1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị các tổn thương do khiếm khuyết ngang cổ tử cung

9 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 437,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khiếm khuyết ngang bờ sau vòng cổ tử cung (mức nâng đỡ DeLancey I), thường xảy ra ở nữ lúc rặn sanh qua đường âm đạo, là nguyên nhân của các tổn thương sa tạng chậu gồm sa tử cung, sa túi cùng Douglas (sa vùng đỉnh sau âm đạo), túi sa trực tràng cao (TSTT) và sa niêm trong trực tràng (SNTT). Xác định kết quả sớm và muộn của phương pháp phẫu thuật đa vùng sửa chữa các tổn thương do khiếm khuyết ngang cổ tử cung có triệu chứng.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ CÁC TỔN THƯƠNG

DO KHIẾM KHUYẾT NGANG CỔ TỬ CUNG

Nguyễn Trung Vinh*, Cao Ngọc Khánh*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Khiếm khuyết ngang bờ sau vòng cổ tử cung (mức nâng đỡ DeLancey I), thường xảy ra ở

nữ lúc rặn sanh qua đường âm đạo, là nguyên nhân của các tổn thương sa tạng chậu gồm sa tử cung, sa túi cùng Douglas (sa vùng đỉnh sau âm đạo), túi sa trực tràng cao (TSTT) và sa niêm trong trực tràng (SNTT) Triệu chứng lâm sàng chính là khối phồng nhô xuống từ vùng đỉnh sau âm đạo đi kèm với rối loạn chức năng đại tiện Ở giai đoạn đầu, triệu chứng thường là ẩn, khó phát hiện; việc chẩn đoán chính xác và đầy đủ chủ yếu dựa vào lâm sàng và cộng hưởng từ động tống phân Về điều trị, có nhiều phương pháp từ nội khoa, thủ thuật, nhưng hiệu quả nhất vẫn là phẫu thuật Để đạt kết quả dài hạn, cần phương pháp phẫu thuật đa vùng sửa chữa đồng thời các tổn thương qua cả hai ngõ âm đạo và hậu môn Cho đến nay, ở nước

ta chưa có đề tài nghiên cứu về vấn đề này - Mục tiêu: Xác định kết quả sớm và muộn của phương pháp phẫu thuật đa vùng sửa chữa các tổn thương do khiếm khuyết ngang cổ tử cung có triệu chứng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Từ 1/2012 đến 12/2016 (60 tháng), 94 bệnh nhân nữ, từ 25 đến

89 tuổi vào khoa Sàn chậu-niệu Bệnh viện Triều An TP.HCM với lý do nhập viện chính là sa sinh dục và chứng táo bón mạn tính đi kèm Xác định chẩn đoán bằng thăm khám lâm sàng và cộng hưởng từ động tống phân Chỉ định phẫu thuật gồm sa vùng đỉnh sau âm đạo + sa tử cung (phân độ theo hệ thống nửa đường Baden-Walker) và chứng táo bón mạn tính đi kèm (xác định theo các tiêu chí Rome III) Phương pháp phẫu thuật gồm: (1) qua ngõ

âm đạo: a) phẫu thuật khâu 3 - 5 điểm đỉnh, chỉ định cho TSTT cao + sa tử cung < độ 1; b) phẫu thuật đặt lưới ghép tổng hợp thành sau âm đạo, chỉ định cho TSTT cao + sa túi cùng Douglas + sa tử cung > độ 1 (2) qua ngõ hậu môn: phẫu thuật khâu treo cải biên sửa chữa sa niêm trong trực tràng điều trị táo bón mạn tính Đánh giá kết quả phẫu thuật sớm và muộn dựa trên sự cải thiện của triệu chứng lâm sàng và trên phim cộng hưởng từ động

so sánh trước và sau mổ

Kết quả: 2 nhóm phẫu thuật: a) phẫu thuật khâu 3-5 điểm đỉnh + khâu treo cải biên: 42/94 (44,2%) trường

hợp (TH); b) phẫu thuật đặt lưới ghép tổng hợp thành sau âm đạo + khâu treo cải biên: 52/94 (55,8%) trường hợp, trong đó 9 trường hợp sa mỏm cụt âm đạo độ 3 Cả 2 nhóm đều cho kết quả dài hạn cải thiện tốt triệu chứng

sa tạng chậu và táo bón là > 93% (88/94 TH), cải thiện trung bình-kém là 6 TH (16,4%) với thời gian theo dõi trung bình 36 tháng sau mổ

