1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Sinh học: Nghiên cứu, đánh giá nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Vườn Quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa, đề xuất các biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý

27 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 522,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá về tính đa dạng và giá trị sử dụng của các loài thực vật chứa tinh dầu tại Vườn Quốc gia (VQG) Bến En, tỉnh Thanh Hóa. Xác định được hàm lượng và thành phần tinh dầu của một số loài thực vật. Xác định được hoạt tính kháng muỗi và kháng vi sinh vật kiểm định của tinh dầu loài Gừng gió (Zingiber zerumbet (L.) Smith). Đề xuất được các biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý các loài cây có tinh dầu ở VQG Bến En, tỉnh Thanh Hóa.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ

CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HOÀNG VĂN CHÍNH

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ NGUỒN TÀI NGUYÊN THỰC VẬT CÓ TINH DẦU Ở VƯỜN QUỐC GIA BẾN EN, TỈNH THANH HÓA, ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC HỢP LÝ

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Trang 2

Luận án được hoàn thành tại Học viện Khoa học và Công nghệ -

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS TS Trần Minh Hợi

Người hướng dẫn khoa học 2: TS Đỗ Ngọc Đài

Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia Việt Nam,

Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Nằm ở Khu vực nhiệt đới gió mùa, lại rất đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trưng khí hậu khác nhau giữa các miền, đặc điểm đó

là cơ sở rất thuận lợi để giới sinh vật phát triển đa dạng về thành phần loài, phong phú về số lượng, Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về sự

đa dạng tài nguyên sinh vật Trong “Thực vật chí đại cương Đông Dương”

và các tập bổ sung tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng trên 240 họ với khoảng trên 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật đã dự đoán con số đó có thể lên tới 15.000 loài Hiện nay đã thống kê được khoảng 13.000 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có khoảng 660 loài thực vật có tinh dầu (chiếm khoảng 6,3% tổng số loài đã biết) là những cây cho tinh dầu Các loài thực vật chứa tinh dầu đã biết thuộc

về 357 chi (chiếm khoảng 15,8% tổng số chi) và 114 họ thực vật có mạch (chiếm khoảng 37,8% số họ) trong Hệ thực vật Việt Nam Các họ giàu chi

và loài chứa tinh dầu là: Cúc (Asteraceae), Gừng (Zingiberaceae), Cam (Rutaceae), Bạc hà (Lamiaceae), Long não (Lauraceae), Hoa tán (Apiaceae), Sim (Myrtaceae)…

Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu tìm hiểu và sử dụng các hợp chất

có nguồn gốc thiên nhiên càng lớn Trong số các nhóm thực vật thì nhóm cây chứa tinh dầu chiếm vị trí quan trọng Đây là nguồn nguyên liệu thiết yếu của nhiều ngành công nghiệp như mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm

Vườn Quốc gia (VQG) Bến En nằm ở phía Tây Bắc huyện Như Thanh, cách thành phố Thanh Hoá khoảng 46 km về phía Tây nam có toạ độ địa lý

từ 19028’ đến 19039’ độ vĩ Bắc; 105020’ đến 105035’ kinh độ Đông Tổng diện tích tự nhiên của Vườn là 16.634 ha, gồm 16 tiểu khu, hồ sông Mực và khu núi Đá Hải Vân, Sông Chàng

VQG Bến En bao gồm các kiểu địa hình đồi, núi, sông, hồ xen kẽ nhau Trung tâm là hồ sông Mực với hệ thống các đảo nổi còn rừng bao phủ và nhiều chi nhánh lan toả được bao bọc bởi các kiểu địa hình núi đá xen kẽ núi đất Đỉnh núi cao nhất là Núi Đàm cao 497m Các đỉnh núi khác còn lại cao từ 300-350m, độ dốc trung bình từ 250-300 có nơi dốc trên 350 Kiểu địa hình này khá hiểm trở, độ dốc lớn, bên trong là các dãy núi đá vôi có nhiều hang động và rừng bao phủ Tại Vườn Quốc gia Bến En có nhiều loài

cây cho tinh dầu quý như Re hương (Cinnamomum parthenoxylon Meisn.),

Vù hương (C balansae H Lecomte), Quế thanh (C loureiroi (L.) Presl), Sả (Citronella spp.), Lá khôi (Ardisia silvestris Pitard), Thanh hao hoa vàng (Artemisia annua L.), Húng chanh (Plectranthus aromaticum Benth.)

