1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bệnh lý đường tiêu hóa do Cytomegalovirus sau ghép thận

6 61 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 254,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cytomegalovirus (CMV) vẫn là nhiễm virus quan trọng nhất sau ghép thận(14, 12, 23) . Nếu không điều trị phòng ngừa, 40 – 100% bệnh nhân ghép thận bị nhiễm CMV và đến 67% bệnh nhân bị bệnh CMV. Với những chiến lược phòng ngừa hiện nay, tỉ lệ giảm còn 17 – 92% và 0 – 37% ở bệnh nhân ghép thận. Tần suất mắc cao hơn sau ghép thận tụy.

Trang 1

BỆNH LÝ ĐƯỜNG TIÊU HÓA DO CYTOMEGALOVIRUS

SAU GHÉP THẬN

Nguyễn Thị Thanh Thùy * , Võ Thị Ngọt * , Tạ Phương Dung *

GIỚI THIỆU

Cytomegalovirus (CMV) vẫn là nhiễm

Nếu không điều trị phòng ngừa, 40 – 100%

bệnh nhân ghép thận bị nhiễm CMV và đến

67% bệnh nhân bị bệnh CMV Với những

chiến lược phòng ngừa hiện nay, tỉ lệ giảm

còn 17 – 92% và 0 – 37% ở bệnh nhân ghép

thận Tần suất mắc cao hơn sau ghép thận tụy

Nhiễm virus và bệnh thường xảy ra nhiều

nhất ở 100 ngày đầu tiên sau ghép, thời điểm

bệnh nhân được dùng ức chế miễn dịch liều

cao nhất

Ở bệnh nhân ghép thận, bệnh CMV được

biểu hiện là hội chứng nhiễm CMV, đặc trưng

bởi sốt, giảm bạch cầu hoặc giảm tiểu cầu, và

suy nhược, hoặc bệnh xâm lấn mô (viêm phổi,

bệnh đường tiêu hóa, viêm gan, viêm tụy,

viêm não, viêm màng mạch võng mạc, viêm

cơ tim, viêm thận, viêm bàng quang hoặc bệnh

Bệnh Cytomegalovirus đường tiêu hóa

(CMV đường tiêu hóa) là biểu hiện lâm sàng

thường gặp nhất của bệnh CMV xâm lấn mô sau

ghép, thường xuất hiện muộn, sau 100 ngày sau

ghép, sau khi ngưng điều trị dự phòng và đón

đầu(12,19,20, 25) Ở bệnh nhân sơ nhiễm, 42% có biểu

hiện ở đường tiêu hóa Mức độ tổn thương

đường tiêu hóa là yếu tố tiên đoán tái phát sau

điều trị 27% bệnh nhân tái phát trong vòng 3

tháng sau khi kết thúc điều trị kháng virus nếu tổn thương lan rộng ở cả đường tiêu hóa trên và dưới Trên những bệnh nhân này, bệnh CMV đường tiêu hóa không điều trị sẽ làm gia tăng bệnh suất và tử suất do biến chứng xuất huyết tiêu hóa và thủng ruột

HUMAN CMV(14)

Cytomegalovirus (CMV) là tác nhân gây nhiễm trùng cơ hội thường gặp nhất sau ghép thận, gây nhiều biến chứng và tử vong cho

duy nhất và quan trọng nhất ảnh hưởng đến kết quả ghép Nó có ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp trên bệnh nhân ghép thận Human CMV hoặc human herpesvirus 5 là virus chuỗi

betaherpesvirinae Tỉ lệ huyết thanh dương tính với CMV trong dân số từ 30 – 97% và tăng theo tuổi CMV có thể lây qua nước bọt, nước tiểu, quan hệ tình dục, nhau thai, cho con bú, truyền máu, ghép tạng đặc, hoặc ghép tế bào máu gốc(14)

Sau khi sơ nhiễm, virus sống ẩn dật lâu dài trong người ký chủ Tái hoạt định kì với sự sản xuất và ly giải virus xảy ra ở cả người có hệ miễn dịch bình thường lẫn suy giảm miễn dịch Việc này cũng thường gặp ở bệnh nhân ghép tạng đặc Sự tái hoạt CVM tiềm ẩn thường xảy ra thông qua sự hoạt hóa của gen sao chép virus

“immediate-early (ie)” Tổn thương thiếu máu

* Khoa Thận nội – Miễn dịch ghép BVND 115

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Thị Thanh Thùy ĐT: 0903103994 Email: ngthanhthuy78@gmail.com