Kết luận: Phương pháp đa phẫu thuật sửa chữa các tổn thương do khiếm khuyết vòng cổ tử cung cho kết

quả an toàn, hiệu quả, hồi phục sớm Tỷ lệ cải thiện chung triệu chứng sau mổ là > 93% Tuy nhiên, nghiên cứu cần tiếp tục với số lượng bệnh nhân đông hơn, cần chụp lại MRI sau mổ, thiết kế nghiên cứu tiền cứu ngẫu nhiên

và theo dõi kết quả dài hạn lâu hơn

Từ khóa: khiếm khuyết ngang cổ tử cung; sa vùng đỉnh sau âm đạo; túi sa trực tràng cao; sa niêm trong

trực tràng; phẫu thuật khâu 3- 5 điểm đỉnh; phẫu thuật đặt lưới ghép tổng hợp thành sau âm đạo; phẫu thuật

khâu treo cải biên

* Khoa Sàn chậu bệnh viện Triều An TP.HCM

Trang 2

ABSTRACT

ASSESSEMENT OF SURGICAL PROCEDURES IN MANAGEMENT OF CERVICAL RING

TRANSVERSE DEFECT

Nguyen Trung Vinh, Cao Ngoc Khanh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 576 - 584

Introduction: Diagnosis and treatment of pelvic organs prolapse due to cervical ring transverse defect

including Douglas’s pouch prolapse (enterocele, sigmodoicele, peritoneocele), uterine prolapse/ vaginal cuff prolapse, high rectocele, and internal mucorectal prolapse which are a challenge of urogynecologists and pelviperineologists Because of less clinical examination in early periode, so diagnosis is difficult and depends on physical examination and dynamic MRI The symptoms consist of pelvic organs prolapse and chronic

constipations The management concept is concomitant surgery in the treatment of these defects

Methods: From Jan 2012 to Dec 2016 (60 months), 94 female patients aging from 25 to 89, committing to

pelviperineology department, Trieu An Hospital with symtoms of genital prolapse and chronic constipations Diagnosis was determined by physical examination and MRI defecography Two procedures used for the treatment of cervical ring transverse defects Assess the post-op results of clinical symptoms improvement with

mean follow-up 36 months

Results: Two surgical procedures for posterior apical vaginal prolapses due to cervical ring transverse defect

including three or five apical sutures procedure or posterior mesh colporrhaphy combined with modified lifting

handsew procedure Generally, good results with over 93% excellent outcomes

Conclusion: It’s an efficient technique with less intra and post operation complications and excellent

outcomes in the treatment of cervical ring transverse defect

Keywords: cervical ring transverse defect; posterior apical vaginal prolapse; high rectocele; internal

mucorectal prolapse; Three or five apical sutures procedure; posterior mesh colporrhaphy; modified lifting handsew procedure

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khiếm khuyết ngang cổ tử cung là nguyên

nhân của các tổn thương sa tạng chậu như sa tử

cung, sa vùng đỉnh sau âm đạo (sa túi cùng

Douglas), túi sa trực tràng cao và sa niêm trong

trực tràng Các tổn thương trên là do đầu dưới

phức hợp dây chằng chính tử cung cùng và đầu

trên vách trực tràng âm đạo tách rời khỏi chỗ

bám ở bờ sau của vòng cổ tử cung tạo thành Trừ

khi triệu chứng sa đã ở mức độ nặng (> độ 2), các

tạng sa thuộc vùng đỉnh sau âm đạo biểu hiện

rất ít triệu chứng lâm sàng, là một thách thức cho

nhà niệu dục và sàn chậu Việc chẩn đoán chủ

yếu dựa vào thăm khám lâm sàng và cộng

hưởng từ động tống phân Chỉ định phẫu thuật

gồm sa tạng chậu đi kèm rối loạn chức năng đại

tiện Về điều trị, nếu nội khoa và thủ thuật thất

bại, có nhiều phương pháp phẫu thuật, nhiều ngõ vào phẫu thuật theo nguyên tắc đa phẫu thuật đồng thời qua ngõ âm đạo sửa chữa mức nâng đỡ DeLancey I (khoang giữa) và qua ngõ hậu môn sửa chữa sa niêm trong trực tràng (khoang sau) được xem là phương pháp sửa chữa đúng các khiếm khuyết giải phẫu, từ đó phục hồi tốt các rối loạn chức năng sàn chậu Đây là vấn đề mới, không những ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới, ở nước ta rất ít đề tài nghiên cứu; do đó, chúng tôi thực hiện đề tài nhằm các mục tiêu nghiên cứu sau:

