1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỉ lệ rối loạn dung nạp đường huyết tại thời điểm 6 đến 12 tuần sau sinh ở các phụ nữ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện quận Thủ Đức

7 135 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 309,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định tỷ lệ rối loạn glucose huyết đói, rối loạn dung nạp glucose, đái tháo đường sau sinh 6 đến 12 tuần trên sản phụ ĐTĐTK tại bệnh viện quận Thủ Đức và một số yếu tố liên quan.

Trang 1

TỶ LỆ RỐI LOẠN DUNG NẠP ĐƯỜNG HUYẾT TẠI THỜI ĐIỂM 6 ĐẾN 12 TUẦN

SAU SINH Ở CÁC PHỤ NỮ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ

VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC

Huỳnh Thị Kim Liên*, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang**

TÓM TẮT

Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) có xu hướng ngày càng tăng trên thế giới và ở Việt Nam Đánh giá sau sinh chưa có sự thống nhất, mặc dù đa số các tổ chức hiện nay đều khuyến cáo nên thực hiện xét nghiệm 75 gram glucose – 2 giờ trong khoảng 4 đến 12 tuần

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ rối loạn glucose huyết đói, rối loạn dung nạp glucose, đái tháo đường sau sinh 6

đến 12 tuần trên sản phụ ĐTĐTK tại bệnh viện quận Thủ Đức và một số yếu tố liên quan

Phương pháp: Nghiên cứu dọc tiền cứu trên 185 thai phụ ĐTĐTK theo dõi sinh tại bệnh viện quận Thủ

Đức hội đủ các tiêu chí chọn mẫu trong thời gian từ 01/08/2017 – 30/06/2018, đồng ý tham gia nghiên cứu Được làm xét nghiệm 75 gram glucose – 2 giờ trong khoảng 6 – 12 tuần sau sinh

Kết quả: Tỷ lệ bất thường NPDNG sau sinh 6-12 tuần (ADA 2016) là 25,9% KTC 95% [19,6-32,3] với

các phân nhóm: đái tháo đường chiếm tỷ lệ là 2,7% KTC 95% [0,3-5,0]; rối loạn dung nạp glucose là 22,2% KTC 95% [16,2-28,2]; rối loạn glucose huyết đói là 4,3% KTC 95% [ 1,3-7,2] Hơn nữa, kết quả nghiên cứu có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mực đường huyết lúc đói và lúc 2 giờ ở lúc mang thai với thời điểm tương ứng sau sinh

Kết luận: nên thực hiện xét nghiệm 75 gram glucose – 2 giờ ở hậu sảu 6 – 12 tuần trên những thai phụ

ĐTĐTK

Từ khóa: đái tháo đường thai kỳ, xét nghiệm 75 gram glucose – 2 giờ

ABSTRACT

THE PREVALENCE OF ABNORMAL GLUCOSE TOLERANCE AT 6 TO 12 WEEKS POSTPARTUM AMONG WOMEN WITH GESTATIONAL DIABETES AT THU DUC DISTRICT HOSPITAL

Huynh Thi Kim Lien, Huynh Nguyen Khanh Trang

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 172 - 178

Gestational diabetes mellitus (GDM) tends to increase all over the world as well as in Viet Nam Postpartum evaluation is not uniform, although almost all recent recommendations from well known organizations are using 75-gram glucose - 2 hours test from 6 to 12 weeks of postpartum

Objectives: To determine the prevalence of abnormal glucose intolerance at 6 to 12 weeks postpartum in

women with gestational diabetes at Thu Duc District Hospital and some related factors

Method: Prospective longtitue study on 185 pregnant women with gestational diabetes The

postpartum follow-up in Thu Duc District Hospital met the sampling criteria from 01/08/2017 to 30/06/2018, agreed to participate in the study They were carried out test 75 grams of glucose - 2 hours between 6 and 12 weeks after births

Results: The prevalence of abnormal glucose tolerance at 6 - 12 weeks postpartum (ADA 2016) was 25.9%

95% CI [19.6-32.3] with subgroups: prevalence of diabetes mellitus was 2.7%; 95% CI [0.3-5.0]; glucose

Tác giả liên lạc: PGS TS Huỳnh Nguyễn Khánh Trang ĐT: 0903882015 Email: tranghnk08@gmail.com

