Tên tôi là: NGUYỄN ÂN THÔNGSinh viên lớp K39 Khoa Giáo dục thể chất Trường ĐHSP Hà Nội 2 Tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hứng thú học tập môn GDTC cho học sinh khố
Trang 1NGUYỄN ÂN THÔNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN GDTC CHO HỌC SINH KHỐI 11 TRƯỜNG THPT TÂN TRÀO - TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2NGUYỄN ÂN THÔNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN GDTC CHO HỌC SINH KHỐI 11 TRƯỜNG THPT TÂN TRÀO - TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành học: Giáo dục Thể chất
Cán bộ hướng dẫn:
TS Lê Trường Sơn Chấn Hải
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Tên tôi là: NGUYỄN ÂN THÔNG
Sinh viên lớp K39 Khoa Giáo dục thể chất Trường ĐHSP Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hứng thú học
tập môn GDTC cho học sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang”,
là công trình nghiên cứu của riêng tôi, đề tài không trùng với kết quả nghiêncứu của các tác giả khác Các kết quả nghiên cứu này mang tính thời sự cấpthiết đúng thực tế khách quan của trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Ân Thông
Trang 4STT Từ viết tắt Giải thích từ viết tắt
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUÁT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Khái niệm hứng thú học tập 9
1.3 Khái niệm hứng thú học môn GDTC 10
1.4 Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi học sinh THPT 15
1.5 Đặc điểm chung về hoạt động sư phạm trong lĩnh vực GDTC 17
CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 19
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3 Tổ chức nghiên cứu 24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1 Thực trạng và nguyên nhân dẫn tới thiếu hứng thú học tập môn GDTC của học sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang 25
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn GDTC cho học sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang 34
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC 50
Trang 6Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn về tinh thần và thái độ của học sinh trong giờ
GDTC (n = 390) 27Bảng 3.2 Kết quả quan sát thái độ trong giờ học GDTC của học sinh
khối 11 trường THPT Tân Trào (n = 390) 29Bảng 3.3 Thực trạng kết quả học tập giữa học kỳ 1 môn GDTC của học sinh
khối 11 trường THPT Tân Trào (n = 390) 30Bảng 3.4 Xúc cảm của học sinh khối 11 khi học môn GDTC ( n=390) 30Bảng 3.5 Sự ham thích các môn thể thao của học sinh trường THPT Tân Trào
- Tuyên Quang ( n=390) 31Bảng 3.6 Kết quả phỏng vấn về những nguyên nhân mà học sinh cho là ảnh
hưởng tới hứng thú khi học GDTC (n = 390) 33Bảng 3.7 Kết quả phỏng vấn giáo viên về các giải pháp sử dụng để nâng cao
hứng thú cho học sinh học môn GDTC (n=10) 39Bảng 3.8 Kế hoạch thực nghiệm 41Bảng 3.9 Kết quả học tập môn GDTC giữa học kỳ 1 và giữa học kỳ 2 của học
sinh khối 11 trường THPT Tân Trào (n = 390) 44Bảng 3.10 Xúc cảm của học sinh khối 11 đối với môn GDTC giữa học kỳ 1
và giữa học kỳ 2 năm học 2016 - 2017 (n = 390) 45
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời đại ngày nay, khi cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật phát triểnmạnh mẽ như vũ bão thì nhu cầu của con người ngày càng trở nên đa dạngphong phú và không ngừng vươn tới đỉnh cao Nhân loại đều hướng tới chântrời tri thức mà hạt nhân là giáo dục Ở đất nước ta hiện nay giáo dục đượcĐảng và Nhà nước coi là quốc sách hàng đầu vì nó là chìa khóa cho sự pháttriển đất nước, là công cụ trang bị cho con người bước vào cuộc sống Đối vớitoàn xã hội thì mục đích của giáo dục là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài”, còn đối với thế hệ trẻ thì giáo dục có mục đích làm cho
họ trở thành những con người có nhân cách toàn diện: “Phát triển cao về trítuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần và trong sáng về đạođức” [3] tạo nên những nhân tố mới đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, tiếnkịp với trào lưu chung của thế giới TDTT trước hết liên quan chặt chẽ với sựnghiệp đào tạo cho đất nước những con người phát triển toàn diện hợp lý.Ngay từ những ngày đầu cách mạng Tháng Tám thành công Bác Hồ đã nêu rõtầm quan trọng của TDTT đối với việc giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà,gây đời sống mới, coi đó là một trong những công tác cách mạng Bản thânBác đã nêu gương: “Tự tôi ngày nào cũng tập, tập đa dạng thích hợp với điềukiện sống và công tác suốt đời hoạt động cách mạng phong phú của mình”[7].Ngày nay, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác TDTT nóichung và GDTC trong nhà trường nói riêng, coi sức khỏe là vốn quý của conngười, là loại tài sản quốc gia vô cùng quan trọng Sự quan tâm đó được thểhiện trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạncách mạng với các yêu cầu, nhiệm vụ và tình hình cụ thể
Chỉ thị 17/CT – TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tácTDTT đến năm 2010: đẩy mạnh hoạt động Thể dục, Thể thao ở trường học,
Trang 8đảm bảo mỗi trường học đều có giáo viên thể dục chuyên trách và lớp học thểdục đúng tiêu chuẩn tạo điều kiện nâng cao chất lượng Giáo dục Thể chất.Tăng cường nhà đầu tư của Nhà nước cho lĩnh vực Thể dục, thể thao, ưu tiencho việc phát triển Thể dục, thể thao trường học, ở nông thôn và miền núi,định hướng phát triển Thể dục, thể thao… “Phát triển mạnh thể thao quầnchúng, thể thao nghiệp dư, trước hết là trong thanh niên, thiếu niên, làm tốtcông tác GDTC trong trường học” [2] và đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 2khóa VIII đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh
GD và ĐT, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển
nhanh và bền vững, về công tác GD và ĐT đã khẳng định rõ GDTC trong
trường học là cực kỳ quan trọng GDTC không chỉ tác động tích cực tới quátrình phát triển và hoàn thiện thể chất mà còn góp phần quan trọng phát triểncác phẩm chất đạo đức, nhân cách và những phẩm chất cần thiết cho cuộcsống, học tập và lao động của con người Chỉ thị số 36 - CT/TW ngày 24 -3-
1994 của Ban Bí thư TW Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thể dục thể
thao trong giai đoạn mới khẳng định: “Phát triển TDTT là bộ phận quan
trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng phát huy nhân tố con người, công tác TDTT góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao sức lao động và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang ”[1].