Trang 4

Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu về hệ thực vật ở đây của Đỗ Ngọc Đài và cs (2007), Hoàng Văn Sâm và cs (2008), VQG Bến En (2013)

Về cây tinh dầu, chỉ có mô ̣t số nghiên cứu đơn lẻ về thành phần hóa ho ̣c và khả năng kháng khuẩn ở mô ̣t số loài của các tác giả như Đỗ Ngọc Đài, Nguyễn Anh Dũng, Ngô Xuân Lương Như vậy, các tác giả chỉ công bố ở những khía cạnh khác nhau còn nghiên cứu chuyên sâu thì chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu ở đây

Chính vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Nghiên cứu, đánh giá nguồn

tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Vườn Quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa, đề xuất các biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý” vừa có ý nghĩa

khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn

2 Mục tiêu của đề tài

- Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá về tính đa dạng và giá trị sử dụng của các loài thực vật chứa tinh dầu tại Vườn Quốc gia (VQG) Bến En, tỉnh Thanh Hóa

- Xác định được hàm lượng và thành phần tinh dầu của một số loài thực vật

- Xác định được hoạt tính kháng muỗi và kháng vi sinh vật kiểm định

của tinh dầu loài Gừng gió (Zingiber zerumbet (L.) Smith)

- Đề xuất được các biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý các loài cây

có tinh dầu ở VQG Bến En, tỉnh Thanh Hóa

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học

+ Bổ sung dẫn liệu mới, tương đối đầy đủ về đa dạng thực vật có tinh

dầu ở VQG Bến En, tỉnh Thanh Hóa

+ Cung cấp dẫn liệu mới về hàm lượng, thành phần hóa học tinh dầu

ở các bộ phận lá, thân, rễ, vỏ, quả của 33 mẫu thuộc 19 loài Trong đó lần đầu tiên cung cấp những dẫn liệu về tinh dầu của 6 loài

- Cung cấp dẫn liệu mới về hoạt tính kháng muỗi và kháng vi sinh vật

kiểm định của tinh dầu ở thân rễ Gừng gió (Zingiber zerumbet (L.) Smith)

- Ý nghĩa về thực tiễn

+ Trên cơ sở luận cứ khoa học thu được, cũng như kết quả đề xuất các giải pháp bảo tồn và khai thác hợp lí củ a luâ ̣n án sẽ giúp các nhà quản lý xây dựng chiến lược bảo tồn các loài thực vật có tinh dầu tại VQG Bến En

+ Danh lục các loài cây tinh dầu có giá trị sử dụng sẽ hỗ trợ cho viê ̣c

đi ̣nh hướng quản lý, khai thác hợp lý và phát triển bền vững trong tương lai

Trang 5

4 Bố cục của luận án

Luận án gồm 168 trang; ngoài phần Mở đầu; Kết luận và kiến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục; Luận án gồm các chương sau:

Chương 1 Tổng quan tài liệu: 30 trang

Chương 2 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu: 7 trang Chương 3 Kết quả nghiên cứu và Thảo luận: 102 trang

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Vài nét chung về tinh dầu

1.1.1 Khái niệm cây tinh dầu

Cây tinh dầu là những cây có chứa cấu trúc chuyên biệt làm nhiệm vụ tiết và tích lũy tinh dầu