Trang 2

tolerance disorder is 22.2% 95% CI [16.2-28.2]; perinatal hypoglycemia was 4.3% 95% CI [1.3-7.2] Moreover, this results was statistically significant relationship between fasting plasma glucose levels and at 2 hours of gestation at corresponding postpartum periods

Conclusion: Test 75 grams- 2 hours of glucose tolerance should be administered at 6 - 12 weeks postpartum

in in women with gestational diabetes

Key words: gestational diabetes mellitus, abnormal glucose tolerance

ĐẶT VẤN ĐỀ

Kết quả điều tra về các yếu tố nguy cơ của

bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm

2015, ở nhóm tuổi từ 18 - 69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ

(Đái tháo đường) toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là

3,6% Cùng với bệnh đái tháo đường, đái tháo

đường thai kỳ cũng ngày càng tăng do tuổi sanh

đẻ tăng, phụ nữ ngày càng thừa cân, béo phì và

ít vận động Tỉ lệ đái tháo đường thai kỳ thay đổi

tùy thuộc vào dân số nghiên cứu, tiêu chí chọn

mẫu, tiêu chuẩn chẩn đoán Tại Việt nam, tỉ lệ

này tăng từ 3,9% vào năm 2004(10) đến 20,9% năm

2016(11) Nếu không được chẩn đoán và điều trị

thích hợp, có thể ảnh hưởng đến tử suất và bệnh

suất của mẹ và thai nhi

Đa số các trường hợp đái tháo đường thai kỳ

(ĐTĐTK), glucose huyết sẽ trở về bình thường

sớm sau sinh, tuy nhiên một số diễn tiến về lâu

dài sẽ có nguy cơ dẫn đến ĐTĐ típ 2, hội chứng

chuyển hóa ở các bà mẹ, những trẻ sinh ra từ

những bà mẹ này có nguy cơ bị ĐTĐ và tiền

ĐTĐ khi đến tuổi trưởng thành( 7,10 )

Hak C Jang và cs (2003) ở Hàn Quốc nghiên

cứu trên 311 bệnh nhân ĐTĐTK tham gia

nghiệm pháp dung nạp glucose 75g - 2 giờ sau

sinh 6 đến 8 tuần, kết quả 38,3% bất thường

nghiệm pháp dung nạp glucose (NPDNG) trong

đó 15,1% ĐTĐ và 23,2% rối loạn dung nạp

đường(5) Jaroslaw Ogonowski và cs (2005 – 2007)

ở Ba Lan trên 318 bệnh nhân ĐTĐTK thực hiện

NPDNG 75g – 2 giờ sau sinh từ 5 đến 9 tuần Kết

quả 13,5% bất thường dung nạp glucose, trong

đó 1,3% ĐTĐ, 2,5% rối loạn đường huyết đói và

7,5% rối loạn dung nạp glucose(6) Vì vậy các tổ

chức và hội nghị về ĐTĐTK trên thế giới khuyến

cáo nên thực hiện NPDNG 6 đến 12 tuần sau

sinh nhằm phát hiện sớm những bất thường

glucose huyết sau sinh giúp điều trị sớm, dự phòng làm chậm diễn tiến ĐTĐ típ 2 và các biến chứng về sau cũng như giảm nguy cơ sẩy thai và sinh con dị tật ở những bệnh nhân ĐTĐTK khi

có thai lại(7) Tại Việt Nam, nghiên cứu của Phạm Thị Hải Châu 2012, ĐTĐTK chẩn đoán theo ADA 2010 Trong 247 trường hợp ĐTĐTK tại bệnh viện Hùng Vương test 75g glucose 6 đến 12 tuần sau sinh (WHO 2006) kết quả 33,2% bất thường NPDNG trong đó 7,7% ĐTĐ, 23,9% rối loạn dung nạp glucose, 1,6% rối loạn glucose đói(9) Bệnh viện quận Thủ Đức hằng năm có khoảng 6000 trường hợp sinh Tại viện, tầm soát

và chẩn đoán ĐTĐTK theo tiêu chuẩn của ADA

2016 đã được áp dụng trong phát đồ khám thai Bệnh viện quận Thủ Đức là một Bệnh viện Đa Khoa tại bệnh viện hiện có khoảng 3000 hồ sơ bệnh nhân ĐTĐ đang được theo dõi, có chương trình tư vấn tầm soát ĐTĐ rất hiệu quả qua phát

