngày bài báo được đăng: 25/03/2016