1.1.2 Tính chất và thành phần hóa học của tinh dầu

Tinh dầu là những hỗn hợp của các hợp chất hữu cơ, có cấu tạo phân

tử phức tạp, không tan trong nước, dễ bay hơi và có mùi thơm đặc trưng

1.1.3 Trạng thái tự nhiên và phân bố

- Trong cây tinh dầu ở trạng thái tiềm tàng hay tự do, có thể có mặt ở tất cả các bộ phận hoặc chỉ tập trung ở một hay một vài bộ phận

- Về phân bố, tinh dầu có trong toàn bộ giới thực vật nhưng đặc biệt

1.2 Nghiên cứu về thực vật chứa tinh dầu trên thế giới và ở Việt Nam 1.2.1 Nghiên cứu về các loài thực vật chứa tinh dầu trên thế giới

Cho tới nay chưa có đủ tài liệu để hình dung ra lịch sử của lĩnh vực nghiên cứu cây tinh dầu thế giới Tài liệu về cây tinh dầu sớm nhất hiện có được là cuốn “Những cây làm thuốc” được tìm thấy ở Nhật Bản, viết năm

890 Trong tài liệu này đã thống kê gần 100 loài cây tinh dầu, đồng thời mô

tả phương thức chế biến và sử dụng chúng

Nghiên cứu cây tinh dầu và tinh dầu đặc biệt thu hút các nhà khoa học

từ đầu thế kỷ XX; những công trình đáng lưu ý là tài liệu do Charabot và các học trò của ông công bố vào năm 1903, 1904, 1907 Vào thời gian sau này các công trình nghiên cứu tăng lên rất nhanh và thuộc nhiều lĩnh vực

Trang 6

Theo Brian M Lawrence trong công trình “Progress in essential oils” (1992-1994) và “Essential oils” (1995-2005) tác giả đã thống kê khoảng 1.000 loài thực vật chứa tinh dầu đã được phân tích thành phần hoá học trên thế giới Theo L.P.A Oyen và Nguyễn Xuân Dũng (1999) trong công trình

“Essential oil plants in South-East Asia” thì ở các nước Đông Nam Á với trên 70 loài thực vật có tinh dầu đã được phân tích về thành phần hoá học, trong đó khoảng 30 loài được nghiên cứu khá toàn diện từ đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố, khả năng gây trồng, phát triển, sử dụng, sâu bệnh, sản lượng và buôn bán đến thành phần hoá học

1.2.2 Nghiên cứu về các loài thực vật chứa tinh dầu ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu về cây tinh dầu ở Việt Nam thực sự bắt đầu

từ sau năm 1956 Trong thời gian này hàng loạt các công trình nghiên cứu

về tinh dầu Bạc hà, Sả, Màng tang,… được công bố Theo Lã Đình Mỡi và Lưu Đàm Cư (2001) thì đến nay chúng ta mới khai thác tự nhiên và đưa vào trồng được khoảng hơn 20 loài cây có tinh dầu trong khoảng hơn 600 loài

đã biết (chỉ chiếm 3% số loài cây có tinh dầu đã biết) Những loài nói trên thường là những loài được trồng khá phổ biến như Sả, Bạc hà, Hương nhu, Long não, Tràm, Quế, Húng Quế, Hồi, Hoắc hương

1.2.3 Nghiên cứu cây tinh dầu ở Thanh Hóa và Vườn Quốc gia Bến En

Nghiên cứu về cây tinh dầu ở khu vực này chỉ rải rác ở một số loài,

mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống

1.3 Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu và hoạt tính sinh học của một số họ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu và hoạt tính sinh học của một số họ thực vật trên thế giới