Trang 2

tái tưới máu giúp cho sự nhân lên của virus

thông qua tái hoạt những chủng hiếu khí – qua

trung gian tái hoạt protein activator 1 Stress

prostaglandins) và một số thuốc (pentoxyfylline

và catecholamines) hoạt hóa gen sao chép virus

thông qua con đường cAMP

CMV là một kháng nguyên mạnh, và việc

nhiễm chúng gây ra đáp ứng miễn dịch tế bào và

dịch thể Đầu tiên, sự hoạt hóa đáp ứng miễn

dịch thông qua tế bào B dẫn đến hình thành các

kháng thể immunoglobulin M (IgM), IgG và IgA

Tuy nhiên, do virus nhân lên bên trong tế bào,

những kháng thể này không giúp bảo vệ chống

lại CMV Đáp ứng miễn dịch tế bào thông qua tế

kiểm soát sự nhân lên của virus và giúp bảo vệ

lâu dài tránh mắc bệnh CMV Tuy nhiên, CMV

có tính điều hòa miễn dịch, ảnh hưởng đến sự

sản xuất nhiều cytokin và chemokine, những

chất này ức chế sự đáp ứng của tế bào T và tế

bào diệt tự nhiên, cũng như đáp ứng miễn dịch

thể dịch

Ở người có hệ miễn dịch bình thường, nhiễm

CMV tiên phát thường không triệu chứng, mặc

dù cũng có vài trường hợp biểu hiện hội chứng

giống cúm Ngược lại, ở bệnh nhân bị ức chế

miễn dịch, nhiễm CMV tiên phát, tái hoạt nhiễm

trùng tiềm ẩn, hoặc tái nhiễm chuỗi khác thường

gây ra bệnh CMV

Ảnh hưởng của nhiễm CMV trên bệnh nhân

ghép tạng được chia thành hai loại: tác động trực

tiếp của nhiễm trùng gây hội chứng giống cúm

hoặc bệnh xâm lấn mô, và tác động gián tiếp,

hậu quả của việc nhiễm virus trong thời gian dài

và nguyên nhân một phần do đáp ứng miễn

(thải ghép cấp, tiểu đường mới khởi phát, nhiễm trùng cơ hội) và lâu dài (suy chức năng mảnh ghép, sống còn)

NGUY CƠ CMV Ở BỆNH NHÂN GHÉP THẬN

Nguy cơ nhiễm và bệnh CMV phụ thuộc mạnh mẽ vào tình trạng huyết thanh học CMV của người cho (D) và người nhận (R) Người nhận CMV âm, người cho CMV dương (D+/R-) là nguy cơ cao nhất, trong khi D+/R+ hoặc D-/R+ là nguy cơ trung bình Ghép cặp D-/R- là nguy cơ thấp nhất, với tỉ lệ bệnh CMV < 5%, cho thấy người nhận chỉ nhận máu CMV âm, hoặc máu đã diệt hết bạch cầu trong và sau

cả bệnh nhân D+/R-, D+/R+ và D-/R+, uống ganciclovir hoặc valganciclovir ít nhất 3 tháng sau ghép, và 6 tuần sau điều trị với kháng thể

Ghép tim, gan, thận (8 - 35%) nguy cơ bị bệnh CMV nhiều hơn ghép tụy, tụy-thận (50%),

và nhiều hơn nữa so với ghép phổi, phổi-tim

dịch cũng ảnh hưởng lên tỉ lệ và độ nặng của

CMV, trong khi sirolimus lại có tác dụng bảo vệ Ảnh hưởng của mycophenolate còn đang bàn cãi Dùng kháng thể kháng lympho bào (antithymocyte globulin hoặc muromonab CD3) làm tăng 2-5 lần bệnh CMV, trong khi basiliximab và daclizumab không làm tăng tỉ lệ bệnh Những yếu tố khác gồm bất tương hợp HLA-B và HLA-DR, thải ghép cấp, tải lượng virus máu ban đầu và tốc độ tăng virus máu, miễn dịch tế bào CD4 và CD8 đặc hiệu CMV, và kháng thể (14)

