1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả điều trị gãy hở trần chày bằng nắn chỉnh dưới C arm và cố định ngoài Ilizarov

5 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 306,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu hồi cứu đánh giá kết quả X quang và phục hồi chức năng của điều trị gãy hở trần chày bằng phương pháp nắn và cố định bằng khung Ilizarow.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY HỞ TRẦN CHÀY

BẰNG NẮN CHỈNH DƯỚI C ARM VÀ CỐ ĐỊNH NGOÀI ILIZAROV

Trương Trí Hữu*, Huỳnh Quốc Tùng*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Điều trị gãy hở trần chày vẫn là vấn đề bàn cãi Kết hợp xương bên trong thường để lại

biến chứng về tổn thương mô mềm trầm trọng Nắn ổ gãy ít xâm nhập và cố định bằng khung Ilizarow dưới màn tăng sáng là phương pháp điều trị hữu hiệu giúp nắn chỉnh ổ gãy và cố định vững tránh làm hoại tử và nhiễm trùng mô mềm

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu đánh giá kết quả X quang và phục hồi chức năng của điều

trị gãy hở trần chày bằng phương pháp nắn và cố định bằng khung Ilizarow

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu lâm sàng 46 BN gãy hở phạm khớp trần

chày được điều trị bằng mổ nắn ít xâm nhập và cố định ngoài Ilizarov dưới C arm từ 01/01/2015 đến 31/01/2018 tại BV Chấn Thương Chỉnh TP HCM Tất cả các bệnh nhân được theo dõi trung bình 8 tháng Dấu hiệu X quang thường qui trước và sau mổ cùng với chức năng lâm sàng của khớp cổ chân theo AOFAS

đều được đánh giá

Kết quả: Có 46 BN gãy hở trần chày tổn thương mô mềm độ III theo Gustilo được điều trị bằng cố định

ngoài Ilizarov Thời gian theo dõi trung bình là 8 tháng, 100% liền xương, thời gian liền xương trung bình

là 18,2 tuần Hơn 85% phục hồi giải phẫu trần chày, Phục hồi chức năng khớp cổ chân theo AOFAS tốt trên 43 bệnh nhân Không có di chứng về chèn ép khoang Nhiễm trùng chân đinh hay gặp thường nhiễm trùng nông đáp ứng với kháng sinh, rút bất động ngoài chân đinh sẽ lành

Kết luận: Phương pháp nắn chỉnh khung Ilizarov dể điều trị gãy hở trần chày là lựa chọn từ đầu thích

hợp có tỷ lệ thành công cao ít biến chứng

Từ khóa: gãy hở trần chày, khung cố định ngoài Ilizarow

ABSTRACT

EFFECTIVE EVALUATION OF LIMITED OPEN REDUCTION AND ILIZAROV EXTERNAL FIXATION IN THE OF TREATMENT OF OPEN PLAFOND TIBIAL FRACTURES

Truong Tri Huu, Huynh Quoc Tung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 171-175

Background: The management of open plafond tibial fractures is still controversial The internal fixation

techniques are often burdened by relatively high complication rates of the soft tissue Minimally invasive reduction and Ilizarow ring fixators with fluoroscopy have been introduced as an alternative allowing immediate reduction and stabilization, avoiding necrosis and infection of the soft tissue

Objectives: The aim of this retrospective study was to analyze the radiographic and clinical outcome the

Ilizarov technique in patients with open plafond tibial fractures

Methods: A retrospective clinical analysis of open intra-articular fractures of the tibial plafond in 46 patients

from 01/01/15 to 31/01/18 in HTO Minimal invasive reduction and external Ilizarov fixation with fluoroscopy were performed All patients were followed for 8 months Pre- and post-operatively conventional radiographs and the clinical functions of the AOFAS was evaluated with protocols

*BV Chấn Thương Chỉnh Hình

Trang 2

Results: There were 46 patients of open fracture in degree III of Gustilo classification The fixator was

removed after a median period of 18 weeks The radiological results were good in 85% of all patients clinical functions of the AOFAS showed satisfactory results in 43 patients No patient developed complication of compartment syndrome Pin infections were frequent, but they were mostly superficial and were treated with antibiotics and the removal of infectious pins help the wound healing