1.3.1.1 Họ Long não (Lauraceae)

Trên thế giới, nghiên cứu tinh dầu Họ Long não (Lauraceae) tập trung chủ yếu vào nhóm được ứng dụng làm nước hoa, dược phẩm, mỹ phẩm và khả năng kháng nấm, kháng khuẩn Các loài được nghiên cứu thường thuộc

các chi Cinnamomum, Litsea, Machilus …

1.3.1.2 Họ Cam (Rutaceae)

Hầu hết các loài trong họ Cam (Rutaceae) đều có tinh dầu hoặc hương thơm và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới về tinh dầu họ Cam (Rutaceae) Tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu chủ yếu đến năm 2018

1.3.1.3 Họ Hồ tiêu (Piperaceae)

Trang 7

Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu và hoạt tính sinh học củ a các loài trong ho ̣ Hồ tiêu

Các nghiên cứu tâ ̣p trung nhiều vào chi Piper

1.3.1.4 Họ Gừng (Zingiberaceae)

Các nghiên cứu họ Gừng trên thế giới, chủ yếu được tập trung vào các

chi Curcuma, Zingiber, Alpinia, Amomum…

1.3.2 Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu và hoạt tính sinh học của một số họ thực vật ở Việt Nam

1.3.2.1 Họ Long não (Lauraceae)

Việt Nam có 21 chi, 273 loài Các công trình nghiên cứu về tinh dầu

chủ yếu tập trung trong các chi Cinnamomum, Litsea, Machilus, Phoebe

đã nghiên cứu tinh dầu được khoảng hơn 40 loài

1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng nghiên cứu

Trang 8

1.4.5 Khí hậu

Bến En có khí hậu á nhiệt đới: Mùa đông lạnh, khô; mùa hè nóng, ẩm

1.4.6 Hiện trạng đất rừng ở Vườn Quốc gia Bến En

Diện tích đất có rừng tại VQG Bến En là 11.738,07 ha chiếm 79,66%

1.4.7 Điều kiện xã hội

Khu vực VQG Bến En có 1 thị trấn, 16 xã, 7 đơn vị quốc doanh; tổng

số dân là 41.672 người, thành phần dân tộc phức tạp,

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài thực vật có tinh dầu phân bố ở VQG Bến En, tỉnh Thanh Hóa

2.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 9 năm 2018

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Lập danh lục các loài thực vật chứa tinh dầu và đánh giá về tính đa dạng của các loài chứa tinh dầu

- Tìm hiểu về giá trị sử dụng của các loài thực vật chứa tinh dầu

- Xác định hàm lượng, thành phần hóa học tinh dầu của một số loài

- Thử hoạt tính kháng muỗi trưởng thành Aedes albopictus, ấu trùng muỗi Culex quinquefasciatus và kháng vi sinh vật kiểm định của tinh dầu loài Gừng gió (Zingiber zerumbet)

- Đề xuất các biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Kế thừa các kết quả nghiên cứu về điều kiện tự nhiên - xã hội ở khu vực nghiên cứu, các mẫu thực vật lưu giữ ở bảo tàng trong nước và nước ngoài, các công trình công bố liên quan đến đề tài luận án

2.4.2 Phương pháp điều tra thực địa

Dựa theo bản đồ chọn các tuyến điều tra chính để nghiên cứu, bao gồm

6 tuyến chính là Sông Chàng; tuyến Xuân Thái-Yên Bái; tuyến lòng hồ (Đảo thực vật và các đảo khác); tuyến Bình Lương; tuyến Xuân Hòa – Xuân Quý, tuyến Hải Vân – Tân Bình

2.4.3 Phương pháp thu mẫu và định loại

- Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận, nhất là: cành, lá, hoa và cả quả càng tốt (đối với cây lớn) hay cả cây đối với cây thân thảo

Trang 9

- Mỗi cây thu từ 3-5 mẫu còn mẫu cây thân thảo thì tìm các mẫu giống nhau và cũng thu với số lượng trên để vừa nghiên cứu các biến dạng của loài, vừa để trao đổi