Trang 3

BỆNH CMV ĐƯỜNG TIÊU HÓA

Đường tiêu hóa là nơi thường mắc bệnh

lâm sàng nghi ngờ bệnh đường tiêu hóa do

CMV khi bệnh khởi phát ở bệnh nhân bị suy

giảm miễn dịch, tuy nhiên cũng có thể xảy ra ở

người có hệ miễn dịch bình thường nhưng rất

hiếm Mặc dù bệnh CMV đường tiêu hóa hầu

hết do tái hoạt nhiễm CMV tiềm ẩn ở bệnh

nhân suy giảm miễn dịch, nhiễm CMV mới

hoặc tái nhiễm chuỗi DNA khác của CMV

cũng có thể gây bệnh đường tiêu hóa ở nhóm

bệnh nhân này Bệnh CMV đường tiêu hóa

được phân loại thành viêm dạ dày ruột, viêm

tá tràng, viêm hồi tràng, viêm đại tràng, viêm

trực tràng hoặc làm nặng thêm bệnh viêm ống

tiêu hóa (inflammatory bowel disease) Ngoài

ra, viêm gan, viêm tụy và bệnh lý đường mật

(viêm túi mật, viêm đường mật và hẹp nhú

Vater) do CMV cũng đã được báo cáo ở bệnh

nhân ghép tạng đặc

Triệu chứng lâm sàng thường không đặc

hiệu Bệnh nhân thường có những triệu chứng

sau: sốt, chán ăn, suy nhược, sụt cân, mất

nước, đau bụng lan tỏa hoặc khu trú vùng

bụng dưới, bụng đề kháng, buồn nôn, nôn,

tiêu chảy phân nước kéo dài, tiêu phân máu,

có tiêu chảy cần chẩn đoán phân biệt với

những nguyên nhân khác ngoài nhiễm CMV

gồm tác dụng phụ của thuốc ức chế miễn dịch

mycophenolate sodium, tacrolimus, mTOR),

Campylobacter, E.coli, Samonella, v.v.), nhiễm

virus (Norovirus, Rotavirus, v.v.), nhiễm nấm

và kí sinh trùng, những nguyên nhân khác

như những bệnh đi kèm (đái tháo đường, ure huyết), tăng sinh lympho sau ghép, những thuốc khác (colchicin, allopurinol, kháng sinh,

hạ áp, statin, thuốc viên hạ đường huyết, sắt)(2,4,18) Ngoài ra còn do bệnh viêm ống tiêu hóa mới xuất hiện sau ghép, bệnh mảnh ghép chống ký chủ

Khám lâm sàng có những dấu hiệu ở bụng khác nhau tùy vào giai đoạn bệnh Không có dấu hiệu gì vào giai đoạn sớm của bệnh Đau nhẹ ở đại tràng xuống và đại tràng sigma khi ruột đã bị ảnh hưởng Sốt và có dấu phúc mạc, tiếng nhu động ruột bất thường Viêm đại tràng do CMV trên bệnh nhân có bệnh viêm ống tiêu hóa từ trước có khả năng gây những biến chứng nặng như toxic megacolon, dò đại tràng – bàng quang, thủng ruột và viêm phúc mạc gây tình trạng

viêm ống tiêu hóa dường như có liên quan đến việc nhiễm CMV hoặc tái hoạt, điều này phù hợp với giả thuyết CMV thường hướng đến tăng sinh trong mô hạt Viêm toàn bộ ruột già gây ra một vùng lớn niêm mạc bị loét, dẫn đến tăng sinh của CMV Một số nghiên cứu cho thấy luôn tìm thấy CMV trong mô hạt và những mô loét sâu, cho thấy CMV lan tỏa trong niêm mạc bị viêm thông qua tế bào đơn nhân, sau đó tăng sinh trong niêm mạc

CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH

Ở bệnh nhân ghép tạng đặc, chẩn đoán nhiễm CMV dựa trên phát hiện CMV trong máu ngoại vi Chẩn đoán bệnh CMV dựa trên sự hiện diện của dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng “điển hình” của cơ quan đích kèm phát hiện CMV trong máu và/hoặc trong cơ quan bị ảnh hưởng