Conclusions: The Ilizarov method in open plafond tibial fractures allowed early definitive treatment with a

low complication rate and a good clinical outcome

Keywords: Open pilon tibial fracture, external Ilizarov fixation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo y văn thế giới, gãy trần chày chiếm

khoảng 1% tất cả các gãy xương và khoảng 10%

gãy xương chi dưới(14) Là một trong những

thách thức lớn đối với hầu hết các bác sĩ chuyên

khoa chấn thương chỉnh hình

Nguyên nhân hàng đầu của gãy trần chày

được các tác giả đề cập là tai nạn giao thông

(TNGT), tiếp theo là tai nạn lao động (TNLĐ) và

tai nạn trong hoạt động thể thao(12) Gãy trần

chày thường là hậu quả của chấn thương năng

lượng cao trực tiếp vào cổ chân hoặc do nén ép

theo chiều dọc của xương sên tác động trực tiếp

lên bề mặt của trần chày Tùy theo hướng tác

động và mức độ va đập mà tạo nên những hình

thái gãy, mức độ tổn thương mô mềm khác nhau

khác nhau

Hiện nay, chưa có hướng dẫn hay tiêu chuẩn

vàng về điều trị gãy trần chày kèm tổn thương

mô mềm trầm trọng Vẫn còn nhiều tranh cãi

trong cách tiếp cận điều trị như sử dụng phương

pháp cố định ngoài thì đầu để giữ trục xương,

chăm sóc, theo dõi phần mềm, sau đó kết hợp

xương bên trong hay kết hợp xương ngay từ lúc

đầu bằng phương pháp ít xâm lấn Theo y văn

thế giới, một số tác giả đã đưa ra kế hoạch điều

trị đối với gãy trần chày có tổn thương mô mềm

kèm theo trong đó bước xử lý ban đầu là đặt

khung cố định ngoài, có tác dụng kéo dãn tạm

thời và cố định ổ gãy(3).Việc đặt cố định ngoài

chờ cho chân bớt phù nề, vết thương gãy hở ổn

định rồi mới phẫu thuật kết hợp xương là một

lựa chọn an toàn(1), Theo Marsh(6) giải pháp này

cũng có những bất tiện: bệnh nhân không dễ chấp nhận phải phẫu thuật 2 lần, nhiễm trùng chân đinh, đặt khung cố định ngoài chờ bớt phù

nề sẽ làm tăng số ngày nằm viện và chi phí điều trị Mặc dù vậy, kỹ thuật này có tác dụng giảm đau, giảm phù nề, hạn chế được các biến chứng tại chỗ cũng như hội chứng chèn ép khoang Tại BV Chấn Thương Chỉnh Hình, kết hợp xương bằng cố định ngoài cho đến nay được xem có ưu thế lựa chọn an toàn so với các phương pháp khác trong gãy hở trần chày do có

ưu điểm có thể cố định ổ gãy vững chắc tạo điều kiện liền vết thương, liền xương và việc theo dõi

và chăm sóc vết thương dễ dàng nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể về vấn đề này

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá kết quả điều trị gãy hở trần chày có kèm tổn thương mô mềm trầm trọng bằng cố định ngoài Ilizarov

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tất cả các bệnh nhân đến khám và điều trị tại Khoa Cấp Cứu và Khoa Chi Dưới Bệnh Viện Chấn Thương Chỉnh Hình đủ các tiêu chuẩn: Tuổi đủ 16 trở lên

Gãy hở độ III trần chày tức là loại có vết thương hở thông với ổ gãy kèm tổn thương mô mềm trầm trọng được điều trị phẫu thuật bằng

cố định ngoài dạng Ilizarov

Tiêu chuẩn loại trừ

Những bệnh nhân gãy bệnh lý

Trang 3

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu hồ sơ bệnh án, khảo sát

Đặc điểm dịch tễ học, KQ X-Quang trước và sau

mổ theo tiêu chuẩn Teeny-Wiss

Phương pháp điều trị phẫu thuật gãy trần

chày bao gồm mở cắt lọc rửa sạch vết thương

khâu che xương lộ, nắn chỉnh mặt khớp xuyên

Kirschner sau đó đặt khung cố định ngoài

Ilizarow

Tái khám bệnh nhân ghi nhận: Sự liền xương

theo tiêu chuẩn của De La Caffiniere, Phục hồi

chức năng theo thang điểm AOFAS, Biến chứng

của phương pháp điều trị

Phân loại của Rüedi-Allgöwer (1979)(9)

Bảng phân loại này dựa trên mức độ di lệch

của mặt khớp và độ nát của xương gãy, gồm 3

loại xếp theo thứ tự nặng dần, những loại xếp

sau thì điều trị khó khăn hơn và tiên lượng

cũng xấu hơn

Hình 1 Phân loại gãy trần chày của Rüedi-Allgöwer

1979 (9)

Loại I: Gãy phạm khớp đầu xa xương chày

không di lệch mặt khớp

Loại II: Gãy phạm khớp đầu xa xương chày,

mặt khớp di lệch trung bình, hành xương gãy

nhiều mảnh

Loại III: Tương tự loại II nhưng gãy nát mặt khớp trần chày và hành xương

Bảng phân loại tổn thương mô mềm trong gãy kín và gãy hở của Tscherne(15) nghiên cứu hồi cứu loại gãy hở độ III, cũng tương đương với gãy hở độ III của Gustilo(4)

Tiêu chuẩn đánh giá bằng X-quang là hình ảnh cơ bản để chẩn đoán, cần phải có đủ phim X-quang bình diện trước - sau, bình diện bên và bình diện mặt CT scan nên được thực hiện cho thấy rõ vị trí, hình thái đường gãy, số lượng các mảnh vỡ, mức độ di lệch xương sên CT scan cho thấy rõ các tổn thương xương không thấy rõ trên phim X-quang

Tiêu chuẩn đánh giá phục hồi chức năng theo thang điểm AOFAS(7)

KẾT QUẢ

Tuổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của bệnh nhân nam là 44,53 và của bệnh nhân nữ là 46,25 Tuổi trung bình chung cho cả hai giới là 44,98 Lứa tuổi bị gãy trần chày chủ yếu từ 40- 50 tuổi (37%)

Giới

Trong số 46 bệnh nhân có 12 bệnh nhân nữ (26,08%) và 34 bệnh nhân nam (73,91%)

Nguyên nhân chủ yếu là do TNGT chiếm tới 76,1%; kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trong và ngoài nước

Loại gãy và tổn thương mô mềm

Qua nghiên cứu biên bản phẫu thuật, loại gãy chiếm tỉ lệ cao nhất là Rüedi II (56.51%); Bệnh nhân chủ yếu tổn thương phần mềm độ 3 theo Tscherne, rách da rộng lộ xương chiếm tỉ lệ 64,04% Số BN bị tổn thương mạch máu chính chiếm 13,04% 23,91% BN chạm thương, giập nát

cơ lan rộng

Khảo sát X-quang trước mổ, sau mổ, lần khám cuối cho thấy

Độ toác gọng chày mác: 80,43% có tăng độ rộng của khe chày sên trước mổ > 4mm 84,78% trở về bình thường sau mổ

Trang 4

Độ nghiêng xương sên: 78,3% bệnh nhân có

độ nghiêng tăng trước mổ 65,2% không còn

thay đổi độ nghiêng xương sên sau mổ

Góc chếch từ mắt cá ngoài đến mắt cá trong:

76,1% thay đổi góc chếch ở các mức độ khác

nhau trước mổ Góc chếch từ mắt cá ngoài đến

mắt cá trong: 91,3% bình thường ngay sau mổ

Di lệch 1/3 dưới xương mác, mắt cá ngoài,

mắt cá sau: Hơn 85% không còn các di lệch

sau mổ

Kết quả nắn chỉnh mặt khớp được duy trì ổn

định tại thời điểm khám cuối cho thấy độ vững

của khung Ilizarov trong điều trị gãy trần chày

Liền xương và biến chứng

100% liền xương với thời gian liền xương

trung bình 18,2 tuần Nhiễm trùng chân đinh:

21,3% bệnh nhân Co ngắn gân gót: 8,6% bệnh

nhân Can lệch: 8,6% bệnh nhân

Tại thời điểm lần khám cuối sau mổ

Điểm chức năng AOFAS loại I là 95.33 (tốt); gãy loại II là 90.42 (tốt), gãy loại III là 88.94 (khá)

BÀN LUẬN

Như vậy, có thể khẳng định, giữa thời điểm trước mổ và sau mổ, lần khám cuối Việc phẫu thuật bằng khung cố định ngoài dạng vòng Ilizarov đã đảm bảo giữ vững được kết quả nắn xương, ổn định cấu trúc giải phẫu xương giải quyết các di lệch trần chày trên phương diện hình ảnh học và đủ chống di lệch thứ phát Phẫu thuật đã đạt kết quả tốt, các di lệch đều giảm hẳn một cách có ý nghĩa thống kê so với trước mổ

(Bảng 1)

Nhìn chung, phương pháp cố định ngoài Ilizarov điều trị gãy trần chày kèm tổn thương

mô mềm trầm trọng cho kết quả khá tốt

Bảng 1 Đối chiếu kết quả điều trị trên X-quang với một số tác giả khác theo Teeny và Wiss

Bacon(1) 14 Hồi cứu Cố định ngoài qua khớp cổ

chân

Teeny Wiss Anatomic/Good: 50% Fair:

18.75% Poor: 18.75% El-Mowafi(2) 30 Hồi cứu Cố định ngoài Ilizarov Teeny Wiss Anatomic/Good: 93.3% Fair: 6.6%

Poor: 0%

Hontzsch(5) 30 Hồi cứu Cố định ngoài Ilizarov Teeny Wiss Anatomic/Good: 66.6% Fair: 20%

Poor: 13.3%

Ramos(8) 27 Hồi cứu Cố định ngoài Ilizarov Teeny Wiss Anatomic/Good: 76% Fair: 16%

Poor: 4.3%

Chúng tôi 46 Hồi cứu Cố định ngoài Ilizarov Teeny Wiss Anatomic/Good: 77.71% Fair:

11.26% 16% Poor: 11.03%

Bảng 2: So sánh điểm phục hồi chức năng AOFAS

BN

Nghiên cứu

Tiêu

Shrestha(11) 42 Hồi cứu

AOFAS

Điểm số AOFAS trung bình là 89,70

Sommer(12) 567 Hồi cứu TL/TGLX

AOFAS

Điểm số AOFAS trung bình là 85.04 Sitnik(13) 30 Hồi cứu AOFAS AOFAS là: 22 tốt

(73%), 6 khá và 2 kém

Chúng tôi 46 Hồi cứu AOFAS Loại I là 95.33; Loại

II là 90.42, Loại III là 88.94 Các biến chứng của phương pháp điều trị

bằng cố định ngoài Ilizarov này có tỷ lệ thấp, các

biến chứng xảy ra không nặng nề, không để lại

hậu quả nghiêm trọng, vì vậy có thể cho rằng

đây là một lựa chọn điều trị an toàn đối với gãy

trần chày có kèm với tình trạng tổn thương mô mềm trầm trọng

KẾT LUẬN

Phương pháp điều trị gãy hở trần chày bằng

cố định ngoài Ilizarov là lựa chọn tốt cho các phẫu thuật viên chấn thương chỉnh hình trong trường hợp có kèm vết thương mô mềm phức tạp Phương pháp này khá an toàn, hiệu quả, đạt kết quả điều trị tốt khi so sánh với các phương pháp khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bacon S (2008) A retrospective analysis of comminuted intra-articular fractures of the tibial plafond: open reduction and

internal fixation versus external Ilizarov fixation Injury, Vol

39(2): pp 196-202

Trang 5

2 El-Mowafi H (2015) The management of tibial pilon fractures

with the Ilizarov fixator: The role of ankle arthroscopy Foot

(Edinb), Vol 25(4): pp 238-243

3 Endres T (2004) Advantages of minimally-invasive reposition,

retention, and Ilizarov-(hybrid) fixation for

pilon-tibial-fractures pilon-tibial-fractures with particular emphasis on C2/C3

fractures Der Unfallchirurg, Vol 107(4), pp 273-284

4 Gustilo RB, Anderson JT (1976) Prevention of infection in the

treatment of one thousand and twenty-five open fractures of

long bones: retrospective and prospective analyses J Bone Joint

Surg Am, Vol 58, pp 453–458

5 Hontzsch D (1990) One- or two-step management (with

external fixator) of severe pilon-tibial fractures Aktuelle

Traumatol, Vol 20(4): pp 199-204

6 Marsh JL (2013) Tibial plafond fractures How do these ankles

function over time? J Bone Joint Surg Am, Vol 85-a(2): p 287-95

7 Pinsker E (2011) AOFAS position statement regarding the

future of the AOFAS Clinical Rating Systems Foot Ankle Int,

Vol 32, pp 841–842

8 Ramos T (2013) Treatment of distal tibial fractures with the

Ilizarov external fixator a prospective observational study in

39 consecutive patients BMC Musculoskelet Disord, Vol 14: pp

30-35

9 Ruedi TP and M Allgower (1979) The operative treatment of

intra-articular fractures of the lower end of the tibia Clin

Orthop Relat Res, Vol138, pp 105-110

10 Saltzman CL (2005) Epidemiology of ankle arthritis: report of a consecutive series of 639 patients from a tertiary orthopaedic

center The Iowa orthopaedic journal, Vol 25:.pp 44- 49

11 Shrestha D (2011) Minimally invasive plate osteosynthesis with locking compression plate for distal diametaphyseal tibia

fracture Kathmandu Univ Med J (KUMJ), Vol 9(34): pp 62-68

12 Sommer C (2017) Quality of fracture reduction assessed by radiological parameters and its influence on functional results

in patients with pilon fractures-A prospective multicentre

study Injury, Vol 48(12): pp 2853-2863

13 Sitnik A (2017) Intra-articular fractures of the distal tibia:

Current concepts of management EFORT Open Rev, Vol 2(8):

pp 352-361

14 Tornetta P (1996) Axial computed tomography of pilon

fractures Clin Orthop Relat Res, Vol 323, pp 273-276

15 Tscherne H, Oestern HJ (1982) A new classification of soft-tissue damage in open and closed fractures (author’s transl) [in

German] Unfallheilkunde Vol 85, pp 111–115

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 07/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 11:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w