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định các biến chứng sớm và muộn của phương pháp đa phẫu thuật đồng thời qua ngõ

âm đạo và hậu môn sửa chữa khiếm khuyết ngang cổ tử cung có triệu chứng

Trang 3

Đánh giá kết quả dài hạn cải thiện triệu

chứng sa tạng chậu và táo bón

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu, mô tả loạt ca

Đối tượng nghiên cứu

Trong khoảng thời gian từ tháng 01 / 2012

đến tháng 12 / 2016 (60 tháng), tại khoa Sàn

chậu bệnh viện Triều An đã thực hiện phẫu

thuật cho 94 bệnh nhân nữ được chẩn đoán sa

tạng chậu đi kèm táo bón do nguyên nhân

khiếm khuyết ngang cổ tử cung được xác định

trên thăm khám lâm sàng và trên phim cộng

hưởng từ động tống phân(7)

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân nữ sa tạng chậu có triệu chứng,

trong đó sa tạng chậu được phân loại theo hệ

thống nửa đường Baden-Walker và chứng táo

bón mạn tính chẩn đoán theo tiêu chuẩn

ROME III(14)

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân (BN) có bệnh nội khoa nặng

không chịu được phẫu thuật (Ung thư, suy

giảm miễn dịch, xơ gan mất bù, tiểu đường đã

có biến chứng,…)

- Bệnh nhân mắc các bệnh mà có thể chứng

táo bón do ảnh hưởng của thuốc điều trị bệnh

biến dưỡng, bệnh thần kinh, bệnh toàn thân, hoặc táo bón do thuốc,…

- Loại trừ các rối loạn tiết niệu do khiếm khuyết thành trước âm đạo đi kèm

Phương pháp phẫu thuật

Phẫu thuật qua ngõ âm đạo:

Phẫu thuật khâu 3-5 điểm đỉnh (Three or five

apical sutures procedure)(1,5,12): rạch mở theo

đường dọc giữa biểu mô thành sau âm đạo, phẫu tích chủ yếu bằng tay mở rộng khoang trực tràng âm đạo ra hai bên lên đến vòm âm đạo, đến ngang mức bờ sau cổ tử cung (mức DeLancey I) Bộc lộ và xác định đầu trên mạc trực tràng âm đạo (Hình A) Tìm đầu dây chằng

tử cung cùng ở 2 bên bờ sau cổ tử cung, giữ bằng kềm Allis Kiểm tra bằng cách kéo mạnh Allis, nếu kẹp đúng, toàn thân bệnh nhân sẽ rung chuyển theo sức kéo Không mở túi sa vùng đỉnh Khâu 2 đầu dây chằng tử cung cùng vào 2

vị trí 5g và 7g ở bờ sau vòng cổ tử cung bằng chỉ không tan (Prolene 2.0), tiếp tục khâu 1 mũi chữ

U (khâu 3 điểm đỉnh) hoặc 3 mũi giữa hai điểm 5g và 7g (tùy kích thước còn lại của bờ sau cổ tử cung) cố định đầu rách trên mạc trực tràng âm đạo vào bờ sau cổ tử cung (Hình B)

Chỉ định

TSTT cao + sa tử cung < độ 1, mạc trực tràng

âm đạo còn tốt

Hình 1 Phẫu thuật khâu 3 - 5 điểm đỉnh qua ngõ âm đạo sửa chữa mức nâng đỡ DeLancey I Xác định đầu rách

trên của mạc trực tràng âm đạo; (B) phẫu thuật khâu 5 điểm đỉnh

Trang 4

Phẫu thuật đặt lưới ghép tổng hợp thành sau âm

đạo (posterior mesh colporrhaphy)(1),(8)

Rạch dọc theo đường giữa thành sau âm đạo;

bóc tách rộng khoang trực tràng âm đạo và cạnh

âm đạo lên đến vòm âm đạo; mở túi sa vùng

đỉnh sau nếu kích thước > độ 2, bộc lộ toàn bộ

khối thoát vị cho đến cổ túi thoát vị, cột cao cổ

túi thoát vị bằng chỉ không tan (soie 1.0) Sau đó,

đặt lưới ghép tổng hợp (Polypropylene type I -

Optilen mesh®) hình vạt áo với 2 chi đưa ra

phần sau của lỗ bịt theo kỹ thuật không căng (tension free technique)(9) Khâu đầu dưới của lưới ghép vào cực trên thể đáy chậu + tạo hình thể đáy chậu Đóng vết mổ bởi mũi khâu liền bằng chỉ Vicryl 2.0 Không dẫn lưu

