1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Biến chứng thường gặp nhất và các yếu tố nguy cơ ở trẻ nhũ nhi nhập viện vì viêm tiểu phế quản nặng

8 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 342,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết xác định tỉ lệ hiện mắc của biến chứng thường gặp nhất và khảo sát mối tương quan giữa biến chứng này với một số yếu tố nguy cơ ở trẻ mắc VTPQ nặng < 12 tháng tuổi.

Trang 1

BIẾN CHỨNG THƯỜNG GẶP NHẤT VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Ở TRẺ NHŨ NHI NHẬP VIỆN VÌ VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN NẶNG

Nguyễn Thị Hương*, Tăng Chí Thượng**

TÓM TẮT

Tổng quan: Viêm tiểu phế quản (VTPQ) là bệnh lí viêm nhiễm cấp tính do siêu vi của các phế quản cỡ nhỏ

và trung bình, thường gặp ở trẻ dưới 2 tuổi Đây là nguyên nhân hàng đầu khiến trẻ nhũ nhi phải nhập viện Đặc biệt, biến chứng của bệnh dễ xảy ra nếu trẻ mắc VTPQ nặng hoặc có nhiều yếu tố nguy cơ, làm tăng nguy

cơ tử vong ở các trẻ này

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ hiện mắc của biến chứng thường gặp nhất và khảo sát mối tương quan giữa biến

chứng này với một số yếu tố nguy cơ ở trẻ mắc VTPQ nặng < 12 tháng tuổi

Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu, cắt dọc mô tả, thu thập số liệu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu

nhiên đơn giản trên 210 trẻ VTPQ nặng dưới 12 tháng tuổi thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và nhập phòng cấp cứu khoa Hô hấp bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 01/2014 đến 08/2014

Kết quả: Tỉ suất hiện mắc chung của các biến chứng là 65,2 % Đa số trẻ mắc ít nhất 1 biến chứng

(42,68%) Số trẻ mắc 2 biến chứng (17,14%) giảm hẳn Số trẻ mắc 3 biến chứng trở lên (5,24%) chiếm tỉ lệ không đáng kể.Tỉ suất hiện mắc từng biến chứng ở trẻ VTPQ nặng: viêm phổi (46,1%), hạ Na máu (22,38%), xẹp phổi (9,52%), nhiễm trùng huyết (8,57%), suy hô hấp (4,28%), cơn ngưng thở (3,33%), tràn khí màng phổi (0,47%) Không có trẻ nào tử vong Các bé trai có nguy cơ viêm phổi cao hơn các bé gái 2,05 lần (OR = 2,05, p = 0,018) Trẻ sanh non dưới 34 tuần có nguy cơ viêm phổi cao gấp 3.83 lần so với trẻ đủ tháng (OR = 3,83, p=0,030)

Kết luận: Viêm phổi là biến chứng thường gặp nhất ở trẻ mắc VTPQ nặng dưới 12 tháng tuổi Các yếu tố

nguy cơ có tương quan với viêm phổi là giới tính nam và tiền căn sanh non dưới 34 tuần

Từ khóa: viêm tiểu phế quản, nhũ nhi, biến chứng

ABSTRACT

THE MOST FREQUENT COMPLICATION AND ITS RISK FACTORS IN INFANTS HOSPITALIZED

FOR SEVERE BRONCHIOLITIS

Nguyen Thi Huong, Tang Chi Thuong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 56 - 63

Background: Bronchiolitis is a disorder commonly caused by viral lower respiratory tract infection in

small airways of children under two years old It is the most common cause of hospitalization among infants during the first 12 months of life Complications are more frequent in infants with severe bronchiolitis or risk factors When occurring, complications are associated with an increasing proportion of deaths

Objective: To identify the incidence and risk factors of the most frequent complication in infants

hospitalized for severe bronchiolitis.