Huyết thanh học CMV(9,14): tìm kháng thể

Trang 4

CMV-IgM có độ nhạy 100% và đặc hiệu 99% cho

những nhiễm trùng gần đây Nồng độ IgM

thường giảm xuống sau 2-3 tháng nhiễm CMV

cấp và không phát hiện được sau 12 tháng Ở

bệnh nhân suy giảm miễn dịch bị nhiễm CMV

hoạt động, IgM có thể không được phát hiện

trong một số trường hợp Kháng thể đặc hiệu

CMV-IgG tăng gấp 4 lần bình thường, xuất hiện

sau IgM 2-4 tuần, gợi ý nhiễm cấp Điều này gây

hạn chế trong chẩn đoán cho bệnh nhân ghép

tạng đặc bị bệnh đường tiêu hóa nặng vì nồng

độ IgG trước đó thường không có sẵn

Tìm kháng nguyên CMV trong máu(14,16,17,21): là

test miễn dịch huỳnh quang bán định lượng

phát hiện phosphoprotein 65 (pp65) được sản

xuất bởi tế bào bạch cầu bị nhiễm CMV trong

máu ngoại vi Kết quả thể hiện số tế bào dương

tính pp65 trên số bạch cầu đánh giá Xét

nghiệm có độ nhạy (54 – 64%) và độ đặc hiệu

cao (88 – 94%) Tế bào dương tính pp65 càng

cao thì tỉ lệ bị bệnh CMV có triệu chứng càng

nhiều Xét nghiệm dễ thực hiện và không cần

thiết bị đắt tiền Bệnh phẩm là máu hoặc dịch

não tủy, độ nhạy và đặc hiệu tương đương với

cấy nhưng là phương pháp bán định lượng, dễ

cho ra kết quả chủ quan, khác nhau giữa các

phòng xét nghiệm Hơn nữa, mẫu máu toàn

phần phải được làm trong vòng 6-8 giờ sau khi

lấy ra khỏi cơ thể để tránh làm giảm độ nhạy,

và xét nghiệm không thể thực hiện nếu bạch

cầu trong máu giảm thấp (< 200/µL)

Định lượng CMV DNA(10,14,17): PCR hoặc

tương, bạch cầu, phân, hoặc mô Những test này

có thể định tính hoặc định lượng Độ nhạy thay

đổi từ 64-100% và độ đặc hiệu từ 40-92% Tải

lượng CMV càng cao, bệnh nhân càng có nhiều

triệu chứng và giúp ích trong theo dõi điều trị Nhưng có một số hạn chế đặc biệt là phương pháp định lượng: những khoang máu khác nhau

có nồng độ DNA-CMV khác nhau, chưa có điểm cắt được chuẩn hóa để xác định có bệnh Test DNA-CMV tương hợp với test tìm kháng nguyên khoảng 80%

Tìm kháng nguyên pp65 trong máu và CMV DNA PCR thích hợp trong theo dõi nhiễm CMV

ở những trường hợp điều trị đón đầu, chẩn đoán bệnh CMV ở bệnh nhân ghép tạng đặc có triệu chứng và theo dõi đáp ứng điều trị kháng virus Lựa chọn xét nghiệm nào tùy thuộc vào điều kiện sẵn có và kỹ thuật của những phòng xét nghiệm địa phương Tuy nhiên, cả hai đều không đủ nhạy để chẩn đoán bệnh CMV đường tiêu hóa và do đó, nếu âm tính, không thể loại trừ nhiễm loại trừ nhiễm CMV đường tiêu hóa

Cấy CMV(9,20): Nuôi cấy virus từ mô bệnh phẩm không phổ biến vì độ nhạy thấp (< 45%)

và cần thời gian dài (nhiều ngày đến nhiều tuần) Nuôi cấy virus từ phân hoàn toàn không

có giá trị

Nội soi(20,25): cho thấy có tổn thương ống tiêu

hóa gồm đỏ, xuất tiết, phù nề, viêm trợt, loét, giả

u và thậm chí có biểu hiện của viêm đại tràng giả mạc Nếu mẫu sinh thiết được lấy ở vùng niêm mạc bị tổn thương, đặc biệt ở trung tâm của vết loét, chẩn đoán dương tính sẽ cao hơn CMV thường gây bệnh bên đại tràng phải, nhưng khả năng tìm thấy bệnh cũng có thể có ở vùng niêm mạc mà đại thể thấy bình thường

Mô bệnh học CMV(20,25): là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán CMV xâm lấn cơ quan (VD: viêm ruột CMV) Điển hình là hiện diện tế bào khổng lồ trên mẫu mô ruột (lấy qua nội soi) được nhuộm H&E, những tế bào này chứa thể