Hứng thú học tập như điều kiện tâm lý sư phạm nâng cao chất lượngdạy học Hứng thú học tập là yếu tố tạo ra chất lượng học tập ở mỗi ngườihọc Có hứng thú học tâp các em sẽ xây dựng được động cơ học tập, tính tựgiác, tự tin, sáng tạo, say sưa trong quá trình lĩnh hội và sự vận dụng những
Trang 9điều lĩnh hội được vào giải quyết nhiệm vụ học tập một cách linh hoạt,sáng tạo hơn, nhờ đó kết quả học tập của các em học sinh ngày càng nângcao, năng lực của học sinh từng bước được hình thành, phát triển một cáchtích cực.
Ngày nay, với quan điểm con người vừa là động lực, vừa là trung tâmcủa sự phát triển, công tác GDTC trong nhà trường đặc biệt quan trọng TheoLuật Thể dục, thể thao năm 2006 quy định về GDTC và hoạt động thể thaotrong nhà trường là chương trình bắt buộc đối với hệ thống giáo dục quốcdân, bao gồm Từ mầm non đến bậc Đại học Hệ thống chương trình GDTC ởtrường THPT hiện nay gồm các môn học bắt buộc như: Thể dục, điền kinh, vàcác môn thể thao tự chọn như bóng chuyền, bóng rổ, bóng đá, bơi với sự cốgắng khắc phục nhưng khó khăn chung và thiếu thốn về nhiều mặt, cho đếnnay công tác GDTC trong nhà trường THPT nói riêng đã thu được nhữngthành tích đáng kể về nhận thức lẫn chất lượng dạy học như đã áp dụng dạy
35 tiết mỗi kỳ, với 2 tiết/ tuần nội dung thực hành bài tập theo đúng nội dung,đúng thời gian quy định, với các hoạt động thể thao ngoại khóa, các nhàtrường đều tổ chức hội khỏe cấp trường, kiểm tra đánh giá kết quả học tập.Tuy nhiên trong những năm gần đây việc học tập môn GDTC của học sinhTHPT nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế, chưa mang được hiệu quả nhưmong muốn không ít học sinh sợ GDTC, coi GDTC là một việc mệt nhọc.Hứng thú học tập giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệuquả của quá trình học tập Việc hình thành hứng thú học tập môn GDTC sẽgóp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn này, góp phần tăngthêm lòng yêu thích, cũng như trách nhiệm của học sinh đối với việc rènluyện sức khỏe của bản thân
Đã có đề tài nghiên cứu về giải pháp hứng thú học tập môn GDTC nhưcủa sinh viên Đặng Thị Hải Yến (2011) các đề tài nghiên cứu với đối tượng
Trang 10và địa điểm khác, tuy nhiên chưa có đề tài nghiên cứu giải pháp nâng caohứng thú học tập môn GDTC cho học sinh khối 11 trường THPT Tân Trào -Tuyên Quang.
Xuất phát từ những lí do trên để tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu giải pháp nâng cao hứng thú học tập môn GDTC cho học sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang”.
* Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu giải pháp để nâng cao hứng thú học tập môn GDTC chohọc sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang Từ đó góp phần tíchcực vào việc nâng cao chất lượng học tập môn GDTC
* Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng tốt giải pháp để nâng cao hứng thú học tập môn GDTCcho học sinh khối 11 thì sẽ nâng cao được hiệu quả công tác GDTC và thểthao tại trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang một cách có hiệu quả nhất
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUÁT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm chung về hứng thú
Là một hiện tượng tâm lý phức tạp, được thể hiện khá rộng rãi trongthực tiễn cuộc sống cũng như trong các ngành khoa học, hứng thú là một vấn
đề đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Do đứng trên quan điểm
và góc độ khác nhau mà nhà khoa học có nhiều quan điểm không giống nhau
về khái niệm này
* Quan niệm của nhà tâm lý học phương tây
- Nhà tâm lý học I.Phshecbac đã coi hưng thú như một thuộc tính bẩmsinh của con người, xác định nguồn gốc sinh vật của hứng thú
- Buhlr coi hứng thú là nguồn gốc của tinh thần của tính tích cực biểu đạttài liệu và coi nó như một thuộc tính vốn có
- Một số tác giả cho rằng hứng thú như một trường hợp riêng của thiênhướng [16]
Các nhà tâm lý học phương Tây coi hứng thú như một thuộc tính sẵn cócủa con người, là thuộc tính bẩm sinh Nhưng quan niệm này mang tính duytâm phiến diện Họ đã hạ thấp vai trò của giáo dục giáo dưỡng và hoạt động
có ý thức của con người
* Quan niệm của nhà tâm lý học macxít
Theo họ thì khái niệm hứng thú không phải là cái gì trừu tượng, khôngphải là một thuộc tính có sẵn có trong nội tại của con người là kết quả của sựhình thành nhân cách, nó phản ánh một cách khách quan thái độ đang tồn tạicủa con người
- S.L.Rubinxtein coi hứng thú biểu hiện là khuynh hướng tác động mộtcách hiểu biết, có ý thức đối với khách thể mà con người định hướng vào đó
Trang 12- Có tác giả lại gắn hứng thú với nhu cầu Sbinle quan niệm: Hứng thú làkết cấu bao gồm nhiều nhu cầu Việc quy hứng thú về nhu cầu như vậy làkhông đúng vì hứng thú khác nhu cầu về vấn đề khoái cảm.