Chỉ định: TSTT cao + sa túi cùng Douglas +

sa tử cung > độ 1, tổn thương mạc trực tràng âm đạo gần như toàn bộ

Hình 2 (A) Túi sa mỡ mạc nối vùng đỉnh sau > độ 2: mở túi sa, đẩy tạng sa trở vào ổ phúc mạc, khâu cột cao ở cổ

túi (B) Phẫu thuật đặt lưới ghép tổng hợp thành sau âm đạo, 2 chi đưa qua lỗ bịt

Phẫu thuật khâu treo cải biên qua ngõ hậu môn

(modified lifting handsew procedure)

Phẫu thuật được cải biên từ phẫu thuật khâu

treo điều trị trĩ nội (NT Vinh, 2004)(10) Đặt ống

nong tròn hậu môn (CAD 33) với miệng khoét

1/3 chu vi (độ sâu 1-2,5 cm) quay về phía thành

trước trực tràng (A) Kỹ thuật mổ khâu giáp

vòng bằng chỉ Vicryl 2.0 mũi rời chữ X, gồm 2

thì: a) khâu toàn thành (niêm và cơ) bít túi sa thành trước trực tràng từ 10g đến 2g (B, C); b) tiếp tục khâu gấp nếp niêm sa phần còn lại của

khối lồng ở thành sau trực tràng (D)

Chỉ định: Túi sa trực tràng cao kèm sa niêm

trong trực tràng có triệu chứng táo bón mạn tính

Hình 3 (A) túi sa thành trước trực tràng nhìn qua vòng nong hậu môn; (B) xác định đỉnh TSTT; (C) khâu

bít toàn thành TSTT bằng chỉ Vicyl 2.0

D

Trang 5

Đánh giá kết quả phẫu thuật

- Đánh giá sự cải thiện các triệu chứng sa

tạng chậu và táo bón sau mổ

- Đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân:

Tốt: BN hài lòng với kết quả điều trị; trung

bình: thỉnh thoảng BN phải hỗ trợ bằng thuốc

nhuận trường; kém: BN không hài lòng, phải

mổ lại

KẾT QUẢ

Đặc điểm bệnh nhân

Tuổi

Tuổi trung bình của bệnh nhân là 44 + 8,24

tuổi (từ 25 đến 89 tuổi) Phần lớn bệnh nhân nữ

trong nhóm tuổi trung niên > 40 tuổi (82,8%)

Tiền sử sản khoa sanh qua đường tự nhiên

Trung bình là 3,5 + 2,4 lần (0 - 11 lần) Trong

đó, sanh 1 lần là 5 TH và sanh > 2 lần là 89 TH

Xuất độ bệnh có khuynh hướng tăng theo số lần

sanh theo đường âm đạo

Thời gian mắc bệnh

Thời gian mắc bệnh trung bình là 6,39 + 4,52

năm (từ 1 năm đến 40 năm) Trong đó phần lớn

bệnh nhân có thời gian mắc bệnh từ 1- 9 năm là

72 bệnh nhân (76,6%); > 9 năm là 22 bệnh nhân

chiếm 23,4%

Triệu chứng sa tạng chậu

Cả 94 TH (100%) cảm giác khối phồng hoặc

sa lồi âm đạo và 88 TH (93,6%) cảm giác đè ép và

nặng vùng chậu hoặc âm đạo

Triệu chứng rối loạn đại tiện: 100% BN táo

bón chẩn đoán theo tiêu chuẩn ROME III(5,11)

Chẩn đoán Chẩn đoán sa khoang niệu dục (khoang giữa)

Chẩn đoán sa tử cung và sa mỏm cụt âm đạo (SMÂĐ), phân loại theo bảng phân loại nửa đường của Baden Walker:

Bảng 1 Phân độ sa tử cung và sa mỏm cụt âm đạo

Nhận xét: 42/94 TH (44,7%) sa tử cung độ < 1:

vách trực tràng âm đạo còn tốt, chỉ định cho

phẫu thuật khâu 3-5 điểm đỉnh; 52/94 TH (55,3%)

sa tử cung / sa mỏm cụt âm đạo > độ 2: vách trực tràng âm đạo thường đã hủy nát trong quá trình thoát vị, chỉ định phẫu thuật đặt lưới ghép tổng hợp thành sau âm đạo