tờ rơi, thông tin truyền thông, câu lạc bộ ĐTĐ… tuy nhiên vấn đề tư vấn và tầm soát cho các trường hợp có ĐTĐ thai kỳ sau sinh còn bở ngỡ Với câu hỏi nghiên cứu: có bao nhiêu trường hợp bất thường nghiệm pháp dung nạp 75 gram trên thai phụ ĐTĐTK sau sinh 6 đến 12 tuần tại Bệnh viện Quận Thủ Đức và một số yếu tố nguy

cơ nào liên quan? Chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu “Tỷ lệ rối loạn dung nạp đường huyết tại thời điểm 6 đến 12 tuần sau sinh ở các phụ nữ đái tháo đường thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Quận Thủ Đức”

Nghiên cứu với mục tiêu

Xác định tỷ lệ rối loạn glucose huyết đói, rối loạn dung nạp glucose, đái tháo đường sau sinh

6 đến 12 tuần trên thai phụ ĐTĐTK tại bệnh viện quận Thủ Đức

Trang 3

Tìm mối liên quan giữa bất thường nghiệm

pháp 75 gram glucose theo tiêu chí ADA (2016),

đường huyết (ĐH) đói, ĐH 2 giờ của NPDNG

sau sinh 6 - 12 tuần trên thai phụ ĐTĐTK

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu dọc tiền cứu

Đối tượng

Thai phụ khám thai, được chẩn đoán

ĐTĐTK (ADA, 2016)(1), theo dõi sinh tại bệnh

viện quận Thủ Đức hội đủ các tiêu chí chọn mẫu

trong thời gian từ 01/08/2017 – 30/06/2018, đồng

ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn nhận bệnh

Thai phụ được chẩn đoán ĐTĐTK dựa

theo nghiệm pháp dung nạp glucose của ADA

- 2016 Thai phụ sinh tại BV Thủ Đức và đồng

ý làm nghiệm pháp 75 gram glucose sau sinh 6

đến 12 tuần

Tiêu chuẩn loại trừ

Thai phụ được chẩn đoán ĐTĐ trước khi

mang thai Thai phụ đang mắc các bệnh ảnh

hưởng đến chuyển hóa đường như cường giáp,

suy giáp, cushing, u tủy thượng thận, to đầu chi,

suy gan, suy thận hoặc đang sử dụng các thuốc

có ảnh hưởng đến chuyển hóa đường như

corticoid, salbutamol, thuốc chẹn giao cảm, lợi

tiểu nhóm thiazide Các tiêu chí này được xác

định qua hỏi tiền căn, khám lâm sàng

Cỡ mẫu

Với mục tiêu chính của nghiên cứu là xác

định tỷ lệ bất thường Nghiệm pháp 75 gram

glucose sau sinh 6 đến 12 tuần ở các bệnh nhân

ĐTĐTK tại bệnh viện Quận Thủ Đức

Cỡ mẫu theo công thức

= (

)× [ (1 − )]

= 185

Với: α mức ý nghĩa 0,05

Z(1-α/ 2)= 1,96 ở khoảng tin cậy 95%

d: sai số cho phép = 5%

Tỷ lệ bất thường nghiệm pháp dung nạp

glucose sau sinh 6 đến 12 tuần p = 14% được tham khảo từ nghiên cứu của Jaroslaw Ogonowski và cs thực hiện năm 2005 đến 2007, ở vùng Tây Bắc của Ba Lan trên 318 bệnh nhân ĐTĐTK thực hiện nghiệm pháp dung nạp 75 gram – 2 giờ sau sinh 5 đến 9 tuần, kết quả 13,5% bất thường NPDNG(6), do vậy: 1-p = 0,86

Độ chính xác tuyệt đối, d=5% Do đó cỡ mẫu

dự kiến là 185 Chọn mẫu toàn bộ cho đến khi đủ mẫu

Sử dụng phần mềm SPSS để nhập xử lý và phân tích số liệu

KẾT QUẢ

Bảng 1 Đặc điểm dịch tễ của đối tượng nghiên cứu

(n=185)

Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%)

Địa phương

Trình độ học vấn

Nghề nghiệp

Số lần sinh

Bố, mẹ, anh chị em ruột bị

ĐTĐ

Trang 4

Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%)