Methods: We enrolled 210 infants, hospitalized with severe bronchiolitis at Respiratory department of

Childrenhospital number 1, from the January to August 2004

Results: Most infants had one or more complications (65.2 %) 42.68% had one complication, 17.14% had

*Khoa Hô hấp, Bệnh viện Nhi Đồng 1 ** Sở Y Tế Tp Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc : BS Nguyễn Thị Hương ĐT: 0838683007 E-mail: nguyenthihuong.ntnhi@gmail.com

Trang 2

two complications, and the minority of infants had three or more complications (5.24%) Pneumonia complication was most frequent (46.1%) The others complications were hyponatraemia (22.38%), atelectasis (9.52%), bacteremia (8.57%), respiratory failure (4.28%), apneic episodes (3.33%), pneumothorax (0.47%) No infant died Male infants had the high risk to suffer from pneumonia complication more than female infants (OR=2.05, p=0.018) For preterm infants (< 34 weeks gestation), pneumonia complication rate was 3.83 times higher than term infants

Conclusions: Pneumonia was the most frequent complication in infants admitted to hospital for severe

bronchiolitis The significant factors were male gender and preterm infants (<34 weeks gestation

Keywords: bronchiolitis, infant, complication

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm tiểu phế quản (VTPQ) là bệnh lí viêm

nhiễm cấp tính do siêu vi của các phế quản cỡ

nhỏ và trung bình, thường gặp ở trẻ dưới 2 tuổi,

đặc trưng bởi hội chứng lâm sàng bao gồm ho,

khò khè, thở nhanh, có thể kèm co lõm ngực (19)

Virus hợp bào hô hấp (RSV- Respiratory

syncytial virus) là tác nhân hàng đầu gây ra

bệnh và cũng là nguyên nhân phổ biến dẫn đến

các nhiễm khuẩn hô hấp thường gặp ở trẻ em(22)

Thật vậy, ước tính có tới 90% trẻ em từng

nhiễm RSV trong 2 năm đầu đời, 40% số này sẽ

bị nhiễm khuẩn hô hấp dưới(6,9) Vì miễn dịch

của cơ thể với RSV không lâu dài nên một trẻ

vẫn có thể tái nhiễm RSV nhiều lần trong đời

Tại Mỹ, VTPQ là nguyên nhân hàng đầu khiến

trẻ nhũ nhi phải nhập viện, với gần 150.000

trường hợp hàng năm(11) Tỷ lệ nhập viện do

VTPQ ở trẻ nhũ nhi cũng đã tăng gấp đôi từ

1980 đến 1996(3) Với số lượng bệnh nhân lớn

như vậy, phí tổn dành cho điều trị VTPQ ở trẻ

nhũ nhi ước tính trên 700 triệu đô la Mỹ mỗi

năm(17) Con số này thậm chí đã vượt quá 1 tỷ đô

la Mỹ vào 2006(3) Ở Việt Nam, chưa có nghiên

cứu thống kê nào khảo sát qui mô chung của

bệnh VTPQ Nhưng chỉ riêng tại khoa Hô hấp

bệnh viện Nhi Đồng I hàng năm tỷ lệ trẻ cần

nhập viện điều trị VTPQ khá cao, chiếm khoảng

35-37% tổng số trẻ nằm viện, cho thấy mức độ

ảnh hưởng của bệnh cũng tương tự như các

nước trên thế giới(14)

Mặc dù VTPQ là bệnh có diễn tiến lành tính,

đa phần bệnh sẽ thoái lui sau 7 ngày, tuy nhiên

phải nhập viện, đặc biệt là các trẻ mắc VTPQ nặng cần cung cấp oxy hoặc các trẻ có kèm yếu tố nguy cơ

như tuổi dưới 3 tháng, sanh non, nhẹ cân hoặc

có bệnh nền sẵn như tim bẩm sinh, loạn sản

phổi, suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch Một

khi biến chứng xảy ra, nguy cơ tử vong của trẻ cũng tăng lên

Tại Mỹ, tử vong do RSV ước tính vào khoảng 450 trường hợp mỗi năm, và đặc biệt tăng trong nhóm trẻ có nhiều yếu tố nguy cơ hoặc bị biến chứng(20) Đáng lưu ý là tỷ lệ tử vong do VTPQ không thay đổi nhiều trong khi