- Các mẫu thu trên cùng một cây thì cùng đánh một số hiệu mẫu

- Ngoài ra còn chụp ảnh của cây bằng máy ảnh kĩ thuật số Canon Sau khi mẫu được xử lý sơ bộ ở ngoài thực địa, tiếp tục xử lý khô tại phòng mẫu thực vật của trường Đại học Hồng Đức

Các mẫu thu thập trong quá trình thực địa được mang về phân tích và

xử lý trong phòng thí nghiệm để phục vụ cho công tác nghiên cứu, lưu trữ

Ép mẫu: Trước khi sấy ép phẳng mẫu trên giấy báo dày, đảm bảo toàn

bộ phiến lá được duỗi hoàn toàn, không bị quăn mép, các bộ phận của hoa hoặc quả được mở hoặc bổ ra để tiện cho việc phân tích, ép và sấy mẫu

Sấy mẫu: Mẫu sau khi ép đã được sấy ngay

Định loại mẫu vật bằng phương pháp hình thái so sánh

Đối với các mẫu vật khó thì sử dụng phương pháp chuyên gia

Tổng số hơn 1.000 mẫu được thu và dù ng để phân tích, xác định tên khoa học Mẫu hiện được lưu trữ tại phòng mẫu Thực vật, khoa Khoa học

Tự nhiên, trường Đại học Hồng Đức

Các tài liệu chính sử dụng trong quá trình nghiên cứu, định loại là:

- Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1999 - 2003);

- Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân, 1997);

- Thực vật chí Đại cương Đông Dương (1907);

2.4.4 Phương pháp đánh giá tính đa dạng của hệ thực vật

- Đa dạng về các taxon của hệ thực vật: Theo phương pháp của

Nguyễn Nghĩa Thìn (1997)

+ Đánh giá đa dạng các taxon trong ngành (thống kê số loài, chi và họ theo từng ngành thực vật từ thấp đến cao, trên cơ sở dựa vào bảng danh lục thực vật, tính tỷ lệ % của các taxon để thấy được mức độ đa dạng của chúng)

Trang 10

+ Đánh giá đa dạng loài của các họ (xác định họ giàu loài, tính tỷ lệ %

số loài của các họ đó so với toàn bộ của hệ thực vật)

+ Đánh giá đa dạng loài của các chi (xác định chi giàu loài, tính tỷ lệ

% số loài các chi đó so với toàn bộ số loài của cả hệ thực vật)

- Đa dạng về dạng thân: Dựa vào ghi chép quá trình điều tra thực địa

cũng như các tài liệu liên quan và phân chia theo “Cây rừng Việt Nam” để thống kê, đánh giá về các dạng thân của cây chứa tinh dầu

- Đa dạng về giá trị sử dụng của hệ thực vật: Tiến hành thống kê các

loài có giá trị sử dụng từ bảng danh lục thực vật bằng các tài liệu chuyên ngành, như: “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (2012),“1900 loài cây có ích ở Việt Nam” (1993),“Danh lục các loài thực vật Việt Nam”(2003, 2005),“Cây

cỏ Việt Nam” (1999-2003),“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (2003), “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”,

- Đa dạng các loài thực vật quý hiếm và vấn đề bảo tồn: Căn cứ vào

Sách Đỏ Việt Nam (2007) và danh lục đỏ IUCN tiến hành thống kê các loài hiếm và tình trạng bảo tồn

2.4.5 Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu

2.4.5.1 Thu mẫu và chưng cất tinh dầu

Mẫu để chưng cất tinh dầu là các bộ phận riêng biệt của cây (lá, cành,

vỏ, thân khí sinh, thân rễ, hoa, quả) Mỗi mẫu thu từ 0,5-3 kg tươi Mẫu được ghi số hiệu (trùng với số hiệu mẫu để định loại) và thời gian thu Sau khi thu hái, mẫu được cắt nhỏ và chưng cất bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước có hồi lưu trong thiết bị Clevenger trong thời gian 2-4 giờ ở áp suất thường theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam (2009)