Bảng 2 Kết quả NPDNG sau sinh theo tiêu chí

ADA 2016

Kết quả glucose huyết Tần số Tỷ lệ KTC 95%

Bảng 3 Phân tích mối liên quan giữa quan giữa giá

trị đường huyết chẩn đoán trong thai kỳ, cân nặng

thai nhi sau sinh với ĐH đói và 2 giờ sau sinh 6-12 tuần

CĐ trong TK so với ĐH lúc

đói sau sinh

CĐ trong TK so với ĐH 2h

sau sinh

Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa

ĐH đói lúc chẩn đoán trong thai kỳ với ĐH đói

sau sinh 6 đến 12 tuần với hệ số liên quan

r=0,242 và P= 0,001 Tương tự như vậy, có mối

liên quan giữa cân nặng của thai nhi sau sinh với

ĐH đói sau sinh 6 đến 12 tuần hệ số liên quan r=

0,184 và P= 0,012

Có mối liên quan giữa ĐH 2 giờ lúc chẩn

đoán trong thai kỳ với ĐH 2h sau sinh 6 đến 12

tuần với hệ số liên quan r= 0,174 và P= 0,018

Theo phương trình hồi quy tuyến tính

Y=a+bX

Hệ số hồi quy: độ dốc của đường thẳng hồi

quy, cùng dấu với r

Ý nghiã: Nếu biến X tăng 1 đơn vị thì:

Biến Y sẽ tăng b đơn vị nếu b>0,

Biến Y sẽ giảm b đơn vị nếu b<0

Theo phương trình hồi quy tuyến tính thì giá

trị đường huyết đói lúc chẩn đoán ĐTĐTK tăng

10 mg/dL thì làm tăng đường huyết đói sau sinh

6 - 2 tuần 1,83 mg/dL Cũng như vậy, cân nặng thai nhi sau sinh tăng 1000 gr thì làm tăng đường huyết đói sau sinh 6 - 12 tuần 5 mg/dL Tương tự giá trị đường huyết 2h lúc chẩn đoán ĐTĐTK tăng 10 mg/dL thì làm tăng đường huyết 2h sau sinh 6-12 tuần 1,73 mg/dL với giá trị p<0,05 Tuổi mẹ tăng 1 tuổi thì đường huyết đói sau sinh tăng 0,44 mg/dL

BÀN LUẬN

Tương tự như ĐTĐTK, tỷ lệ bất thường NPDNG sau sinh cũng thay đổi tùy theo dân số nghiên cứu, chủng tộc, đối tượng nghiên cứu, thời điểm nghiên cứu, tiêu chí chẩn đoán Trước đây, tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường của WHO và ADA không khác nhau Tuy nhiên có khác nhau giữa tiêu chí chẩn đoán tiền đái tháo đường cụ thể là theo WHO 2006 tiêu chuẩn rối loạn ĐH đói là 110 - 125 mg/dL Theo ADA 2010 thì tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn ĐH đói là 100 -

125 mg/dL Các xu hướng chẩn đoán đái tháo đường về sau này có tiêu chí thấp hơn trước Sau

2012, thì tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường của các tổ chức lớn như WHO, ACOG, ADA có sự tương đồng Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn tiêu chí ADA 2016 để chẩn đoán đái tháo đường sau sinh(1) So với thời điểm hiện tại thì tiêu chí ADA không thay đổi gì so với năm 2016 Ngoài chẩn đoán đái tháo đường dựa vào NPDNG, còn dựa vào HbA1c, tuy nhiên xét nghiệm chẩn đoán HbA1c này đòi hỏi phải thực hiện bằng phương pháp được đăng ký bởi các tổ chức chuyên ngành và hiện nay chưa có khuyến cáo chính thống việc sử dụng HbA1c như là một xét nghiệm tầm soát trong thời gian hậu sản, vì

sự ảnh hưởng của thai và mất máu trong thời gian chu sinh, cụ thể trên số lượng hồng cầu có thể làm ảnh hưởng đến mối liên quan này Do

đó, hiện nay NPDNG 75g 2 giờ vẫn là xét nghiệm chẩn đoán tốt nhất để xác định bất thường glucose huyết sau sinh ở bệnh nhân ĐTĐTK, việc sử dụng đơn thuần glucose huyết đói, HbA1c vẫn chưa được khuyến cáo Chính vì

Trang 5

vậy, chúng tôi làm nghiệm pháp dung nạp

glucose để chẩn đoán đái tháo đường sau sinh

trong nghiên cứu này

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng

định nghĩa đái tháo đường thai kỳ là trường hợp

rối loạn dung nạp glucose được chẩn đoán đầu

tiên khi có thai, loại trừ khả năng bênh nhân đã

bị đái tháo đường trước khi mang thai theo tiêu

chuẩn của ADA 2016: Đái tháo đường thai kỳ

khi làm nghiệm pháp glucose: Đường huyết đói

≥ 5,1mmol/l (92 mg/dL) hoặc 1 giờ sau uống 75g

glucose ≥ 10,0 mmol/L (180 mg/dL) hoặc 2 giờ

sau uống 75g glucose ≥ 8,5 (153 mg/dL)

Tỷ lệ bất thường NPDNG sau sinh 6-12 tuần

theo tiêu chí ADA 2016(1) trong các bệnh nhân

ĐTĐTK tại bệnh viện quận Thủ Đức chiếm khá

cao Bất thường NPDNG chiếm tỷ lệ 25,9% KTC

95% [19,6 - 32,3] Với các phân nhóm: đái tháo

đường chiếm tỷ lệ 2,7% KTC 95% [0,3-5,0], rối

loạn dung nạp glucose chiếm tỷ lệ 22,2% KTC

95% [16,2 - 28,2], rối loạn glucose huyết đói

chiếm tỷ lệ 4,3% KTC 95% [1,3 - 7,2]

NICE khuyến cáo tầm soát 6 tuần sau sinh ở

bệnh nhân ĐTĐTK bằng glucose huyết đói đơn

thuần, không phải NPGNG So với NPDNG thì

xét nghiệm glucose huyết đói đơn thuần dễ thực

hiện, ít tốn thời gian, bệnh nhân dễ tuân thủ, tuy

nhiên thiếu độ nhạy và dễ bỏ sót các trường hợp

bất thường glucose huyết Trong nghiên cứu

này, nếu chỉ dựa vào xét nghiệm glucose huyết

đói đơn thuần (Bảng 2) sau sinh 6 - 12 tuần, chỉ

phát hiện được 1,6% trường hợp đái tháo đường

sau sinh, bỏ sót 1,1% trường hợp đái tháo đường

được chẩn đoán bằng glucose huyết 2 giờ của

NPDNG Đối với trường hợp bất thường glucose

huyết sau sinh thì glucose huyết đói chỉ chẩn

đoán được 4,3%, bỏ sót 22,2% các trường hợp bất

thường glucose huyết sau sinh Nghiên cứu của

Ngô Thị Kim Phụng ghi nhận 50% trường hợp

rối loạn dung nạp glucose có glucose huyết đói

bình thường, do đó dễ bỏ sót lớn hơn 50% phụ

nữ có những bất thường này nếu chỉ dựa vào

glucose huyết đói mà không làm NPDNG(8)

Nghiên cứu của Phạm Thị Hải Châu nếu chỉ dựa

vào xét nghiệm glucose huyết đói đơn thuần sau sinh 6-12 tuần, chỉ phát hiện được 4,45% trường hợp đái tháo đường sau sinh, bỏ sót 3,25% trường hợp đái tháo đường được chẩn đoán bằng glucose huyết 2 giờ của NPDNG Đối với bất thường glucose huyết sau sinh thì glucose huyết đói chỉ chẩn đoán được 8,5%, bỏ sót 24,7% các trường hợp bất thường glucose huyết sau sinh(9) Nghiên cứu của Shauna L và cs cho thấy nếu dựa vào xét nghiệm glucose huyết đói đơn thuần có thể bỏ sót 39% các trường hợp rối loạn dung nạp glucose hoặc đái tháo đường và 54% trường hợp đái tháo đường típ 2(2) Dữ kiện về hội nghị thế giới về ĐTĐTK lần V đã cho thấy rằng, sau sinh chỉ có 34% bệnh nhân rối loạn dung nạp glucose hoặc đái tháo đường có rối loạn đường huyết đói và 44% những bệnh nhân đái tháo đường có giá trị glucose huyết đói <100 mg/dL (<5,5 mmol/l)(3) Do đó hiện nay NPDNG vẫn được xem là tiêu chí vàng trong đánh giá tình trạng dung nạp glucose sau sinh 6 - 12 tuần

ở các bệnh nhân ĐTĐTK vì sự bỏ sót nhiều trường hợp bất thường glucose huyết sau sinh nếu chỉ xét nghiệm glucose huyết đơn thuần Sau khi phân tích hồi quy tìm mối liên quan giữa tuổi mẹ, tuổi thai tại thời điểm chẩn đoán ĐTĐTK, các giá trị đường huyết trong chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ (ĐH lúc đói, ĐH 1 giờ, ĐH 2 giờ), cân nặng thai nhi sau sinh với đường huyết đói, đường huyết 2 giờ của NPDNG sau sinh 6 - 12 tuần thì có mối liên quan

có ý nghĩa thống kê giữa ĐH đói lúc chẩn đoán trong thai kỳ với ĐH đói sau sinh 6 đến 12 tuần với hệ số liên quan r= 0,242 và P= 0,001 (Bảng 3) Tương tự như vậy, có mối liên quan giữa cân nặng của thai nhi sau sinh với ĐH đói sau sinh 6 đến 12 tuần với hệ số liên quan r= 0,184 và P= 0,012 Có mối liên quan giữa ĐH 2 giờ lúc chẩn đoán trong thai kỳ với ĐH 2h sau sinh 6 đến 12 tuần với hệ số liên quan r= 0,174 và P= 0,018, tương tự kết quả nghiên cứu của Sherita HG và cộng sự(4) Theo phương trình hồi quy tuyến tính thì giá trị đường huyết đói lúc chẩn đoán ĐTĐTK tăng 10 mg/dL thì làm tăng đường

Trang 6

huyết đói sau sinh 6 - 12 tuần 1,83 mg/dL Cũng

như vậy, cân nặng thai nhi sau sinh tăng 1000gr

thì làm tăng đường huyết đói sau sinh 6-12 tuần

5 mg/dL Tương tự giá trị đường huyết 2h lúc

chẩn đoán ĐTĐTK tăng 10mg/dL thì làm tăng

đương huyết 2h sau sinh 6 - 12 tuần 1.73 mg/dL

với giá trị p<0,05 Tuổi mẹ tăng 1 tuổi thì đường

huyết đói sau sinh tăng 0,44 mg/dL

Giá trị ĐH đói tại thời điểm chẩn đoán

ĐTĐTK là yếu tố quan trọng với bất thường

NPDNG sau sinh 6 - 12 tuần Trong nghiên cứu

trước đó của Phạm Thị Hải Châu (2012) cũng

tìm thấy điều tương tự là cứ gia tăng mỗi 12,6

mg/dL giá trị ĐH đói thì làm tăng nguy cơ bất

thường NPDNG sau sinh lên 1,8 lần (1,27-2,58)(9)

Giá trị đường huyết 2 giờ tại thời điểm

chẩn đoán ĐTĐTK Đây là yếu tố nguy cơ

quan trọng với bất thường ĐH 2 giờ của

NPDNG 6 - 12 tuần, trong đó tăng 10 mg/dL

thì làm tăng đương huyết 2h sau sinh 6-12

tuần 1.6 mg/dL tương tự trong nghiên cứu của

Phạm Thị Hải Châu (2012) trong đó giá trị

glucose huyết 2 giờ tại thời điểm chẩn đoán

ĐTĐTK cứ gia tăng mỗi 52,1 mg/dL thì làm

tăng nguy cơ dẫn đến bất thường NPDNG sau

sinh hơn 1,6 lần (1,05 - 2,46)(9) Tương tự với

nghiên cứu Jang HC và cs tại Hàn Quốc trong

phân tích đa biến cho thấy giá trị glucose

huyết 2 giờ của NPDNG tại thời điểm chẩn

đoán ĐTĐTK (p=0,004) là yếu tố dự báo của

bất thường NPDNG sau sinh 6 - 8 tuần(5)

HẠN CHẾ

Nghiên cứu chọn P= 14%, sai lệch 5%, kết

cục ghi nhận 25,9% (ước lượng sai) nên các kết

quả thống kê bị hạn chế Việc xác định các yếu tố

liên quan đến bất thường NPDNG không đủ

mạnh do không phải là nghiên cứu thử nghiệm

lâm sàng có nhóm chứng

KẾT LUẬN

Sau khi thực hiện nghiên cứu trên 185

trường hợp, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

Tỷ lệ bất thường NPDNG sau sinh 6-12

tuần (ADA 2016) ) là 25,9% KTC 95%

[19,6-32,3] với các phân nhóm: (i) Đái tháo đường chiếm tỷ lệ là 2,7% KTC 95% [0,3-5,0]; (ii) Rối loạn dung nạp glucose là 22,2% KTC 95% [16,2