tử vong do các bệnh hô hấp khác đã giảm(16) Rõ ràng, VTPQ không chỉ đơn thuần là một bệnh

hô hấp thông thường và tự giới hạn, mà thực sự bệnh có lâm sàng khá đa dạng và phức tạp, nếu người thầy thuốc không lưu tâm đến các biến chứng có thể gặp của bệnh thì tử vong do VTPQ

là hoàn toàn có thể xảy ra

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu khảo sát tỷ suất hiện mắc và các yếu tố nguy cơ của từng biến chứng gây ra do VTPQ Nhưng tại Việt Nam, mới chỉ có công trình nghiên cứu của Phạm Thị Minh Hồng tìm hiểu khái quát về vấn

đề này (12) Trẻ nhập viện vì VTPQ, đặc biệt là VTPQ nặng có thể mắc những biến chứng nào?

Cụ thể hơn, biến chứng nào thường gặp nhất và những yếu tố nguy cơ của biến chứng này là gì?

Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi quyết định cần

phải thực hiện một nghiên cứu khảo sát “tỷ suất

hiện mắc và các yếu tố nguy cơ của biến chứng thường gặp nhất ở trẻ mắc VTPQ nặng” nhằm đưa

tới cho nhà lâm sàng một cái nhìn toàn cảnh về bệnh, đồng thời góp phần vào tìm kiếm chiến

Trang 3

lược hiệu quả trong phòng ngừa biến chứng

này Trong nghiên cứu này, chúng tôi chú trọng

đến đối tượng trẻ dưới 12 tháng tuổi là độ tuổi

nhập viện chủ yếu của VTPQ (trẻ nhũ nhi

chiếm tới 90% tổng số trẻ nhập viện vì VTPQ(4)),

đồng thời là độ tuổi mà các biến chứng thường

xảy ra và gây hậu quả nghiêm trọng

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỉ lệ hiện mắc của từng biến chứng

Đánh giá mối tương quan giữa biến chứng

thường gặp nhất với các YTNC

PHƯƠNG PHÁP

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiền cứu, cắt dọc mô tả

Dân số đích

Tất cả trẻ < 12 tháng tuổi mắc VTPQ nặng tại

khoa Hô hấp BV.NĐ1 TP HCM trong thời gian

từ tháng 01/201408/2014

Dân số chọn mẫu

Trẻ < 12 tháng tuổi, nhập phòng cấp cứu

khoa Hô hấp BV.NĐ1 TP HCM vì VTPQ nặng

thoả tiêu chuẩn chọn mẫu

Cỡ mẫu

210 bệnh nhi

Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu

nhiên đơn giản

Tiêu chuẩn lựa chọn

Trẻ nhũ nhi (1< 12 tháng tuổi)

Mắc VTPQ nặng

Khò khè lần đầu

Được làm đầy đủ xét nghiệm cần thiết cho

nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Trẻ bị thay đổi chẩn đoán xác định bệnh

trong quá trình điều trị (ví dụ suyễn nhũ nhi)

Trẻ có biểu hiện đông đặc phổi trên XQ

ngay tại thời điểm nhập viện

Trẻ được chuyển đến khoa khác điều trị tiếp

và không được làm đầy đủ xét nghiệm cần thiết cho nghiên cứu

Trẻ xin xuất viện sớm trong quá trình điều trị

Thu thập số liệu

Theo bệnh án mẫu

Quy trình thu thập số liệu

Các trẻ thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu sẽ được hỏi bệnh sử, tiền căn, khám thực thể

Đề nghị xét nghiệm tầm soát biến chứng: huyết đồ, ion đồ máu, CRP, Glucose máu, KMĐM, XQ phổi (lúc nhập viện, 48h và 96h sau nhập viện, hoặc ngay khi trẻ sốt cao lên hoặc có dấu hiệu hô hấp xấu đi), SA tim, ECG, TPTNT, cấy nước tiểu, cấy máu, cấy đàm