- Trong đề cương bài giảng tâm lý học trẻ em và sư phạm, các tác giả đãnêu: “Hứng thú là định hướng có lựa chọn cá nhân vào sự vật hiện tượng củathực tế xung quanh Sự định hướng đó đặc trưng bởi sự vươn lên thường trựcvới nhận thức, tới những kiến thức càng đầy đủ sâu sắc” [9]
Như vậy, khái niệm hứng thú của nhà tâm lý học macxít phản ánh nhiềuquá trình quan trọng, từ những quá trình riêng lẻ (tri giác, trí nhớ) cho tới tổhợp nhiều quá trình (nhận thức, tình cảm, ý chí) và khái niệm hứng thú rấtrộng Nhưng các quan niệm trên phần nào hạn chế, phiến diện vì đã thu hẹpkhái niệm hứng thú, quy hứng thú vào giới hạn của nhận thức hoặc tình cảm,nhu cầu… thực chất hứng thú không phải là nhu cầu hay tình cảm mà hứngthú có quan hệ chặt chẽ với các quá trình đó Người ta cho rằng hứng thú vừaliên quan tới trí thông minh, vừa với tình cảm lẫn ý trí
Tâm lý học hiện đại có khuynh hướng nghiên cứu hứng thú không táchrời toàn bộ cấu trúc tâm lý cá nhân Phân tích cấu trúc hứng thú, tiến sĩ tâm lýhọc N.G.Ma-rô-zô-va đã nêu ít nhất ba yếu tố đặc trưng cho hứng thú gồm:
- Có cảm xúc đúng đắn với hoạt động
- Có khía cạnh nhận thức của cảm xúc đó
- Có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động đó, tức là hoạtđộng tự nó lôi cuốn vì kích thích không phụ thuộc vào các động cơ khác như:tinh thần, nghĩa vụ… có thể hỗ trợ làm nảy sinh duy trì và hứng thú nhưngkhông xác định được bản chất của hứng thú
Ba thành tố trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong hứng thú cánhân, ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của hứng thú, mỗi yếu tố đó có thểnổi lên mạnh mẽ hay ít nhiều
Trang 13Qua những phân tích trên chúng ta có thể định nghĩa hứng thú như sau:Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó có khả năngmang đến cho con người những rung cảm đặc biệt đồng thời cá nhân nhậnthức được ý nghĩa của nó đối với cuộc sống.
Đặc điểm của hứng thú: Mỗi hứng thú theo nguyên tắc bao gồm hai
nhân tố đó là nhận thức và tình cảm Trong tâm lý con người, sự phát triểncủa hứng thú gắn liền với trình độ phát triển của nhận thức và tình cảm
Hứng thú của con người rất đa dạng và phức tạp cũng như hoạt độngmuôn mầu muôn vẻ của họ Dựa trên những căn cứ khác người ta có thể chiahứng thú ra nhiều loại tương ứng
- Căn cứ vào nội dung của đối tượng hưng thú và phạm vi hoạt động củahứng thú có thể chia thành:
Hứng thú vật chất: Nguyện vọng muốn có đủ chỗ ở, đủ tiện nghi, hứngthú ăn mặc…trong xã hội tư bản hứng thú vật chất chỉ mang tính chất ích kỷ,
nó trở thành ham muốn xa hoa
Hứng thú nhận tri thức: Hứng thú học tập, hứng thú khoa học có tínhchuyên môn như hứng thú toán học…
Hứng thú chính trị - xã hội: Là hứng thú với những hình thức nhất địnhcủa công tác xã hội, đặc biệt là hoạt động tổ chức, lãnh đạo, hứng thú thờicuộc…
Hứng thú thẩm mỹ: Hứng thú văn học, sân khấu, hội họa…
- Căn cứ vào chiều hướng của hứng thú, có thể chia thành hứng thú trựctiếp và hứng thú gián tiếp
Hứng thú trực tiếp: Là hứng thú với quá trình hoạt động như quá trìnhnhận thức, hẹp hơn nữa là quá trình nắm vững kiến thức, quá trình lao động
và sáng tạo
Hứng thú gián tiếp: Là hứng thú với kết quả hoạt động như muốn họcvấn, có nghề nghiệp, cương vị trong xã hội… hoặc kết quả vật chất của quátrình lao động
Trang 14Sự tương quan đúng mức giữa hứng thú trực tiếp và hứng thú gián tiếp làđiều kiện thuận lợi nhất cho động cơ tích cực của cá nhân Người ta thườngdùng hứng thú gián tiếp để kích thích hứng thú trực tiếp.
- Căn cứ vào tính bền vững của hứng thú tập luyện có hứng thú bền vững
a Vai trò của hứng thú đối với đời sống cá nhân
Hứng thú có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống, hoạt động củacon người Con người chỉ cảm thấy thoải mái vì có hứng thú Hứng thú kíchthích tính tích cực của con người Hứng thú làm tăng tính làm việc, cá nhân
có sức chịu đựng dẻo dai và làm việc một cách say sưa
Hứng thú làm tăng quá trình hiệu quả của nhận thức Vì nó quan hệ vớichú ý và tình cảm nên khi có hứng thú thì cá nhân hướng toàn bộ quá trìnhnhận thức vào đối tượng khiến quá trình đó nhạy bén và sâu sắc hơn Hứngthú làm hiệu quả nhận thức được nâng cao, con người hoạt động không thấymệt mỏi
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng để thỏa mãn hoạt động, khi đó hứngthú trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động Nhờ có hứng thú conngười nảy sinh tính cách tốt đẹp như: Kiên trì, độc lập, …
b Vai trò của hứng thú trong hoạt động thể thao
Hoạt động thể thao là một dạng hoạt động đặc biệt bởi nó đòi hỏi sựcăng thẳng về thể chất và tâm lý tối đa trong thi đấu và trong các buổi huấn
Trang 15luyện Mặt khác hoạt động thể thao mang tính tự nguyện thuần túy, hiệu quảcủa nó phụ thuộc rất nhiều vào hứng thú, sự say mê, các động cơ trực tiếp vàhoài bão của người tập.
Hứng thú thể thao có ảnh hưởng quyết định rất nhiều tới tính tích cựccủa người tập Hứng thú, sự say mê, các động cơ trực tiếp và hoài bão củangười tập Hứng thú có ảnh hưởng nhiều tới tính tích cực của người tập Hứngthú giúp cho người tập vượt qua được khó khăn thường phải gặp trong cácđiều kiện cụ thể của hoạt động thể thao và thúc đẩy họ đạt được những thànhtích thể thao cao
1.2 Khái niệm hứng thú học tập
1.2.1 Định nghĩa hứng thú học tập
Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong quá trình nhận thức và trong đời sống của cá nhân [9].
1.2.2 Các loại hứng thú học tập
a H ứn g t h ú t r ực t i ếp t r on g h o ạ t đ ộ n g h ọ c t ậ p
Hứng thú trực tiếp chủ yếu nhằm vào việc nhận thức, tiếp thu tri thứcchứa đựng trong các môn học ở trường Ngoài ra, hứng thú trực tiếp khôngchỉ nhằm vào nội dung của môn học cụ thể mà còn hướng vào quá trình đạtđược những kiến thức đó, nhằm vào hoạt động nhận thức Và trong quá trìnhhoạt động đó đã diễn ra việc vận dụng những phương pháp học tập đã tiếp thuđược, việc lĩnh hội được những phương pháp học tập mới và hoàn thiện nócũng thuộc về đối tượng của hứng thú trực tiếp
Vậy hứng thú trực tiếp trong học tập là hứng thú đối với nội dung trithức, quá trình học tập, và những phương pháp tiếp thu, vận dụng những trithức đó Nói cách khác, hứng thú trực tiếp là sự say mê hướng vào đối tượng
và cách thức chiếm lĩnh đối tượng đó
Trang 16b H ứng t h ú g i á n t i ế p trong ho ạ t đ ộ n g h ọ c t ậ p
Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập do những yếu tố bên ngoài đối tượng của hoạt động này gây nên và gián tiếp liên quan đến đối tượng ấy [9].
Hứng thú gián tiếp trong hoạt động học tập có một số đặc điểm sau:+ Nó thường hướng tới những khía cạnh bên ngoài, có liên quan đến đốitượng của hoạt động học tập (khen thưởng, điểm số)
+ Có tính chất tình huống rất rõ nét: Khi nhận được tri thức cần thiếthoặc khi đã kết thúc hành động, hứng thú cũng biết mất, các dấu hiệu của thờ
ơ lại xuất hiện (theo phong trào, ảnh hưởng của bạn bè )
+ Ít có tác dụng thúc đẩy hành động, học sinh không chú ý đến đối tượngcủa hoạt động theo sáng kiến riêng của mình
+ Không được ý thức một cách rõ ràng, học sinh không thể giải thíchđược; đó có phải là hứng thú học tập hay không? Vì sao các em lại hứng thúvới đối tượng đó?
+ Nó được xuất hiện theo những phản ứng có thể rất mạnh nhưng cũngthường rất ngắn ngủi
1.3 Khái niệm hứng thú học môn GDTC
1.3.1 Định nghĩa
Hứng thú học môn GDTC là thái độ lựa chọn đặc biệt của học sinh đối với quá trình, kết quả lĩnh hội và vận dụng kiến thức GDTC trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống, do thấy được sự hấp dẫn và ý nghĩa thiết thực của môn GDTC với bản thân [16].