2.4.5.2 Phương pháp định lượng tinh dầu

Tinh dầu của các bộ phận khác nhau được định lượng theo phương pháp I của Dược điển Việt Nam (2009) Hàm lượng tinh dầu tươi được tính theo công thức

Hoặc theo công thức X(%) = (khi d>1)

Trong đó: a là thể tích của tinh dầu tính bằng ml

b là khối lượng của mẫu tính bằng gam

Trang 11

Tinh dầu được làm khô bằng Na2SO4 khan, đựng trong các lọ tiêu chuẩn đậy kín, bảo quản ở 0-5oC trước khi đem phân tích

2.4.5.3 Phương pháp phân tích thành phần hoá học tinh dầu

Chuẩn bị mẫu phân tích cho sắc ký khí: Hoà tan 1,5 mg tinh dầu đã được làm khô bằng Na2SO4 khan trong 1ml hexan tinh khiết loại dùng cho phân tích sắc ký

+ Sắc ký khí (GC) với đầu dò FID: Được thực hiện trên máy Agilent

Technologies HP 6890N Plus với detectơ FID, cột mao quản HP-5MS chiều dài 30 m, đường kính trong (ID) = 0,25 mm, lớp phim mỏng 0,25m với khí mang là hydro Nhiệt độ buồng bơm mẫu là 250oC Nhiệt độ Detectơ là

260oC Chương trình nhiệt độ 60oC (2 min), tăng 4oC/phút cho đến 220oC, dừng ở nhiệt độ này trong 10 phút

+ Sắc ký khí khối phổ (GC/MS): Được thực hiện trên hệ thống thiết

bị sắc ký khí khối phổ liên hợp Agilent Technologies HP 6890N/ HP 5973 MSD với cột tách và các điều kiện vận hành sắc ký như nêu ở trên và với Heli làm khí mang

Việc xác định định tính các thành phần của tinh dầu được thực hiện bằng các phương pháp sau:

- Dựa trên giá trị của chỉ số lưu giữ (Retention Index), xác định với một dãy các đồng đẳng n-alkan trong cùng một điều kiện sắc ký

- Dựa trên phổ khối lượng, so sánh với phổ khối lượng tìm thấy trong các ngân hàng dữ liệu (NIST 08 và Wiley 9th Version) hoặc so sánh với các

dữ liệu của các tài liệu tham khảo

Tỉ lệ % các thành phần trong tinh dầu được tính toán dựa trên diện tích hoặc chiều cao của pic sắc ký (detector FID) mà không sử dụng các yếu tố điều chỉnh

2.4.6 Phương pha ́ p điều tra, phỏng vấn

Để đánh giá hiê ̣n tra ̣ng quản lí, khai thác và sử du ̣ng nguồn tài nguyên thực vâ ̣t chứa tinh dầu, tiến hành điều tra, phỏng vấn trực tiếp với các đối tượng là CBQL và người dân

2.4.7 Phương pháp thử hoạt tính sinh học

Thử hoạt tính kháng muỗi: Hoạt tính kháng muỗi được xác định bằng

phương pháp Reed-Muench [164]

Muỗi trưởng thành: Aedes albopictus và Culex quinquefasciatus được

duy trì trong lồng côn trùng (40 x 40 x 40 cm) và cho ăn 10% dung dịch đường và được cho ăn máu trên chuột Trứng nở được gây ra với nước máy

Ấu trùng Aedes albopictus được nuôi trong các khay nhựa (24 × 35 × 5 cm)

Trang 12

Ấu trùng được cho ăn bánh quy chó và bột men theo tỷ lệ 3: 1 Tất cả các giai đoạn được tổ chức ở 25 ± 2 ° C, độ ẩm tương đối 65-75%, và một chu

kỳ tối 12: 12 tại Trung tâm nghiên cứu côn trùng học và ký sinh trùng, Đại học Duy Tân