Kết quả XQ được đọc bởi các bác sĩ khoa Chẩn đoán hình ảnh

Trong quá trình nằm viện, trẻ sẽ được theo dõi sát để ghi nhận các biến chứng mới xuất hiện cho đến khi xuất viện

Biến số Dịch tễ học lâm sàng: tuổi, giới, tình trạng dinh dưỡng, tiền căn

Biến chứng: về hô hấp, bội nhiễm, tim mạch, rối loạn điện giải và tử vong

Một số tiêu chuẩn : Viêm tiểu phế quản(1,15,19): dựa theo AAP

2014 và NICE 2015:

Tuổi dưới 24 tháng, đặc biệt là dưới 12 tháng

Tiền triệu nhiễm siêu vi hô hấp trên kéo dài 1-3 ngày, sau đó ho, khò khè, thở nhanh, rút lõm ngực, bú kém xảy ra nhanh vào ngày 3-4 của bệnh

Sốt thường dưới 390C Khó thở thì thở ra với ran rít, ran ngáy lan tỏa 2 phế trường

Khò khè thường là đợt đầu tiên trong đời

Trang 4

Viêm tiểu phế quản nặng: 1 trong các dấu

hiệu sau:

Rối loạn tri giác

Bỏ bú

Thở nhanh > 70 lần/phút

Thở không đều, có cơn ngừng thở

Tím

Co lõm ngực nặng

SpO2< 92% với khí trời

Suy hô hấp: mức độ suy hô hấp được coi

như biến chứng của VTPQ khi suy hô hấp độ

III Nghĩa là không đáp ứng với oxy ở ngưỡng

FiO2> 60% hoặc PaO2< 40 mmHg

Cơn ngưng thở: tình trạng ngưng thở không

giải thích được kéo dài > 20s hoặc ngắn hơn nếu

làm tím, chậm nhịp tim, giảm trương lực cơ

Xẹp phổi: hình mờ tương đối đồng nhất

chiếm 1 thùy hoặc phân thùy phổi mà không có

khí ảnh nội phế quản bên trong

Tràn khí màng phổi: tình trạng tích tụ khí

trong khoang màng phổi, biểu thị bằng khoảng

tăng sáng vô mạch nằm ngoài màng phổi tạng

trên XQ

Viêm phổi: thâm nhiễm trên XQ kèm theo

biểu hiện nhiễm khuẩn như sốt cao lên hoặc

dấu hiệu hô hấp xấu nhanh, kèm cấy đàm hoặc

cấy máu dương tính

Nhiễm trùng huyết: hội chứng đáp ứng

viêm toàn thân + cấy máu dương tính

Nhiễm trùng tiểu: cấy nước tiểu giữa dòng

có > 50.000 khúmVK/ ml với một loại VK duy

nhất

Cơn cao áp phổi: Áp lực động mạch phổi

trung bình > 30 mmHg lúc gắng sức hoặc > 25

mmHg lúc nghỉ

Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất: đo ECG

có tần số tim > 150-300 lần/phút, sóng P có thể

thấy được hoặc không, phức bộ QRS bình

thường hoặc dãn rộng

Hạ Natri máu: Na < 135 mEq/L

Xử lí và phân tích số liệu

Mã hóa và nhập dữ liệu bằng phần mềm Excel 2010

Phân thích và xử lí bằng phần mềm R 3.2.1

KẾT QUẢ Đặc điểm chung của đối tượng khảo sát

Tại khoa Hô hấp BV.NĐ1 trong thời gian từ 01 08/2014 có 210 trẻ VTPQ nặng nhập phòng cấp cứu thỏa các tiêu chí cần thiết cho nghiên cứu Trong đó, tuổi nhỏ nhất là 1 tháng, lớn nhất là 12 tháng, tuổi trung vị là 3 tháng, tập trung chủ yếu dưới 5 tháng tuổi (75%) Số lượng trẻ mắc VTPQ nặng giảm dần theo các nhóm tuổi, độ tuổi chiếm ưu thế là dưới 3 tháng tuổi Các trẻ nam mắc bệnh nhiều hơn nữ, gần gấp rưỡi so với giới nữ (1,69/1)

Biểu đồ 1: Phân bố VTPQ nặng theo nhóm tuổi Bảng 1: Phân bố VTPQ nặng theo giới tính

Các YTNC thường gặp trong nghiên cứu là tuổi dưới 3 tháng, sanh nhẹ cân, sanh non dưới

34 tuần, tim bẩm sinh, suy dinh dưỡng nặng Các YTNC còn lại chiếm tỉ lệ không đáng kể (< 5%) Không có trẻ nào bị SGMD mắc phải

Bảng 2: Phân bố VTPQ nặng theo các YTNC

Trang 5

Yếu tố nguy cơ Tỷ lệ (%)

Tỉ suất hiện mắc các biến chứng

Tỉ suất hiện mắc chung của các biến chứng

ở trẻ bị VTPQ nặng là 65,2% Đa số các trẻ mắc ít

nhất 1 biến chứng (42,86%) Số trẻ mắc 2 biến

chứng giảm hẳn (17,14%) Số trẻ mắc 3 biến

chứng trở lên chiếm tỉ lệ không đáng kể (5,24%)

Các trẻ bị VTPQ nặng thường mắc biến

chứng viêm phổi nhiều nhất (46,1%), các biến

chứng khác xếp theo thứ tự thường gặp là hạ

Na máu (22,38%), xẹp phổi (9,52%), nhiễm

trùng huyết (8,57%), suy hô hấp (4,28%), cơn

ngưng thở (3,33%), tràn khí màng phổi (0,47%)

Không có trẻ nào tử vong

Nhìn chung, các vùng phổi phải thường bị

thâm nhiễm nhiều hơn so với phổi trái, đặc biệt

là rốn và đỉnh phổi phải (44,3%)

Bảng 3: Phân bố số biến chứng ở trẻ VTPQ nặng

Tràn khí màng phổi

Bảng 4:Tỉ suất hiện mắc từng biến chứng

Bảng 5: Phân bố vị trí viêm phổi

Số lượng biến chứng Tỷ lệ (%)

Mối tương quan giữa biến chứng thường gặp nhất với các YTNC

Viêm phổi là biến chứng thường gặp nhất ở trẻ VTPQ nặng nên sẽ được đưa vào phương trình hồi qui logistic đa biến với các YTNC nhằm khảo sát mối tương quan có thể có Kết quả phân tích đa biến cho thấy chỉ có giới tính nam và tiền căn sanh non dưới 34 tuần là thật

sự có ý nghĩa thống kê (p< 0,05) và có tương quan mạnh mẽ với Viêm phổi Chỉ số OR tính được cho giới tính nam là 2,05 (p= 0,018) và tiền căn sanh non là 3,83 (p=0,030)

Bảng 6: Phân tích hồi qui logistic đa biến giữa viêm

phổi với các YTNC

Bảng 7: Chỉ số OR của viêm phổi với giới và sanh

non

Sanh non < 34

BÀN LUẬN

Sau khảo sát 210 trẻ bị VTPQ nặng nhập phòng cấp cứu khoa Hô hấp BV.NĐ1, chúng tôi ghi nhận có 137/210 trẻ bị biến chứng, chiếm tỉ

lệ 65,2% Trong đó đa số trẻ chỉ mắc 1 biến chứng là 90/210, chiếm tỉ lệ 42,86% Số trẻ mắc 2 biến chứng là 36/210, chiếm tỉ lệ 17,14% Số trẻ mắc 3 biến chứng trở lên chiếm tỉ lệ thấp 11/210 (5,24%)

Như vậy, tỉ lệ trẻ bị biến chứngcủa chúng tôi (65,2%) cao hơn hẳn nghiên cứu của Phạm Thị Minh Hồng (16,1%) do đối tượng trong

Trang 6

nghiên cứu của chúng tôi là trẻ bị VTPQ nặng,

và nhiều trẻ có thêm YTNC đi kèm(12) Tỉ lệ biến

chứng của chúng tôi lại thấp hơn so với Willson

(79%) vì chúng tôi không thể khảo sát được tất

cả các biến chứng khác của VTPQ như hội

chứng tăng tiết ADH không thích hợp, bệnh lí

não(21)

Viêm phổi do vi khuẩn là biến chứng

thường gặp nhất trong nghiên cứu của chúng

tôi (46,1%), chủ yếu do nhiễm trùng bệnh viện

Các vùng phổi phải thường bị thâm nhiễm

nhiều hơn so với phổi trái, đặc biệt là rốn và

đỉnh phổi phải (44,3%) Tỉ lệ cấy đàm dương

tính thấp, các tác nhân thường gặp là Klebsiella

spp., Morganella morganii

Tỉ lệ viêm phổi dao động khá nhiều so với

các nghiên cứu (7,6-43,9%) Có thể thấy, tỉ lệ

viêm phổi của chúng tôi cao hơn hẳn so với

Phạm Thị Minh Hồng (15,75%), Willson

(7,6%), Kanai (16,1%) và chỉ tương đồng với

các nghiên cứu trên đối tượng trẻ nhũ nhi

nhập khoa ICU ở các nước phát triển (42,4-

43,95%)(5,7,12,18,21) Ngoài sự khác biệt gây ra do

đối tượng nghiên cứu khác nhau, thì yếu tố

chính đưa tới những kết luận khác nhau này

là qui ước viêm phổi ở các nghiên cứu chưa

có sự thống nhất Rõ ràng nếu chỉ dựa vào XQ

phổi thì không thể phân biệt được viêm phổi

do vi khuẩn hay viêm phổi do virus(10) Do đó,

một số nghiên cứu yêu cầu phải có bằng

chứng vi sinh, nhưng không phải phòng xét

nghiệm nào cũng đủ khả năng Vì vậy, việc

khởi động kháng sinh sớm dựa vào các dấu

hiệu nặng trên lâm sàng và bằng chứng thâm

nhiễm trên XQ vẫn có thể chấp nhận được(23)

Như vậy, ở các nước phát triển, viêm phổi là

biến chứng không thường gặp trên các trẻ bị

VTPQ thông thường và có điều kiện chăm sóc,

cách ly tốt Nhưng tại các nước đang phát triển

như Việt Nam, trong điều kiện quá tải của các

bệnh viện thì viêm phổi là biến chứng hàng đầu

cần được lưu tâm trên các trẻ VTPQ, đặc biệt là

các trẻ VTPQ nặng Do đó, viêm phổicần được

khảo sát kĩ lưỡng hơn về đặc điểm, và tương quan với các YTNC

Vì số lượng trẻ nam chiếm ưu thế trong nghiên cứu của chúng tôi (1,69/1), đồng thời trẻ nam lại có nguy cơ tử vong cao hơn so với trẻ

nữ(8) Nên để kiểm soát ảnh hưởng của giới tính lên giá trị thực của tương quan, chúng tôi đưa thêm vào mô hình hồi qui đa biến biến số giới tính.Sau khi khảo sát logistic đa biến, đa phần các YTNC đều không có tương quan và bị loại khỏi mô hình, chỉ còn lại tiền căn sanh non < 34 tuần (OR= 3,83, p=0,030) và giới tính nam (OR= 2,05, p=0,018) vẫn có tương quan có ý nghĩa thống kê

Nhiều nghiên cứu đều đưa ra báo cáo sanh non là YTNC độc lập mạnh mẽ cho các biến chứng của VTPQ nói chung, đặc biệt là biến chứng về hô hấp nói riêng Nghiên cứu của Willson năm 2003 cho thấy tỉ lệ biến chứng cao hơn ở trẻ sanh non (87%), đáng chú ý là trẻ sanh non từ 33 - 35 tuần tuổi thai mắc biến chứng nhiều nhất (93%), với thời gian nằm viện dài hơn và tiêu tốn kinh phí điều trị nhiều hơn trẻ