Phân loại chẩn đoán các túi sa vùng đỉnh sau

âm đạo dựa trên lâm sàng và phim cộng hưởng

từ động tống phân(3)

Bảng 2 phân bố bệnh nhân theo các túi sa vùng đỉnh

sau âm đạo:

Túi sa vùng đỉnh âm đạo Số bệnh nhân %

Túi sa đại tràng sigma 3 3,2

Hình 4: Các túi sa vùng đỉnh sau âm đạo thường gặp nhất là túi sa mỡ mạc nối và túi sa ruột non (87,3%)

Các hình ảnh trên phim MRI (A,B,C) cho thấy sa tạng chậu ít khi nào sa một cơ quan đơn thuần TTST cao và SNTT là 2 tổn

thương luôn xuất hiện đồng thời ở BN nữ sa tạng chậu + táo bón

Trang 6

Sa khoang sau

Phân bố túi sa trực tràng cao

Bảng 3 Phân độ theo độ sâu (R) của túi sa trực tràng

(TSTT)

TSTT (high

recrocele)

R trên CHTĐTP Số bệnh

nhân

%

Độ 1- (nhẹ) 2 cm < R < 3

cm

24 25,5

Độ 2- (vừa) 3 cm < R < 4

cm

59 62,8

Độ 3- (nặng) 4 cm < R 11 11,7

Nhận xét: 100% TH có triệu chứng đều có

TSTT cao độ 1-3 được chẩn đoán dựa trên lâm

sàng và phim cộng hưởng từ động tống phân(11,3)

Phân bố sa niêm trong trực tràng

100% TH có sa niêm trong trực tràng độ 1, 2

được chẩn đoán qua CAD 33 trong mổ (Hình

3)(11) Tất cả đều bị táo bón mạn tính được chẩn

đoán theo tiêu chí Rome III(14)

Chỉ định và đường vào phẫu thuật:

Có 2 đường vào phẫu thuật được sử dụng

đồng thời để sửa chữa khiếm khuyết ngang cổ

tử cung:

Qua ngõ âm đạo: chỉ định phẫu thuật sửa

chữa khiếm khuyết ngang cổ tử cung được chia

làm 2 nhóm tùy thuộc vào mức độ sa của tử

cung/ SMÂĐ/ túi sa vùng đỉnh sau: a) sa tạng <

độ 1: 42/94 TH (44,7%) phẫu thuật khâu 3-5 điểm

đỉnh; b) sa tạng > độ 2: 52/94 TH (55,3%) phẫu

thuật đặt lưới ghép tổng hợp thành sau âm đạo

Qua ngõ hậu môn: tất cả 100% TH TSTT đi

kèm SNTT độ 1, 2 có triệu chứng táo bón: phẫu

thuật khâu treo cải biên (10)

Kết quả phẫu thuật

Thời gian thực hiện phẫu thuật trung bình

cho cả 2 nhóm là 42 + 8,1 phút (từ 32 đến

65 phút)

Thời gian nằm viện trung bình là 5,4 + 2,1

ngày (từ 3 đến 7 ngày)

Biến chứng

Bảng 4 Phân bố bệnh nhân theo biến chứng sau mổ

Biến chứng Số Bệnh nhân %

Thải lưới ghép do bào mòn 1/52 ca Optilen mesh® 1,9

Nhận xét: 7 TH (7,5%) có biến chứng sớm

thoáng qua hoặc điều trị nội khoa, và 1/52 TH thải mảnh ghép do bào mòn được xử lý cắt lọc, vết mổ lành tốt

Cải thiện triệu chứng sau mổ (thời gian theo dõi trung bình 36 tháng)

Triệu chứng sa tạng chậu Bảng 5 Phân bố bệnh nhân theo cải thiện triệu chứng

khối phồng âm đạo

Triệu chứng khối phồng âm đạo

Trước mổ Cải thiện sau

mổ

Tỷ lệ %

Khối phồng hoặc sa lồi vào âm đạo

Cảm giác đè ép vùng chậu hoặc âm đạo

Nhận xét: 100% TH hết sa tạng chậu, > 94 %

cải thiện cảm giác nặng vùng chậu sau mổ

Triệu chứng rối loạn đại tiện Bảng 6 Phân bố bệnh nhân cải thiện triệu chứng táo

bón sau mổ theo tiêu chí ROME III

Rối loạn đại tiện Trước

mổ

Cải thiện sau mổ

Tỷ lệ

%

Cảm giác đại tiện tắc nghẽn 94 88 93,6 Đại tiện không hết phân 94 88 93,6

Đại tiện < 3 lần/ tuần 86 82 95,3

Hỗ trợ đại tiện (bằng tay, thuốc, thụt tháo)