1.3.2 Những thành tố tâm lý cấu thành hứng thú học môn GDTC của học sinh THPT
Có thể xác định cấu trúc của hứng thú học môn GDTC của học sinh baogồm 3 thành phần chủ yếu sau:
Trang 17- Thành tố xúc cảm trước hết tham gia vào việc chuẩn bị tạo nên mộtthái độ đúng đắn đối với môn GDTC, đối với việc học môn GDTC của họcsinh Đây là tiền đề tâm lý của hứng thú học môn GDTC Những xúc cảmkhác sẽ xuất hiện trong quá trình hoạt động tìm tòi như niềm vui nhận thức -
là thành tố cơ bản và dấu hiệu của hứng thú học môn GDTC; niềm vui đạtthành tích sẽ giúp duy trì được hứng thú học môn GDTC
- Thành tố nhận thức giữa vai trò rất lớn trong việc duy trì hứng thú họcmôn GDTC Học sinh hiểu giá trị và ý nghĩa của việc học môn GDTC từ đóxuất hiện thái độ tự giác, đúng đắn củng cố cho hứng thú học môn GDTC củacác em
+ Tính tích cực tạo điều kiện cho việc tìm tòi và xuất hiện niềm vuitrong hoạt động học GDTC Tính tích cực tạo ra một hoạt động định hướngtheo chiều mạnh lên và những rung động đúng đắn Khi hứng thú học mônGDTC xuất hiện sẽ nâng cao tính tích cực và hiệu quả lĩnh hội tri thức và kỹxảo
1.3.3 Các biểu hiện của hứng thú học môn GDTC
Hứng thú học môn GDTC của học sinh được biểu hiện thông qua cácdấu hiệu, các chỉ số cụ thể trong hoạt động học tập, trong cuộc sống của các
em Nhà giáo dục có thể quan sát và nhận biết chung Những biểu hiện nàykhá phong phú, đa dạng và nhiều khi còn phức tạp, chúng có thể đan xen vàonhau Đó là:
Trang 18- Biểu hiện về mặt xúc cảm: Học sinh có xúc cảm tích cực (yêu thích,say mê…) đối với môn GDTC: các em thực sự yêu thích môn GDTC, coi họcGDTC là niềm vui, niềm hạnh phúc.
- Biểu hiện về mặt nhận thức: Học sinh nhận thức đầy đủ, rõ ràngnhững nguyên nhân của sự yêu thích trên; những nguyên nhân đó có thể trựctiếp liên quan đến đối tượng của hoạt động học GDTC (đến nội dung vàphương pháp tư duy học GDTC), hoặc gián tiếp liên quan đến đối tượng trên
- Biểu hiện về mặt hành động: Học sinh biểu hiện các hành động họctập tích cực, chủ động, sáng tạo không chỉ trong giờ lên lớp mà còn ở cả ngoàilớp hàng ngày như:
+) Trong giờ lên lớp:
> Say mê học tập, chăm chú nghe giảng
> Hăng hái tập luyện
> Tích cực làm việc theo nhóm để hoàn thành nhiệm vụ học tập
+) Ở ngoài lớp và ở nhà:
> Tập luyện ngoại khóa thường xuyên
> Tích cực tham gia các hoạt động, phong trào TDTT ở khu dân cư
- Biểu hiện về mặt kết quả học tập:
Kết quả học tập xếp loại đạt môn GDTC
1.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới hứng thú học môn GDTC
Trang 19- Giáo viên: Đó là trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, lòng say mênhiệt tình, sự hứng thú với nghề nghiệp của giáo viên đối với môn GDTC, đặcbiệt là phương pháp dạy môn GDTC … Những điều đó có ảnh hưởng cơ bảnđến sự phát triển đến hứng thú học môn GDTC ở học sinh.
- Đặc điểm của bài tập:
Do các bài tập giáo viên đưa ra có mức độ khó tăng dần, thiếu hấp dẫnkhó thực hiện… nên các bài tập được thực hiện một cách gò ép, uể oải, chánnản, chống đối… Người tập có thái độ không thích thú, không có sự cố gắngthì không thể có tác dụng như những bài tập được thực hiện một cách hàohứng, tự giác, chủ động Ở đây những yếu tố mới và tính hấp dẫn của bài tập
có ý nghĩa quan trọng
- Đặc điểm của môi trường thực hiện bài tập:
Hầu hết các nội dung của môn GDTC được giảng dạy ở ngoài trờichính vì vậy yếu tố thời tiết, địa hình, điều kiện vệ sinh của môi trường tậpluyện tốt là tiền đề góp phần nâng cao hiệu quả giờ học cũng như hứng thúhọc của học sinh Môi trường tự nhiên thuận lợi sẽ làm tăng tác dụng của bàitập, cho phép áp dụng lượng vận động lớn hơn, tổ chức nghỉ ngơi hợp lý, gâycảm xúc hứng thú cho người tập Ngược lại, sự thay đổi của môi trường sẽlàm giảm đi mức độ hứng thú của học sinh như: Trời mưa, lạnh, nắng nóng…
- Cơ sở vật chất:
Từ trước tới nay môn GDTC vẫn được coi là môn học phụ, môn điềukiện ở các trường THPT nên sự quan tâm và đầu tư đối với môn GDTC cũngchưa đầy đủ và thiết bị phục vụ giảng dạy, tập luyện vẫn còn thiếu thốn nhiều.Hiện nay tất cả các trường học trong cả nước học sinh học môn thể dục ngoàisân trường hoặc sân vận động, nếu trời mưa là các em phải nghỉ Chính vì vậy,đảm bảo cơ sở vật chất tốt cũng là điều kiện nâng cao hiệu quả giờ học GDTC
và hứng thú học tập như đảm bảo: Dụng cụ, sân bãi, nhà tập, nhà đa năng…
Trang 20Tóm lại, hứng thú học môn GDTC của học sinh khối 11 nảy sinh vàphát triển dưới ảnh hưởng qua lại của tổ hợp những yếu tố chủ quan và nhữngyếu tố khách quan nhất định Do đó muốn hình thành và phát triển hứng thúhọc môn GDTC cho học sinh, cần phải chú ý cả những yếu tố bên trong, cũngnhư yếu tố bên ngoài, đặc biệt là cần chú ý đến vai trò “Chủ đạo của ngườigiáo viên”.
* Những yếu tố chủ quan:
Đó là những yếu thuộc về chủ thể học sinh như:
- Đặc điểm cá nhân người tập: Tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe vàthể lực, học tập và khả năng vận động
Cùng một bài tập có thể gây lên những hiệu quả khác nhau tùy thuộcvào đặc điểm cá nhân người tập Một lượng vận động nhẹ của vận động viên
có thể là nặng, quá sức đối với người tập Đa phần những học sinh nam, họcsinh có thể lực tốt và khả năng vận động tốt sẽ dễ hình thành hứng thú họcmôn GDTC hơn so với những em nữ và em có thể lực yếu và khả năng vậnđộng kém Nói cách khác, sự phát triển về thể chất là cơ sở tạo ra thành tích
và kết quả tốt trong học tập môn GDTC Thành tích có vai trò tâm lý vừa làtiền đề cho hứng thú học môn GDTC, vừa là động cơ bổ trợ duy trì hứng thúhọc môn GDTC Đầu tiên, thành tích tạo thành một cái nền xúc cảm đúngđắn, là tiền đề hứng thú học môn GDTC, sau đó khi hứng thú xuất hiện, nótạo nên một thành tích cao hơn nữa và thành tích này lại tiếp tục làm pháttriển và duy trì hứng thú học môn GDTC
- Học sinh cần có thái độ đúng đắn với việc học tập, đối với bộ mônGDTC Nó được thể hiện ở 2 mặt:
+ Thái độ xúc cảm tích cực với việc học môn GDTC
+ Thái độ có ý thức đối với việc học môn GDTC, hiểu được ý nghĩacủa việc học GDTC, ý nghĩa cá nhân cũng như xã hội của nó
Trang 21Yếu tố này là điều kiện và tiền đề quan trọng của sự hình thànhhứng thú học môn GDTC ở học sinh khối 11, nó sẽ giúp cho sự duy trì và pháttriển hứng thú học môn GDTC.
- Các yếu tố chủ quan khác như: Nhu cầu, tính ham hiểu biết, niềm vuinhận thức, sự nỗ lực ý chí, những năng lực…của học sinh cũng ảnh hưởng tới
sự hình thành, phát triển hứng thú học môn GDTC ở các em
1.4 Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi học sinh THPT
1.4.1 Đặc điểm tâm lý
- Về mặt tâm lý các em thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn để mọingười tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khảnăng phân tích, tổng hợp, muốn hiểu biết, nhiều hoài bão, nhưng còn nhiềunhược điểm và kinh nghiệm cuộc sống còn ít
- Độ tuổi này chủ yếu là hình thành thế giới quan, tự ý thức hình thành
về tính cách và hướng về tương lai Đó cũng là lứa tuổi của lãng mạn, độc đáo
và mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn Đó là tuổi nhu cầu sáng tạo, nảy
nở những tình cảm mới Thế giới quan không phải là một niềm tin lạnh nhạt
mà nó là sự say mê ước vọng nhiệt tình Các em có thái độ tự giác tích cực,trong học tập, xuất phát từ động cơ học tập đúng đắn và hướng tới việc lựachọn nghề nghiệp sau này Do đó quá trình hưng phấn cao hơn quá trình ứcchế nên các em tiếp thu nhanh nhưng cũng chóng chán Khi đạt được một
số kết quả sẽ dẫn đến tự mãn, điều đó có tác động không tốt đến tập luyệncũng như thi đấu thể thao Vì vậy khi tiến hành tập luyện, huấn luyện cho các
em ở lứa tuổi này cần phải uốn nắn nhắc nhở chỉ bảo tận tình định hướng vàđộng viên các em hoàn thành tốt nhiệm vụ, có hình thức khen thưởngđộng viên đúng lúc kịp thời Trong quá trình huấn luyện dần dần từng bướcđộng viên các em tiếp thu chậm Từ đó làm cho các em không cảm thấychán có định hướng phấn đấu và hiệu quả bài tập được nâng cao
Trang 221.4.2 Đặc điểm sinh lý
- Ở lứa tuổi này cơ thể các em đã phát triển nhưng tốc độ giảm dần,chức năng sinh lý tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các cơ quan, bộphận của cơ thể được nâng cao, sự phát triển hình thể đã tương đối hoànthiện
Hệ thần kinh: Các bộ phận thần kinh đã khá hoàn thiện, kích thước não
hành tuỷ đạt đến mức của người trưởng thành hoạt động phân tích, tổnghợp của vỏ não tăng Trên vỏ não có các tri giác hoạt động có định hướngsâu sắc hơn, khả năng nhận biết cấu trúc động tác và tái hiện chính xác khảnăng vận động được nâng cao, ngoài ra do việc hoạt động của các tuyếngiáp trong tuyến sinh dục cũng ảnh hưởng đến hoạt động thể dục thểthao, các bài tập đơn điệu làm cho học sinh nhàm chán mệt mỏi Vì vậycần phải thay đổi nhiều hình thức tập luyện
Hệ cơ: Ở lứa tuổi này đang phát triển nhưng chậm hơn so với hệ
xương, số lượng sợi cơ tăng chậm nhưng chiều dài sợi cơ phát triển nhanh.Đàn tính cơ tăng nhưng không đều, do đó để củng cố và phát triển sức nhanh,mạnh cần phát triển sức bền và sức mạnh bền Khi áp dụng các bài tập cầntăng dần lượng vận động, tránh tăng lượng vận động đột ngột dễ dẫn tớichấn thương Cơ không đều chủ yếu là cơ nhỏ dài, do đó cơ hoạt động sớm
dễ dẫn tới mệt mỏi
Hệ tuần hoàn: Tiếp tục phát triển toàn diện Tim đập 70 - 80 lần/phút.
Phản ứng của hệ tuần hoàn tương đối rõ rệt Sau vận động mạch đập
và huyết áp phục hồi tương đối nhanh chóng, cho nên có thể tập các bàitập mạnh, tốc độ hay dai sức Ở lứa tuổi này diện tích tiếp xúc phổi khoảng
100
-200 cm2 Dung lượng phổi tăng nhanh, tần số thở 10 - 20 lần/phút Tuy nhiên cơ vẫn còn yếu
Trang 23chuyển thành xương ụ Cột sống đã ổn định về hình dáng nhưng chưa đượccủng cố dễ bị cong vẹo.
Trang 24Hệ máu: Ở lứa tuổi này các em hoạt động cơ bắp cho nên hệ máu có
những thay đổi nhất định Hàm lượng hêmôglôbin cũng như hàm lượngtrong máu đều tăng làm cho dung dịch oxi trong máu cũng tăng lên, sau cáchoạt động kéo dài thì hồng cầu sẽ giảm đi và quá trình hoạt động xảy ranhanh
Hệ hô hấp: Ở lứa tuổi này làm biến đổi về trạng thái, chức năng của hệ
hô hấp và có sự thay đổi về chiều dài của chu kì hô hấp Tỉ lệ thở ra hít vàothay đổi độ sâu và tần số hô hấp Dung tích sống và thông khí phổi tăngtối đa Khả năng hấp thụ oxi tối đa
Trao đổi năng lượng: Ở giai đoạn này đòi hỏi về các chất đường, đạm,
mỡ và muối khoáng rất lớn, quá trình chuyển hoá xảy ra rất nhanh lượng
tế bào tăng một mặt chuyển hoá cho quá trình trưởng thành cơ thể, mặtkhác để cung cấp cho quá trình vận động thể lực
- Như vậy tất cả các bộ phận cơ quan trong cơ thể ở lứa tuổi này vẫnđang phát triển và dần đi đến hoàn thiện Do đó việc huấn luyện, giảng dạyphải hết sức lưu ý để làm sao tạo điều kiện tốt nhất để các em tiếp tục pháttriển cân đối và hoàn thiện
Tóm lại: Từ việc hiểu và nắm được đặc điểm tâm sinh lý của học sinh
là cơ sở để chúng tôi đưa ra giải pháp phù hợp để hình thành và nângcao hứng thú học môn GDTC
1.5 Đặc điểm chung về hoạt động sư phạm trong lĩnh vực GDTC
Hoạt động GDTC học sinh, thực chất là một quá trình dạy học, huấnluyện Nó tồn tại như một thể thống nhất bao gồm nhiều thành phầnnhư: Điều tra sức khỏe, thể chất học sinh, xác lập mục đích, nội dung nhiệm
vụ, phương pháp, phương tiện tập luyện, huấn luyện và đánh giá kết quảGDTC cho học sinh Thầy giáo với hoạt động dạy học và huấn luyện, học sinhvới hoạt động học tập và tập luyện Mục đích của hoạt động sư phạmtrên lĩnh vực GDTC:
Trang 25- Tập luyện dạy, học tập để trang bị kiến thức, hiểu biết kỹ năng có liênquan đến việc tăng cường sức khỏe và hoàn thiện thể chất.
- Giáo dục làm phát triển ý thức tự chăm sóc sức khỏe, hoàn thiệnthể chất bản thân cũng như phát triển năng lực hoạt động thể lực vànhân cách học sinh nói chung trong quá trình GDTC và đời sống cá nhân
- Góp phần chăm lo sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội cho họcsinh, sinh viên Như vậy, GDTC là một mặt giáo dục tương đối độc lập vàmang tính đặc thù chuyên môn nhất định Chính mục đích sư phạm trên đâyđặt ra những yêu cầu đối với giáo viên và học sinh trong quá trình GDTC
Trang 26CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ 1: Thực trạng và nguyên nhân dẫn tới thiếu hứng thú họctập môn GDTC của học sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang
Nhiệm vụ 2: Một số giải pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập mônGDTC cho học sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Đây là phương pháp thu thập thông tin bằng cách đọc và phân tích tàiliệu tham khảo, nghiên cứu lý luận, phát hiện ra những “khoảng trống” khoahọc để xác định hướng đề tài nghiên cứu
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu còn giúp người viết hìnhthành kết cấu nội dung, hình thức trình bày trên cơ sở kết quả nghiêncứu của mình và tư liệu tích lũy được
Ngoài ra phân tích tổng hợp những tài liệu có liên quan là cơ sở để giúp chúng tôi lựa chọn những biện pháp nghiên cứu và bàn luận kết quả nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp quan sát dùng để thu thập những tư liệu mang tính chấtbên ngoài của đối tượng nghiên cứu, từ đó nhận biết được nguyên nhântâm lý Quan sát trở thành phương pháp nghiên cứu khoa học khi nóđược tiến hành đúng yêu cầu sau đây: quan sát có chủ định những hành vi,
cử chỉ, hành động, hoạt động của đối tượng nghiên cứu có liên quan tới mụcđích phân tích làm sáng tỏ hiện tượng tâm lý
Trang 27Thông qua quan sát để chúng tôi đánh giá tính tích cực và hăng hái, thờ ơ…của
Trang 28học sinh khối 11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang Kết quả phương phápnày được coi là nhưng cơ sở thực tiễn để đề xuất và lựa chọn những biệnpháp cần thiết.