đủ tháng (p< 0,04) Cũng theo Willson, tỉ lệ trẻ VTPQ cần thông khí cơ học cao hơn hẳn ở trẻ sanh non (28,7%), so với trẻ không có YTNC nào (9,1%, p< 0,0001)(21) Trong nghiên cứu khảo sát riêng biến chứng giảm oxy máu và suy hô hấp của Chan cùng cộng sự, kết quả cho thấy chỉ có sanh non là yếu tố nguy cơ độc lập mạnh mẽ sau khi được phân tích bằng hồi qui đa biến Cụ thể giảm oxy máu có OR = 1,17 (p<0,01), và suy

hô hấp có OR = 1,14 (p<0,02)(2)

Lí giải tại sao trẻ sanh non dễ mắc các biến chứng về hô hấp, cần xem xét nhiều đặc điểm phối hợp trên đối tượng này Bên cạnh

sự chưa trưởng thành và hoạt động kém hiệu quả của hệ thống miễn dịch, trẻ sanh non còn mang những biểu hiện chưa trưởng thành về giải phẫu và sinh lý của hệ thống hô hấp Thể tích phổi ở trẻ sinh 30 tuần chỉ khoảng 25 ml trong khi trẻ đủ tháng 150-200 ml Tương tự, phổi chỉ nặng 20-25g so với 50g ở trẻ đủ

Trang 7

nang ít hơn và đường kính phế nang hẹp hơn

32 µm so với 150 µm ở trẻ đủ tháng(13)

Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi về lí giải,

giới tính nam đã được y văn ghi nhận là YTNC

của VTPQ nặng(22) Trẻ nam cũng có nguy cơ

nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cao hơn trẻ nữ, và

một khi đã mắc thì nguy cơ tử vong cao hơn trẻ

nữ 1,5 lần(8)

Các biến chứng khác trong nghiên cứu có

tỉ suất hiện mắc nằm trong khoảng dao động

của các nghiên cứu trước đó trên thế giới

KÊT LUẬN

Về tỉ suất hiện mắc của các biến chứng ở

trẻ VTPQ nặng

Tỉ suất hiện mắc chung của các biến chứng

ở trẻ bị VTPQ nặng là 65,2% Đa số các trẻ mắc ít

nhất 1 biến chứng (42,86%) Số trẻ mắc 2 biến

chứng giảm hẳn (17,14%) Số trẻ mắc 3 biến

chứng trở lên chiếm tỉ lệ không đáng kể (5,24%)

Các trẻ bị VTPQ nặng thường mắc biến

chứng viêm phổi nhiều nhất (46,1%), các biến

chứng khác là hạ Na máu (22,38%), xẹp phổi

(9,52%), nhiễm trùng huyết (8,57%), suy hô hấp

(4,28%), cơn ngưng thở (3,33%), tràn khí màng

phổi (0,47%)

Không có trẻ nào tử vong

Về tương quan giữa biến chứng thường gặp

nhất với yếu tố nguy cơ:

Các bé trai có nguy cơ viêm phổi cao hơn

các bé gái 2,05 lần

Trẻ sanh non dưới 34 tuần có nguy cơ viêm

phổi cao gấp 3,83 lần so với trẻ đủ tháng hoặc

hơi non

Xin chân thành cảm ơn: Khoa hô hấp, Phòng Kế hoạch tổng

hợp, BS Trần Anh Tuấn, BS Trần Thiện Ngọc Thảo, BS Phùng

Nguyễn Thế Nguyên, BS Ngô Ngọc Quang Minh, các em sinh

viên Nguyễn Minh Châu, Chế Hoàng Thái, BS Nguyễn Trần

Quốc Việt, BS Lê Quốc Tuấn, BS Phan Quang Hiếu đã nhiệt tình

giúp đỡ tôi thực hiện bài viết này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bronchiolitis in children NICE guideline 2015

2 Chan PW, Lok FY, Khatijah SB.(2002) Risk factors for

hypoxemia and respiratory failure in respiratory syncytial

virus bronchiolitis The Southeast Asian journal of tropical medicine and public health ;33:806-10,