- 28,2]; (iii) Rối loạn glucose huyết đói là 4,3% KTC 95% [1,3 - 7,2]

Yếu tố liên quan đến ĐH đói sau sinh đó là: tuổi mẹ, đường huyết đói lúc chẩn đoán ĐTĐTK

và cân nặng thai nhi sau sinh Trong đó thì giá trị đường huyết đói lúc chẩn đoán ĐTĐTK tăng 10 mg/dL thì làm tăng đường huyết đói sau sinh 6 -

12 tuần 1,83 mg/dL Cũng như vậy, cân nặng thai nhi sau sinh tăng 1000gr thì làm tăng đường huyết đói sau sinh 6 - 12 tuần 5 mg/dL và tuổi

mẹ tăng 1 tuổi thì đường huyết đói sau sinh tăng 0,44 mg/dL với p< 0,05 và hệ số tương quan r<0,3 Ngoài ra, yếu tố liên quan giữa đường huyết 2h của NPDNG lúc chẩn đoán ĐTĐTK có mối liên quan với bất thường đường huyết 2h của nghiệm pháp dung nạp glucose sau sinh 6 -

12 tuần Giá trị đường huyết 2h lúc chẩn đoán ĐTĐTK tăng 10mg/dL thì làm tăng đương huyết 2h sau sinh 6 - 12 tuần 1,73 mg/dL với giá trị p< 0,05 và hệ số tương quan r<0,3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 ADA (2016) "Standards of Medical Care in Diabetes 2016"

Diabetes Care Volume 39, Supplement 1, January 2016 S20 (screening) S95 (HbA1C)

2 Chaefer-Graf UM, Buchanan TA, Xiang AH et al (2002)

“Clinical predictors for a high risk for the development of diabetes mellitus in the early puerperium in women with

recent gestational diabetes mellitus” Am J Obstet Gynecol,

186:pp.751-756

3 Dodd JM, Crowther CA, Antoniou G, Baghurst P, Robinson

JS (2007) “Screening for gestational diabetes: the effect of varying blood glucose definitions in the prediction of adverse

maternal and infant health outcomes” Aust Obstet Gynecol 47,

pp 307

4 Golden SH, Bennett WL, Baptist-Roberts K et al (2009)

“Antepartum glucose tolerance test results as predictors of type 2 diabetes mellitus in women with a history of

gestational diabetes mellitus: A systematic review” Gender

Medicine, 6:pp.109- 122

5 Haak CJ, Yim CH, Han KO, Yoon HK et al “Gestational diabetes mellitus in Korea: prevalence and prediction of

glucose intolerance at early postpartum” Diabetes Research and

Clinical Practice, 61, 117-124

6 Jarosław O, Tomasz M (2009) “The prevalence of 6 weeks postpartum abnormal glucose tolerance in Caucasian women

with gestational diabetes” Diabetes Research and Clinical

Practice, 84, pp 239-244

Trang 7

7 John LK, Dang-Kilduff L, Taslimi MM (2007) “Gestational

diabetes after delivery Short-term management and

long-term risks” Diabetes Care, 30(2):pp S225-S235

8 Ngô Thị Kim Phụng (2004) "Tầm soát đái tháo đường thai kỳ

tại Quận 4, TP Hồ Chí Minh"., Luận án Tiến sĩ Y học chuyên

ngành sản phụ khoa, trang 36-46, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

9 Phạm Thị Hải Châu và Ngô Thị Kim Phụng (2012) "Tỷ lệ bất

thường nghiệm pháp dung nạp Glucose sau sanh 6 đến 12

tuần trên bệnh nhân ĐTĐTK tại BV Hùng Vương" Tạp chí Y

học TP HCM, 17(1)

10 Tô Thị Minh Nguyệt (2009) “Tỷ lệ đái tháo đường trong thai

kỳ và cá yếu tố liên quan ở những thai phụ nguy cơ cao tại

bệnh viện Từ Dũ” Y học TP Hồ Chí Minh, 13(1), trang 66-67

11 Trương Thị Quỳnh Hoa, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang (2017)

“Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và yếu tố liên quan tại bệnh

viện Đa khoa tỉnh Bình định” Y học thành phố Hồ Chí Minh, 21(S1):pp.74-79

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 06/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w