Hoạt tính diệt muỗi của tinh dầu thân rễ Gừng gió (Zingiber zerumbet)

được đánh giá theo giao thức của WHO (2005) với những thay đổi nhỏ Đối với khảo nghiệm, phần tinh dầu được hòa tan trong EtOH (dung dịch gốc 1%) được đặt trong cốc 200 mL và được thêm vào nước chứa 20 ấu trùng (instar thứ tư) Với mỗi thử nghiệm, một bộ điều khiển sử dụng EtOH cũng được chạy để so sánh Tỷ lệ tử vong được ghi nhận sau 24 giờ và sau 48 giờ phơi nhiễm trong khi không bổ sung dinh dưỡng Các thí nghiệm được tiến hành 25 ± 2 ° C Mỗi thử nghiệm được tiến hành bốn lần lặp lại với các nồng

độ (70, 60, 50, 40, 30 và 25 μg / mL) Nồng độ gây chết trung bình (LC50) được xác định bằng phương pháp Reed-Muench

Thử hoạt tính kháng Vi sinh vật kiểm định

Thử hoạt tính sinh học của tinh dầu trên một số chủng vi khuẩn Gram

(+): Bacillus subtilis (ATCC 6633), Staphylococcus aureus (ATCC 13709);

vi khuẩn Gram (-): Escherichia coli (ATCC 25922), Pseudomonas

aeruginosa (ATCC 15442); nấm mốc: Aspergillus niger, Fusarium oxysporum và nấm men: Saccharomyces cerevisiae, Candida albicans

Bước 1 Thử định tính theo phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch, sử dụng khoanh giấy lọc tẩm chất thử theo nồng độ tiêu chuẩn

Các chủng vi sinh vật kiểm định gồm:

- Vi khuẩn Gr (-): E coli, P aeruginosa

- Vi khuẩn Gr (+): B subtillis, S aureus

- Nấm mốc: A niger, F oxysporum

- Nấm men: S cerevisiae, C albicans

Bước 2 Các mẫu có hoạt tính dương ở bước 1 sẽ tiến hành thử tiếp ở bước 2 để tính ra nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) theo phương pháp của Vanden Bergher và Vlietlink (1991) tiến hành trên phiến vi lượng 96 tiếng Kháng sinh kiểm định bao gồm: Ampicilin, Tetracycline, Nystatin

Mẫu có giá trị MIC50 πg/ml, được coi là dương tính kháng vi sinh vật

2.4.8 Phương pháp xử lí số liệu

Số liệu được xử lí trên phần mềm Microsoft Office Excel 2007

Trang 13

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đa dạng về nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Vườn Quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa

3.1.1 Đa dạng về bậc ngành

Kết quả điều tra, nghiên cứu các loài cây có tinh dầu ở VQG Bến En,

đã xác định được 410 loài, 180 chi và 42 họ của 2 ngành thực vật bậc cao

có mạch là Ngọc lan (Magnoliophyta) và Thông (Pinophyta) (Bảng 3.1).Trong đó, đã ghi nhận bổ sung 01 loài cho hệ thực vật Việt Nam là Tiêu bến

Tỷ lệ (%)

Sự phân bố không đều nhau của các taxon không chỉ được thể hiện giữa các ngành mà còn giữa các taxon lớp trong ngành Ngọc lan

Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) có số lượng các taxon chiếm ưu thế trên 80% tổng số họ, chi và số loài của ngành; lớp Hành (Liliopsida) với 6

họ (chiếm 13,33%); 12 chi (chiếm 6,67%) và 39 loài (chiếm 9,51%) Điều này hoàn toàn hợp lý, vì lớp Ngọc lan luôn chiếm ưu thế so với lớp Hành và phù hợp với các công trình nghiên cứu của Lã Đình Mỡi và cs (2001),

Ngày đăng: 15/01/2020, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm