1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của hạ natri máu ở bệnh nhân bệnh nội khoa tại khoa nội điều trị theo yêu cầu Bệnh viện Thống Nhất

5 66 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 286,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hạ natri máu là một rối loạn điện giải thường gặp nhất ở BN nội trú và có triệu chứng lâm sàng phong phú, liên quan nhiều tiến trình bệnh và dự hậu của bệnh nhân. Bài viết trình bày việc xác định tỉ lệ, đặc điểm lâm sàng, các bệnh đi kèm và ảnh hưởng của natri lên thời gian nằm viện, tái nhập viện.

Trang 1

KHẢO SÁT CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG

CỦA HẠ NATRI MÁU Ở BỆNH NHÂN BỆNH NỘI KHOA

TẠI KHOA NỘI ĐIỀU TRỊ THEO YÊU CẦU BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

Đỗ Thị Thắm*, Đặng Thị Thùy Quyên*, Hoàng Ngọc Vân*

TÓM TẮT

Cơ sở: Hạ natri máu là một rối loạn điện giải thường gặp nhất ở BN nội trú và có triệu chứng lâm sàng phong phú, liên quan nhiều tiến trình bệnh và dự hậu của bệnh nhân

Mục tiêu: xác định tỉ lệ, đặc điểm lâm sàng, các bệnh đi kèm và ảnh hưởng của natri lên thời gian nằm viện,

tái nhập viện

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả tiến cứu

Kết quả: Trong 829 bệnh nhân nằm viện chúng tôi thu thập được 172 bệnh nhân hạ natri máu (<135

mmol/L), tỉ lệ 20,7% Tuổi trung bình 70,7±15,5; nữ 54,1% Đa số bệnh nhân có hạ natri máu nhẹ, 66,3% Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là mệt mỏi, chán ăn, chóng mặt; 89%, 61%, 33,7% Tăng huyết áp, nhiễm trùng, đái tháo đường là những bệnh đi kèm thường gặp nhất Thời gian nằm viện kéo dài hơn ở nhóm hạ natri máu nặng so nhóm nhẹ, 15,6 và 11,1 ngày Tỉ lệ tái nhập viện là 10,5%

Kết luận: hạ natri máu rất phổ biến ở bệnh nhân nội trú, biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu và hạ natri góp

phần kéo dài thời gian nằm viện

Từ khóa: hạ natri máu, tăng huyết áp, nhiễm trùng, tiểu đường

ABSTRACT

SURVEY CLINICAL AND PARACLINICAL CHARACTERICRICS OF HYPONATREMIA AMONG PATIENTS ADMITTED TO DEPARTMENT OF INTERNAL MEDICINE AT THONG NHAT

HOSPITAL

Do Thi Tham, Dang Thi Thuy Quyen, Hoang Ngoc Van

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 5 - 2015: 147 - 151

Background: Hyponatremia is the most common electrolyte abnormality in hospitalized patients and there

are many of clinical symtoms, is associated with increased with negative outcomes in many diseases

Objective: To evaluate the rate of hyponatremia, clinical symtoms, related diseases, average length of stay,

readmissions

Method: prospective descriptive cross sectional study

Results: A total of 829 patients with internal, of whom 172 (20.7%) presented with hyponatremia The mean

age 70.7±15.5; 54.1% female Almost of patients have mild hyponatremia, 66.3% Tireness, anorexia, vertigo were the most clinical symtoms, 89%, 61%, 33.7% Hypertension, infection diseases, diabetes were the most related diseases The hospital length of stay is longer in severe hyponatremia (15.6 vs 11.1 days) Rate of readmission is 10.5%

Conclusion: hyponatremia is common in clinical settings, clinical charactericrics are nonspecific and relate

with a greater hospital length of stay

Key words: hyponatremia, hypertension, infection diseases, diabetes

* Khoa Nội theo yêu cầu, Bệnh viện Thống Nhất

Tác giả liên lạc: BS Hoàng Ngọc Vân – ĐT: 0988881789 Email: hoangvan.minh@yahoo.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hạ natri máu là một rối loạn điện giải

thường gặp nhất ở BN nội trú, chiếm tỉ lệ từ

15-30% BN nhập viện(16); đặc biệt ở nhóm BN cao

tuổi, BN suy tim hay xơ gan tỉ lệ này còn cao

hơn(2,5,16), Hạ natri máu góp phần làm tăng độ

nặng của bệnh, tăng tử vong cũng như tăng thời

gian nằm viện(6,16) Đa số BN có hạ natri máu nhẹ,

không triệu chứng; khi hạ natri máu nặng dưới

120mmol/L hay tốc độ hạ quá nhanh có thể gây

biến chứng thần kinh như co giật, rối loạn tri

giác, suy hô hấp(6) Như vậy, hạ natri máu có tầm

ảnh hưởng quan trọng đến tiến trình của bệnh

và dự hậu BN Do đó, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu này tại khoa Nội Theo Yêu Cầu, nơi

tập trung điều trị hầu hết các BN cao tuổi và có

nhiều bệnh nội khoa, nhằm:

1 Khảo sát tỉ lệ, các biểu hiện lâm sàng, cận

lâm sàng của hạ natri máu

2 Khảo sát các bệnh đi kèm và các ảnh

hưởng của hạ natri máu đến bệnh nhân như thời

gian nằm viện, tỉ lệ tái nhập viện

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bao gồm tất cả bệnh nhân được chẩn đoán

hạ natri máu, điều trị tại khoa Nội Theo Yêu

Cầu, Bệnh viện Thống Nhất Thành Phố Hồ Chí

Minh

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân bệnh thận mạn đang lọc máu

định kỳ hay thẩm phân phúc mạc

Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên

cứu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả tiến cứu

Phương pháp lấy mẫu

Lấy mẫu ngẫu nhiên đơn trong thời gian từ

tháng 03/2015 đến hết tháng 06/2015

Định nghĩa các biến được thu thập

Biến số nền

-Tuổi: Là biến định lượng, được tính từ năm sinh đến năm thu thập dữ liệu; Người cao tuổi:

≥60t Giới: nam hoặc nữ

Biến số lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng của hạ natri máu: Chia

3 nhóm: Nhẹ: Mệt mỏi, chán ăn, chóng mặt

Trung bình: buồn nôn (không nôn), đau đầu, lú lẫn Nặng: nôn ói, ngủ gà, lơ mơ, hôn mê

(Glasgow: ≤8), co giật, suy hô hấp tuần hoàn

Thể tích dịch ngoại bào: gồm 3 nhóm: Tăng

(phù), Bình thường, Giảm (tụt HA tư thế, môi khô, véo da, Bun: Creatinine > 10:1, Natri niệu

thấp)

Biến số cận lâm sàng

Chẩn đoán hạ natri máu: Dựa trên Natri/máu: <135 mmol/L Chia 3 nhóm: Nhẹ (130-134 mmol/L), Trung bình (125-129 mmol/L), Nặng (< 125 mmol/L)

Các bệnh lí đi kèm hạ natri máu: tăng huyết

áp, suy tim, bệnh mạch vành, đái tháo đường, bệnh thận (cấp, mạn), bệnh gan (viêm gan mạn,

xơ gan), bệnh hệ thần kinh trung ương (nhồi máu não, xuất huyết não, parkinson, sa sút trí tuệ, rối loạn tâm thần), nhiễm trùng, bệnh phổi (COPD, hen phế quản), viêm loét dạ dày tá tràng, ung thư, một số bệnh khác (cushing, loãng xương, suy giáp, suy kiệt…)

Các bước tiến hành

Mỗi bệnh nhân đáp ứng các tiêu chuẩn chọn

sẽ được giải thích và mời tham gia nghiên cứu Chúng tôi sẽ tiến hành hỏi bệnh, thăm khám và tham khảo hồ sơ bệnh án Chúng tôi thực hiện độc lập việc hỏi, khám bệnh và không can thiệp vào điều trị của bệnh nhân

Phương pháp xử lý số liệu

Nhập và phân tích số liệu: sử dụng phần mềm SPSS 16.0

Các biến định tính được kiểm định bằng

Trang 3

phép kiểm X2 và các biến định lượng được kiểm

định hai số trung bình bằng Student,test Có ý

nghĩa thống kê y học khi p <0,05

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Trong thời gian từ 3/2015 đến 7/2015, trong

829 BN nằm điều trị tại khoa Nội Theo Yêu Cầu

chúng tôi thu thập được 172 BN hạ natri máu,

chiếm tỉ lệ 20,7% Kết quả này tương tự nhiều

nghiên cứu với hạ natri máu chiếm 15 -30% BN

nội trú(16) Tuy nhiên, một số nghiên cứu khảo sát

mức hạ natri máu là dưới 130 mmol/L thì tỉ lệ

này giảm nhanh chỉ còn 1-4%(1,7,13) Trong nghiên

cứu chúng tôi có 57/829 BN, chiếm 6,8% và tỉ lệ

này cũng phù hợp tác giả Trần Công Tính (BV

115) là 4,3%(14)

Qua kết quả nghiên cứu 172 BN hạ natri máu

chúng tôi phân tích và bàn luận một số vấn đề

sau:

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Bảng 1 Đặc điểm về tuổi và giới của đối tượng

nghiên cứu

Giới

tính

Chung

(n=172)

Nhóm

<60t (n=36)

Nhóm ≥60t (n=136) 60-74t

(n=52)

75-84t (n=56)

≥85t (n=28)

Nam, n

(%)

79

(45,9)

17 (47,2)

22 (42,3)

22 (39,3)

18 (64,3)

Nữ, n

(%)

93

(54,1)

19 (52,8)

30 (57,7)

34 (60,7)

10 (35,7)

Nữ nhiều hơn nam (54,1% so 45,9%)

Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là:

70,7±15,5; nhỏ nhất là 16 tuổi, lớn nhất là 101

tuổi Nhóm ≥75t tuổi chiếm đa số (48,83%) và

trong đó đối tượng rất già (≥85t) chiếm 16,3%

dân số nghiên cứu Kết quả này tương tự nhiều

tác giả, với tuổi TB là 70-80t, và nữ chiếm nhiều

hơn(3,5,9,12)

Đặc điểm lâm sàng của hạ natri máu

Bảng 2 Các biểu hiện lâm sàng của hạ natri máu

Triệu chứng

lâm sàng

Chung (n=172)

Nhóm <60t (n=36)

Nhóm ≥60t (n=136) p

Mệt mỏi, n (%) 153

(89,0)

28 (77,8)

125 (91,9) 0,03 Chán ăn, n (%) 105

(61,0)

19 (52,8)

86 (63,2) 0,25

Triệu chứng lâm sàng

Chung (n=172)

Nhóm <60t (n=36)

Nhóm ≥60t (n=136) p

Chóng mặt, n (%) 58 (33,7)

16 (44,4)

42 (30,9) 0,12 Buồn nôn, n (%) 40

(23,3)

8 (22,2)

32 (23,5) Đau đầu, n (%) 14

(8,1)

3 (8,3)

11 (8,1) 1,0

Lú lẫn, n (%) 0

(0,0)

0 (0,0)

0 (0,0) Nôn ói, n (%) 15

(8,7)

5 (13,9)

10 (7,4) 0,31 Ngủ gà, n (%) 3

(1,7)

0 (0,0)

3 (2,2) 1,0

Lơ mơ, n (%) 1

(0,6)

0 (0,0)

1 (0,7) 1,0

Co giật, n (%) 5

(2,9)

1 (2,8)

4 (2,9) 1,0 Suy hô hấp-tuần

hoàn, n (%)

1 (0,6)

0 (0,0)

1 (0,7) 1,0

Bảng 3 Phân bố mức độ biểu hiện lâm sàng của hạ

natri máu ở các nhóm tuổi

Các mức hạ natri máu

Chung (n=172)

Nhóm <60t (n=36)

Nhóm ≥60t (n=136) p

Nhẹ, n (%) 109

(63,4)

20 (55,6)

89 (65,4)

0,51 Trung bình, n

(%)

37 (21,5)

10 (27,8)

27 (19,9) Nặng, n (%) 26

(15,1)

6 (16,7)

20 (14,7)

Đa số đối tượng biểu hiện lâm sàng ở mức

độ nhẹ (63,4%), với chủ yếu là mệt mỏi chiếm 89%, kế đến chán ăn là 61%, chóng mặt là 33,7% Triệu chứng ít gặp nhất là lú lẫn Tuy nhiên, ở

BN cao tuổi biểu hiện lâm sàng ít rõ ràng hơn chủ yếu là mức độ nhẹ, 65,4% so 55,6% So với tác giả Trần Công Tính, các triệu chứng cơ năng như mệt mỏi, chán ăn, nhức đầu, chóng mặt cũng rất thường gặp, tỉ lệ thay đổi từ 13,1 đến 75,5%(14)