Nhận xét: phương pháp phẫu thuật đa vùng

sửa chữa khiếm khuyết ngang cổ tử cung và sa niêm trong trực tràng cho kết quả dài hạn cải thiện triệu chứng táo bón sau mổ lên đến > 93%

Trang 7

Mức độ hài lòng của bệnh nhân

05 TH (15,3%) kết quả trung bình do thỉnh

thoảng phải hỗ trợ đại tiện bằng thuốc nhuận

trường, trong đó 2/5 TH sau mổ sa mỏm cụt

âm đạo 01 BN (1,1%) táo bón tái phát sau 1

năm, phải mổ lại treo mỏm cụt vào ụ nhô

xương cùng

Bảng 7 Bảng phân bố sự hài lòng của bệnh nhân sau

mổ

Mức độ hài lòng Bệnh nhân %

BÀN LUẬN

Liên quan giữa sanh qua đường tự nhiên và

khiếm khuyết ngang cổ tử cung

Trong lô nghiên cứu của chúng tôi, số lần

sanh qua đường âm đạo trung bình là 3,5 + 2,4

lần (0 - 11 lần) Trong đó, sanh 1 lần là 5 bệnh

nhân (5,3%) và sanh > 2 lần là 89 bệnh nhân

(94,7%) Điều này cho thấy nữ càng sanh nhiều

theo đường âm đạo càng dễ bị sa tạng

chậu(1,5,11,13) Giải thích cơ chế sinh bệnh khiếm

khuyết ngang cổ tử cung (cervical ring

transverse defect) là do tác động của yếu tố rặn

sanh gắng sức gây chấn thương trực tiếp lên

cấu trúc bờ sau cổ tử cung(6,15), gây đứt rách một

hoặc cả hai cấu trúc: đầu bám trên của mạc trực

tràng âm đạo và/ đầu bám dưới của dây chằng

tử cung cùng Vị trí tổn thương này nằm ở

ngang mức đường kính lưỡng gai nối 2 gai tọa

là nơi hẹp nhất của khung chậu bé, được gọi là

mức nâng đỡ DeLancey I(4) Như vậy, tổn

thương xảy ra ở cả hai khoang: khoang niệu

dục và khoang hậu môn trực tràng Điều này

giải thích được vì sao cần sử dụng phẫu thuật

đa vùng trong điều trị các tổn thương do khiếm

khuyết ngang cổ tử cung

Mối tương quan giữa túi sa trực tràng, sa niêm

trong trực tràng và táo bón mạn tính

Tùy vào vị trí tổn thương của vách trực tràng

âm đạo, TSTT có thể là cao, giữa hoặc thấp(1,8)

Trước đây, nhiều tác giả cho rằng táo bón ở nữ

chủ yếu là do TSTT(1,9) Nhưng nhiều nghiên cứu gần đây chứng minh rằng bản thân TSTT không phải là nguyên nhân gây táo bón(6,15), và nếu có thì chỉ với các TSTT kích thước lớn (R > 3 cm) còn đọng phân trong thì rặn trên phim MRI và luôn

đi kèm với SNTT mới gây táo bón(5,15) Theo Lembo A (2003)(7) táo bón được chia làm 2 loại: chức năng và cơ học, trong đó táo bón cơ học có

2 loại tổn thương: giải phẫu và vật lý TSTT và SNTT là 2 tổn thương giải phẫu thường gặp nhất của chứng táo bón đại tiện tắc nghẽn (obstructed defecation syndrome) ở nữ, khác với táo bón do tổn thương vật lý thường là bất đồng vận cơ sàn chậu (thí dụ: co cơ mu trực tràng nghịch lý) Các tổn thương này ít khi nào đơn lẻ, chúng thường xuất hiện đồng thời, có TSTT thì sẽ có SNTT(8), và

là 2 tổn thương thường gặp nhất ở nữ có tiền sử sanh theo đường âm đạo, trong đó SNTT là yếu

tố tích cực góp phần gây táo bón, điều này giải thích tỷ lệ táo bón ở nữ luôn cao hơn nam(5,12) Ở phái nam không có TSTT, chỉ có SNTT gây táo bón theo cơ chế nút chặn (khối lồng sa nghẹt) Phẫu thuật STARR dùng 2 máy khâu bấm (stapler) cắt bỏ khoanh lồng để điều trị táo bón thuộc hội chứng đại tiện tắc nghẽn(2,5) nhưng phương pháp mổ này không sửa chữa được tổn thương của vách trực tràng âm đạo; vì vậy, kết quả dài hạn kém dần(5)

Trong lô nghiên cứu này, kết quả chẩn đoán thăm khám lâm sàng và cộng hưởng từ động tống phân cho thấy 94 trường hợp nhập viện vì sa tạng chậu và táo bón, tất cả (100% TH) do các nguyên nhân: sa sinh dục (sa khoang giữa) + TSTT cao đi kèm SNTT (sa khoang sau) Vì vậy, quan điểm điều trị của chuyên ngành sàn chậu học là kết hợp đa phẫu thuật đồng thời (concomitant surgery) trên một bệnh nhân để sửa chữa cùng lúc các bệnh lý của sa tạng chậu, đặc biệt ở các bệnh nhân đã cắt bỏ tử cung và bị sa mỏm cụt âm đạo 05/9 TH mỏm cụt âm đạo còn quá ngắn <

7 cm (gây trở ngại lớn trong sinh hoạt tình dục) đi kèm triệu chứng táo bón mạn tính nặng do chứng giảm nhậy cảm trực tràng

Trang 8

(rectal hyposensibility-RH), một biến chứng

thường gặp sau cắt bỏ tử cung Vì vậy, qua

công trình này chúng tôi khuyến cáo nên hạn

chế chỉ định cắt bỏ tử cung trong điều trị sa

sinh dục độ 3, 4

Với các phương pháp phẫu thuật sửa chữa

các tổn thương do khiếm khuyết ngang cổ tử

cung, chúng tôi thục hiện theo nguyên tắc mô

phỏng (cấu trúc tự thân) hoặc thay thế (lưới

ghép tổng hợp) để sửa chữa đúng các khiếm

khuyết giải phẫu nhằm phục hồi sinh lý

chức năng

Đánh giá kết quả phẫu thuật

Kết quả sớm và muộn

Với phương pháp phẫu thuật đa vùng, thời

gian thực hiện phẫu thuật trung bình là 42 + 8,1

phút (từ 32 đến 65 phút) cho việc sửa chữa các

tổn thương do khiếm khuyết ngang cổ tử cung

Lượng máu mất trong mổ rất ít (< 50 ml/TH),

không phải truyền máu, không tai biến chứng

trong mổ; vì vậy, thời gian nằm viện ngắn, trung

bình là 5,4 + 2,1 ngày (từ 3 đến 7 ngày)

Đánh giá kết quả sớm sau mổ: mổ nhanh, ít

mất máu, rất ít đau vết mổ, thời gian hồi phục

nhanh 7 TH (7,5%) có biến chứng sớm thoáng

qua hoặc điều trị nội khoa; 1/52 TH (1,9%) biến

chứng thải lưới ghép do bào mòn sau 3 tháng

được xử lý cắt lọc và khâu lại biểu mô, vết mổ

lành tốt Kết quả trung và dài hạn cải thiện tốt

100% triệu chứng sa tạng chậu và > 93% triệu

chứng táo bón mạn tính

Cải thiện triệu chứng sau mổ (thời gian theo

dõi trung bình 36 tháng)

Triệu chứng sa tạng chậu

100% không còn cảm giác khối phồng / sa lồi

âm đạo và 83/88 TH (94,32%) cải thiện cảm giác

đè ép vùng chậu hoặc âm đạo Để phẫu thuật sa

tạng niệu dục đạt kết quả dài hạn, phẫu thuật

viên cần sửa chữa cho được mức nâng đỡ

DeLancey I, đặc biệt là với các sa tạng niệu dục

nặng (độ 3, 4)

Triệu chứng rối loạn đại tiện

Phương pháp phẫu thuật đa vùng sửa chữa các tổn thương do khiếm khuyết ngang cổ tử cung và sa niêm trong trực tràng cho kết quả dài hạn cải thiện triệu chứng táo bón sau mổ lên đến