3 Corneli HM, Zorc JJ, Holubkov R, et al.(2012) Bronchiolitis:

clinical characteristics associated with hospitalization and length of stay Pediatric emergency care ;28:99-103

4 Deshpande SA, Northern V (2003) The clinical and health economic burden of respiratory syncytial virus disease among children under 2 years of age in a defined geographical area Arch Dis Child ;88:1065-9

5 Duttweiler L, Nadal D, Frey B (2004) Pulmonary and systemic bacterial co-infections in severe RSV bronchiolitis Arch Dis Child ;89:1155-7

6 Greenough A, Cox S, Alexander J, et al (2001) Health care

utilisation of infants with chronic lung disease, related to hospitalisation for RSV infection Arch Dis Child;85:463-8

7 Kanai H, Sato Y, Ichihashi K (2012) Hyponatremia in patients with respiratory syncytial virus bronchiolitis Pediatric health, medicine and therapeutics ;3:39-43

8 Mage DT, Donner EM (2004) The fifty percent male excess of infant respiratory mortality Acta Paediatr ;93:1210-5

9 Meissner HC (2003) Selected populations at increased risk from respiratory syncytial virus infection Pediatr Infect Dis J

;22:40-4

10 Orenstein DM Bronchiolitis (2000) Nelson textbook of Pediatrics 16th ed:991-3

11 Pelletier AJ, Mansbach JM, Camargo CA, Jr (2006) Direct medical costs of bronchiolitis hospitalizations in the United States Pediatrics ;118:2418-23

12 Phạm Thị Minh Hồng (2004) Vai trò của virus hợp bào hô hấp trong viêm tiểu phế quản ở trẻ em và các yếu tố tiên lượng Thành phố Hồ Chí Minh

13 Phạm Thị Minh Hồng (2006) Đặc điểm giải phẫu và sinh lý

hệ hô hấp trẻ em Nhi khoa chương trình đại học TP Hồ Chí Minh: NXB Y học

14 Phan Hữu Nguyệt Diễm (2006) Viêm tiểu phế quản cấp Tp

Hồ Chí Minh: NXB Y học

15 Ralston SL, Lieberthal AS, Meissner HC, et al (2014) Clinical

practice guideline: the diagnosis, management, and prevention of bronchiolitis Pediatrics ;134:e1474-502

16 Shay DK, Holman RC, Roosevelt GE, Clarke MJ, Anderson

LJ (2001) Bronchiolitis-associated mortality and estimates of respiratory syncytial virus-associated deaths among US children, 1979-1997 The Journal of infectious diseases

;183:16-22

17 Stang P, Brandenburg N, Carter B (2001) The economic burden of respiratory syncytial virus-associated bronchiolitis hospitalizations Archives of pediatrics & adolescent medicine ;155:95-6

18 Thorburn K, Harigopal S, Reddy V, Taylor N, van Saene HK (2006) High incidence of pulmonary bacterial co-infection in children with severe respiratory syncytial virus (RSV) bronchiolitis Thorax ;61:611-5

19 Trần Anh Tuấn (2006) Viêm tiểu phế quản Tp Hồ Chí Minh: NXB Y học

20 20, Welliver RC (2003) Review of epidemiology and clinical risk factors for severe respiratory syncytial virus (RSV) infection J Pediatr ;143:S112-7

21 Willson DF, Landrigan CP, Horn SD, Smout RJ (2003) Complications in infants hospitalized for bronchiolitis or respiratory syncytial virus pneumonia J Pediatr ;143:142-9

Trang 8

22 Wohl M.E.B (2006) Bronchiolitis Kendig's Disorder of the

respiratory tract in children Eighth ed Philadelphia: Elviser

Inc.:473-85

23 World Health Organization Bronchiolitis Pocket Book of

Hospital Care for Children WHO press; 2005:85-7

Ngày nhận bài báo: 01/03/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/03/2016 Ngày bài báo được đăng: 15/04/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 11:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w