Tỉ lệ BN có triệu chứng lâm sàng nặng là 15,1%, nhưng trong đó chủ yếu là triệu chứng nôn ói (8,7%), còn các triệu chứng như co giật, rối loạn tri giác chỉ chiếm 0-3%

Tuy nhiên, qua các nghiên cứu của các tác giả và thực tế, chúng tôi ghi nhận các triệu chứng lâm sàng của hạ natri là không đặc hiệu, chúng có thể là một triệu chứng của các bệnh đi

Trang 4

kèm, như nôn ói có thể là do bệnh lý tiêu hóa

nhưng cũng là biểu hiện của hạ natri mức độ

nặng Trong nghiên cứu chúng tôi đa số là bệnh

nhân cao tuổi, lão suy và nhiều bệnh lí đi kèm, do

vậy, các triệu chứng mệt mỏi, chán ăn, chóng mặt

có thể vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của hạ

natri

Bảng 4 So sánh tương quan của mức độ biểu hiện lâm

sàng và nồng độ natri trong máu

Nồng độ natri

máu

Mức độ biểu hiện lâm sàng

p Nhẹ Trung bình Nặng

Natri máu TB,

mmol/L 130 ±4,0 129±5,7 128±6,4 0,16

Mức hạ natri máu có giảm tương ứng mức độ

nặng của triệu chứng cơ năng, tuy nhiên sự khác

biệt không có ý nghĩa thống kê Kết quả này

tương tự tác giả Trần Công Tính(14), điều này được

lý giải là biểu hiện lâm sàng phụ thuộc tốc độ cấp

tính hạ natri máu hơn là nồng độ natri máu

Bảng 5 Phân loại thể tích dịch ngoại bào

Thể tích dịch

ngoại bào

Chung (n=172)

Nhóm <60t (n=36)

Nhóm ≥60t (n=136) p

Tăng, n (%) 15 (8,7) 2 (5,6) 13 (9,6)

0,71 Bình thường, n

(%) 131 (76,2) 29 (80,6) 102 (75,0)

Giảm, n (%) 26 (15,1) 5(13,9) 21(15,4)

Đa số BN có thể tích dịch ngoại bào bình

thường, tỉ lệ này là 76,2% Sự khác biệt thể tích

ngoại bào giữa 2 nhóm tuổi chưa có ý nghĩa thống

Đối tượng có thể tích ngoại bào tăng chỉ là

8,7% Điều này có thể giải thích là do trong nghiên

cứu của chúng tôi các bệnh gây phù như suy tim,

suy thận và gan chiếm tỉ lệ từ 6-12% Đối tượng có

giảm thể tích ngoại bào là 15,1%, nguyên nhân

chủ yếu trong nhóm này là do bệnh lý nhiễm

trùng chiếm 69,2%; các lý do như sốt, ói tiêu chảy

kết hợp ăn uống kém trong nhiễm trùng hô hấp,

tiêu hóa là nguyên nhân gây giảm thể tích

Đặc điểm cận lâm sàng

Bảng 6 Phân loại mức độ hạ natri máu lúc nhập viện ở

hai nhóm tuổi

Mức độ hạ natri

máu

Chung (n=172)

Nhóm <60t (n=36)

Nhóm ≥60t (n=136) p

Natri TB 129,8 ± 4,8 130,8 ± 3,9 129,5 ± 5,0 0,15

Mức độ hạ natri máu

Chung (n=172)

Nhóm <60t (n=36)

Nhóm ≥60t (n=136) p

(mmol/L)

Hạ natri Nhẹ, n (%)

TB, n (%) Nặng, n (%)

114 (66,3) 39(22,7) 19(11,0)

29(80,6) 5(13,9) 2(5,6)

85(62,5) 34(25,0) 17(12,5)

0,12

(Hạ natri: nhẹ = 130-134 mmol/L; TB: 125-129 mmol/L; Nặng: <125 mmol/L)

Ở thời điểm nhập viện, nghiên cứu chúng tôi

có natri máu TB là 129,8 ± 4,8 mmol/L, BN có natri máu cao nhất là 134 mmol/L và thấp nhất là 105 mmol/L Đa số là hạ natri máu nhẹ, chiếm 66,3%; nhất là ở nhóm BN <60t tỉ lệ này tới 80,6%