> 93,6 % đánh giá trước và sau mổ theo các tiêu chí ROME III

Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp phẫu thuật đa vùng với chỉ định và đường vào phù hợp sẽ sửa chữa tốt các khiếm khuyết cấu trúc giải phẫu từ đó phục hồi tốt được sinh lý chức năng

Mức độ hài lòng của bệnh nhân

88/94 TH (93,6%) kết quả tốt, bệnh nhân hoàn toàn hài lòng với thời gian theo dõi trung bình 36 tháng 05 TH (15,3%) kết quả trung bình

do thỉnh thoảng phải hỗ trợ đại tiện bằng thuốc nhuận trường, trong đó 2/5 TH sau mổ treo sa mỏm cụt âm đạo 01 TH SMÂĐ (1,1%) táo bón nặng tái phát sau 1 năm và không thể giao hợp, phải mổ lại treo mỏm cụt vào ụ nhô xương cùng

KẾT LUẬN

Phương pháp phẫu thuật đa vùng qua hai ngõ âm đạo và hậu môn sửa chữa các tổn thương do khiếm khuyết ngang cổ tử cung cho kết quả sớm: mổ nhanh, ít mất máu, không tai biến, rất ít đau vết mổ, thời gian hồi phục nhanh,

và kết quả dài hạn cải thiện tốt triệu chứng sau

mổ là > 93% Tuy nhiên, phẫu thuật điều trị sa mỏm cụt âm đạo vẫn có tỷ lệ tái phát Nghiên cứu cần tiếp tục với số lượng bệnh nhân đông hơn, cần nhóm chứng, chụp lại phim cộng hưởng từ động sau mổ, thiết kế nghiên cứu tiền cứu ngẫu nhiên và theo dõi kết quả dài hạn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Arnold MW, Stewart WR, Aguilar PS (1990) Rectocele repair:

four years’ experience Dis Colon Rectum, vol 33, pp 7-684

2 Boccasanta P et al (2004) Stapled Transanal Rectal Resection

for Outlet Obstruction: A Prospective Multicenter Trial Dis

Colon Rectum 24 August 2004, page 1-24

3 Comiter CV, Vasavada SP, Barbaric ZL, Gousse AE, Raz (1999) Grading pelvic prolapse and pelvic floor relaxation

using dynamic magnetic resonance imaging, Urology, vol 3,

pp 454-457

4 DeLancey JOL (1999) Structural anatomy of the posterior

Trang 9

pelvic compartment as it relates to rectocele, Am J Obstet

Gynecol, vol 180, pp 815-823

5 Kohler K et al (2012) Results in the long-term course after

stapled transanal rectal resection (STARR) Langenbecks Arch

Surg 397(5):771-8

6 Kovac SR, Zimmerman CW (2007) Advances in reconstructive

vaginal surgery, 1rst ed Lippincott Williams & Wilkins: pp

135-142

7 Lembo A and Camilleri M (2003) Current concepts Chronic

Constipation, N Engl J Med, vol 349, pp 8-1360

8 Ngô C, Villet R, Salet-Lizée D, Gadonneix P (2011) Rectocele

repair: Review and update, J Med Liban, vol 59 (2), pp

100-104

9 Nguyễn Đình Hối và cs (2005) Đánh giá kết quả phẫu thuật

điều trị chứng táo bón do túi sa trực tràng, Tạp chí Y Học TP

Hồ Chí Minh, (9), tr.10-16

10 Nguyễn Trung Vinh (2004) Phẫu thuật khâu treo trong điều

trị bệnh trĩ Tạp chí Hậu môn trực tràng học; (6), tr 33-38

11 Nguyễn Trung Vinh vcs (2015), Sàn chậu học, Nhà xuất bản y

học Lần I: pp 231-310

12 Nguyễn Trung Vinh, Cao Ngọc Khánh (2014) Phẫu thuật khâu 5 điểm đỉnh điều trị sa vùng đỉnh âm đạo Hội nghị Sản phụ khoa Việt-Pháp-Châu Á- Thái bình dương lần thứ 14, tr 103-112

13 Petros P (2007) The female pelvic floor Function, dysfunction,

and management according to the integral theory, Springer.2nd

Edition

14 Rome Foundation Appendix (2006) Rome III Diagnostic Criteria for Functional Gastrointestinal Disorders, pp 890

15 Theobald PV, Zimmerman CW, Davila GW (2011) New

Techniques in Genital Prolapse Surgery, 1st Edition Springer-

Verlag London: pp 734-748

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 23/02/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 11:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w