2.2.3 Phương pháp phỏng vấn – tọa đàm
Đây là phương pháp nghiên cứu khoa học thu nhận thông tin thông quahỏi - trả lời, giữa nhà nghiên cứu với các cá nhân khác nhau về vấn đề quantâm
Phỏng vấn trực tiếp là phương pháp thu nhận thông tin thông qua hỏi
và trả lời miệng giữa nhà nghiên cứu và người được hỏi
Phỏng vấn gián tiếp là phương pháp thu nhận thông tin bằng phiếu hỏi,phiếu điều tra…theo một hệ thống câu hỏi được chuẩn bị sẵn sàng
Trao đổi mạn đàm là phương pháp thu nhận thông tin nhiều chiều, giữanhà nghiên cứu với một hoặc một số cá nhân về vấn đề quan tâm
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Đây là phương pháp được đề tài sử dụng để kiểm tra kết quả họctập môn thể dục cho học sinh trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang Từ đótìm ra những điểm tồn tại, hạn chế trong công tác giảng dạy Qua đó tìm ramột số giải pháp hợp lý nhằm nâng cao hứng thú học tập môn GDTC cho các
em Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích thông qua các test và các chỉtiêu để đánh giá thể chất của học sinh trường THPT Tân Trào Các chỉ tiêu sửdụng là do Bộ giáo dục và đào tạo Quyết định số 53/2008/QĐ - BGDĐTngày
18/09/2008, và những chỉ tiêu đánh giá bao gồm 4 test:
Trang 29tay giữ ở phần dưới cẳng chân, nhằm không cho bàn chân người được kiểm tra ra khỏi sàn.
+ Cách tính thành tích: Mỗi lần ngả người, co bụng được tính một lần.Tính số lần đạt được trong 30 giây
2 Bật xa tại chỗ (cm)
+ Yêu cầu dụng cụ: Thảm cao su giảm chấn, kích thước 1x3m (nếukhông có thảm có thể thực hiện trên nền đất, cát mền) Đặt một thước đodài làm bằng thanh hợp kim hoặc bằng gỗ kích thước 3x0,3m trên mặt phẳngnằm ngang và gim chặt xuống thảm (nền đất hoặc cát mềm), tránh xê dịchtrong quá trình kiểm tra
+ Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra đứng hai chân mởrộng tự nhiên, ngón chân đặt sát mép vạch giới hạn; khi bật nhảy và khi tiếpđất, hai chân tiến hành cùng lúc Thực hiện hai lần nhảy
+ Cách tính thành tích: Kết quả đo được tính bằng độ dài từ vạch xuấtphát đến vệt cuối cùng của gót bàn chân (Vạch dấu chân trên thảm) Lấy kếtquả lần cao nhất Đơn vị tính là cm
3 Chạy 30m xuất phát cao (giây)
+ Yêu cầu sân bãi, dụng cụ: đồng hồ bấm giây; đường chạy thẳng cóchiều dài ít nhất 40m, chiều rộng ít nhất 2m Kẻ vạch xuất phát và vạch đích,đặt cọc tiêu bằng nhựa hoặc bằng cờ hiệu ở hai đầu đường chạy Sau đích cókhoảng trống ít nhất 10m để giảm tốc độ sau khi về đích
+ Yêu cầu kĩ thuật động tác: Người được kiểm tra thực hiện tư thếxuất phát cao Thực hiện một lần
+ Cách tính thành tích: Thành tích chạy được xác định là giây và số lẻtừng 1/100 giây
4 Chạy tùy sức 5 phút (m)
Trang 30+ Yêu cầu sân bãi, dụng cụ: Đường chạy dài ít nhất 52m, rộng ít nhất2m, hai đầu kẻ hai đường giới hạn, phía ngoài hai đầu giới hạn cókhoảng trống ít nhất 1 mét để chạy quay vòng Giữa hai đầu đường chạy(Tim đường) đặt vật chuẩn để quay vòng Trên đoạn 50m đánh dấu từngđoạn 5m để xác định phần lẻ quãng đường (± 5m) sau khi hết thời gian chạy:Thiết bị đo gồm có đồng hồ bấm giây, số đeo và tích kê ghi số ứng với mỗi sốđeo.
+ Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra thực hiện tư thếxuất phát cao (tay cầm một tích kê tương ứng với số đeo ở ngực) Khichạy hết đoạn đường 50m, vòng (bên trái) qua vật chuẩn và chạy lặp lạitrong thời gian
5 phút Khi hết giờ, người được kiểm tra lập tức thả tích kê của mình xuốngngay nơi chân tiếp đất Thực hiện một
lần
+ Cách tính thành tích: Đơn vị đo quãng đường chạy được là mét
Trong điều kiện cơ sở thực tế của nhà trường, phương pháp nàyđược áp dụng trong giai đoạn đầu của quá trình nghiên cứu
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Để giải quyết nhiệm vụ trên chúng tôi tiến hành thực nghiệm cả khối
11 trường THPT Tân Trào - Tuyên Quang với 390 học sinh Chương trìnhđược thực nghiệm trong 6 tuần
Nội dung thực nghiệm: Nhóm đối chứng thực hiện theo phương pháphọc của nhà trường đang áp dụng Nhóm thực nghiệm được thực hiệntheo các biện pháp mà đề tài đã đề xuất Thực nghiệm được tiến hànhtheo hình thức thực nghiệm song song với mục đính chứng minh lợi ích,hiệu quả của các biện pháp mà đề tài đề xuất Trong quá trình thực nghiệm
đề tài chúng tôi có sử dụng các phương tiện như đồng hồ bấm giờ, thước
Trang 31kiểm tra và xác định thành tích của đối tượng tượng nghiên cứu.
Trang 322.2.6 Phương pháp toán học thống kê
Phương pháp toán học thống kê dùng để xử lý số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu đề tài