Bảng 7 Nồng độ natri máu ở các thời điểm nằm viện

Lúc nhập viện Sau 1 ngày Sau 1 tuần

Natri máu TB, mmol/L 129,8 ± 4,8 132,2 ± 11,2

134,8 ± 14,5

Trong nghiên cứu chúng tôi cho thấy nồng độ natri máu có cải thiện dần trong thời gian nằm viện Kết quả này cũng tương tự tác giả Trần Công Tính (Bv115, 2010) có natri máu lúc nhập viện và sau nhập viện là 125,4 và 127,7 mmol/L(14)

Các bệnh lý nền đi kèm hạ natri máu và thời gian nằm viện, tái nhập viện

Bảng 8 Các bệnh lý nền đi kèm hạ natri máu

Bệnh lý nền Chung

(n=172)

Nhóm <60t (n=36)

Nhóm ≥60t (n=136) p

Tăng HA, n (%) 107(62,2) 12(33,3) 95(69,9) 0,0001 Suy tim, n (%) 18(10,5) 1(2,8) 17(12,5) 0,12 Bệnh MV, n (%) 47(27,3) 3(8,3) 44(32,4) 0,004 Đái tháo đường,

n (%) 57(33,1) 7(19,4) 50(36,8) 0,05 Bệnh thận, n

(%) 21(12,2) 2(5,6) 19(14,0) 0,25 Bệnh gan, n (%) 11(6,4) 3(8,3) 8(5,9) 0,70 Bệnh lý DD-TT,

n (%) 31(18,0) 8(22,2) 23(16,9) 0,46 Bệnh thần kinh

TW, n (%) 26(15,1) 3(8,3) 23(16,9) 0,20 Bệnh nhiễm

trùng, n (%) 95(55,2) 15(41,7) 80(58,8) 0,06 Bệnh phổi, n

(%) 18(10,5) 1(2,8) 17(12,5) 0,12 Ung thư, n (%) 13(7,6) 0(0,0) 13(9,6) 0,07 Bệnh khác, n

(%) 47(27,3) 17(47,2) 30(22,1) 0,003

Trang 5

Nghiên cứu chúng tôi đa số là BN cao tuổi có

nhiều bệnh phối hợp Tăng huyết áp là bệnh đi

kèm thường gặp nhất chiếm 62,2%, kế đến bệnh

nhiễm trùng là 55,2% (chủ yếu là nhiễm trùng hô

hấp); đái tháo đường là 33,1% Và nhóm BN cao

tuổi có các bệnh đi kèm nhiều hơn hẳn nhóm <60t;

điều này phù hợp tác giả Trần Công Tính(14)

Tình trạng nhiễm trùng rất phổ biến ở đối

tượng nghiên cứu của chúng tôi, đó cũng là một

trong những lý do thường gặp của nhập viện

Nhiễm trùng ngoài gây tình trạng mất muối, nước

(ói, sốt, khó thở, tiêu chảy, ăn uống kém…) thì các

yếu tố trung gian gây viêm (cytokins) cũng gây

tăng tiết ADH (ngoài cơ chế thẩm thấu), góp phần

làm hạ thêm natri máu(10)

Hạ natri máu ảnh hưởng tới độ nặng của

bệnh và kéo dài thời gian nằm viện Trong nghiên

cứu chúng tôi ghi nhận thời gian nằm viện nhiều

hơn ở nhóm hạ natri máu nặng so với nhóm nhẹ

là 15,6 và 11,1 ngày Kết quả này phù hợp với Y

văn và hầu hết các nghiên cứu khác(4,11,12,16) Tương

tự vậy, t/g Turgutalp K thực hiện trên 253 BN hạ

natri cao tuổi, ghi nhận tử vong và tình trạng

nặng của bệnh tăng song song theo mức hạ natri

máu(15)

Bảng 9 Thời gian nằm viện theo mức hạ natri máu

Thời gian

nằm viện Chung

Hạ natri nhẹ

Hạ natri

TB

Hạ natri nặng

Thời gian nằm

viện TB, ngày 11,8 ± 11,0 11,1 ± 11,7 12,1 ± 9,5 15,6 ± 9,3

Tỉ lệ tái nhập viện: Trong thời gian nghiên cứu

chúng tôi ghi nhận có 18/172 BN tái nhập viện,

chiếm tỉ lệ 10,5% Kết quả này có cao hơn t/g Trần

Công Tính chỉ có 2,7% Tuy nhiên hầu hết các

nghiên cứu đều ghi nhận hạ nari máu làm tăng tỉ

lệ tái nhập viện(3,8)

KẾT LUẬN

1 Hạ natri máu rất phổ biến trong thực hành

lâm sàng, với chúng tôi tỉ lệ này là 20,7% Đa số là

hạ natri máu nhẹ, 66,3% và cũng có hơn 10% là hạ

natri máu nặng (<125mmol/L) Biểu hiện lâm sàng

thường nhẹ và không đặc hiệu, như mệt mỏi,

chán ăn, chóng mặt

2 Tăng huyết áp, nhiễm trùng, đái tháo đường là những bệnh đi kèm thường gặp nhất

Hạ natri máu làm kéo dài thời gian nằm viện, 15,6 (hạ natri nhẹ) so 11,1 ngày (hạ natri nặng) Tỉ lệ tái nhập viện là 10,5%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Anderson RJ, Chung HM, Kluge R, et al (1985) Hyponatremia: a prospective analysis of its epidemiology and the pathogenetic

role of vasopressin Ann Intern Med 1985;102:164-168

2 Angeli P, Wong F, Watson H, et al (2006) Hyponatremia in

cirrhosis: results of a patient population survey Hepatology

2006;44:1535-1542

3 Arévalo Lorido JC(2013) Hyponatremia as predictor of worse outcome in real world patients admitted with acute heart failure.

Cardiol J.;20(5):506-12

4 Chua, M., G E Hoyle, et al (2007) Prognostic implications of

hyponatremia in elderly hospitalized patients Arch Gerontol

Geriatr 45(3): 253-258

5 Cumming, K., S McKenzie, et al (2015) Prognosis of

hyponatremia in elderly patients with fragility fractures J Clin Med Res 7(1): 45-51

6 Ghali, J K (2008) Mechanisms, risks, and new treatment

options for hyponatremia Cardiology 111(3): 147-157

7 Hawkins RC (2003) Age and gender as risk factors for

hyponatremia and hypernatremia Clin Chim Acta; 337:169-172

8 Mendez-Bailon, M., R Barba-Martin, et al (2015) Hyponatremia

in hospitalised patients with heart failure in internal medicine: Analysis of the Spanish national minimum basic data set

(MBDS) (2005-2011) Eur J Intern Med 11(3) 233 – 238

9 Nigro N, Winzeler B, et al (2015) Symptoms and characteristics

of individuals with profound hyponatremia: a prospective

multicenter observational study J Am Geriatr Soc 63(3): 470-475

10 Park SJ and Shin JI (2013) Inflammation and hyponatremia: an

underrecognized condition? Korean J Pediatr 56(12): 519-522

11 Rubio-Rivas M, Formiga F, et al (2012) Hyponatremia in elderly patients admitted in an acute geriatric care unit

prevalence and prognosis Med Clin (Barc) 139(3): 93-97

12 Soiza RL, Cumming K, et al (2015) Hyponatremia predicts

mortality after stroke Int J Stroke 12(6) 112 – 125

13 Terzian C, Frye EB, Piotrowski ZH Admission hyponatremia in

the elderly: factors influencing prognosis J Gen Intern Med

1994;9:89-91

14 Trần Công Tính, Nguyễn Thuy Khuê (2012) Khảo sát tình trạng

hạ natri máu tại Bệnh viện Nhân Dân 115, Tạp chí Nội tiết đái tháo đường số 6, tr 772-782

15 Turgutalp K, Ozhan O, et al (2013) Clinical features, outcome and cost of hyponatremia-associated admission and hospitalization in elderly and very elderly patients: a

single-center experience in Turkey Int Urol Nephrol 45(1): 265-273

16 Verbalis JG, Goldsmith SR, et al (2013) Diagnosis, evaluation, and treatment of hyponatremia: expert panel recommendations

Am J Med 126(10 Suppl 1): S1-42

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/07/2015 Ngày bài báo được đăng: 20/10/2015

Ngày đăng: 15/01/2020, 10:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w