Trang 5

vùi nhân lớn, thỉnh thoảng được bao quanh bởi

vòng trong suốt (hình ảnh “mắt cú”) và những

thể vùi trong tương bào nhỏ hơn Những tế bào

này có thể nhìn thấy ở tế bào nội mô mạch máu

trong thành ruột, tế bào biểu mô ruột Nhiều

nghiên cứu khẳng định tế bào này đặc hiệu cho

chẩn đoán nhiễm CMV nhưng đôi khi khó tìm

thấy, cần nhiều thời gian hơn và sự nỗ lực của

các nhà giải phẫu bệnh Hóa mô miễn dịch với

kháng thể đơn dòng chống CMV làm tăng tỉ lệ

chẩn đoán xác định so với chỉ nhuộm H&E

truyền thống, độ nhạy cảm xấp xỉ 93% Tuy

nhiên, kết quả sẽ âm tính giả nếu lấy mẫu sinh

thiết ở vùng không có CMV

ĐIỀU TRỊ

Ganciclovir truyền tĩnh mạch là điều trị hàng

đầu ở bệnh CMV đường tiêu hóa Liều dùng

5mg/kg mỗi 12 giờ, truyền tĩnh mạch trong 60

phút, thời gian điều trị tối thiểu 2 - 3 tuần(9, 20)

Cần theo dõi kháng nguyên pp65 máu hoặc

CMV DNA mỗi tuần cho đến khi âm tính hai

lần Tác dụng phụ thường gặp nhất của

ganciclovir là giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, nổi

ban, hạ huyết áp, buồn nôn, nôn và đau đầu

Mặc dù valganciclovir có thể điều trị thành công

bệnh CMV đường tiêu hóa như một vài nghiên

cứu đã công bố, cho đến khi có thêm bằng chứng

chắc chắn, thuốc này chưa thể được khuyến cáo

là điều trị hàng đầu cho bệnh CMV đường tiêu

hóa, mà chỉ nên xem xét là điều trị cứu cánh

trường hợp bệnh nặng không đáp ứng điều trị,

tải lượng virus cao, hoặc giảm bạch cầu, liều

thuốc ức chế miễn dịch cần giảm cho đến khi

bệnh cải thiện mặc dù phải đối diện với nguy cơ

thải ghép

Bảng 1: Kháng virus dùng trong điều trị bệnh CMV

và trong điều trị đón đầu HD, hemodialysis (lọc máu); IV, intravenous (truyền tĩnh mạch)

IV ganciclovir (truyền chậm ít nhất trên 1 giờ)

lần/tuần sau HD

Những trường hợp nặng đe dọa tính mạng, hoặc ganciclovir không dung nạp do ức chế tủy nặng, cần chuyển sang phối hợp với foscarnet

thuốc ức chế chuỗi DNA polymerases của tất cả herpes virus và không như ganciclovir không cần phosphoryl hóa để có tác dụng Thuốc dùng đường tĩnh mạch với liều 90mg/Kg mỗi 12 giờ, truyền tĩnh mạch trong ít nhất 2 giờ, điều trị trong 2-3 tuần, và theo dõi nồng độ magnesium

và calcium máu Mặc dù cidofovir được dùng điều trị bệnh CMV, có rất ít nghiên cứu về sử dụng thuốc này trong bệnh cảnh CMV đường tiêu hóa và thuốc cũng gây độc thận lệ thuộc liều tương tự foscarnet

CMV hyperimmune globulin có thể có lợi, nhưng chỉ xem là điều trị hỗ trợ trong trường

đỡ gồm thuốc ngăn ngừa hoặc giảm tiêu chảy, thuốc giảm đau Chú ý bổ sung dinh dưỡng hoặc dinh dưỡng tĩnh mạch (IV) phòng ngừa mất cơ

do bệnh nặng Điều trị phẫu thuật khi có biến chứng ngoại khoa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alhyraba M, Grim SA, et al (2007) Unusual presentation

of cytomegalovirus enteritis after liver and kidney

transplantation Transplant Infectious Disease, 9 (4): p

343-346

Trang 6

2 Arslan H, Inci EK, et al (2007) Etiologic agents of

diarrhea in solid organ recipients Transplant Infectious

Disease, 9 (4): p 270-275

3 Asberga A, Humarb A, et al (2007) Oral Valganciclovir Is

Noninferior to Intravenous Ganciclovir for the Treatment

of Cytomegalovirus Disease in Solid Organ Transplant

Recipients American Journal of Transplantation, 7: p 2106–

2113

4 Aulagnon F, Scemla A, et al (2014) Diarrhea after Kidney

Transplantation: A New Look at a Frequent Symptom

Transplantation, 98: p 806-816

5 Bataille S, Moal V, et al., Cytomegalovirus risk factors in

renal transplantation with modern immunosuppression

Transplant Infectious Disease, 12 (6): p 480-488

6 Brennan DC, Legendre C, et al (2011) Cytomegalovirus

Incidence between Everolimus versus Mycophenolate in

De Novo Renal Transplants: Pooled Analysis of Three

Clinical Trials American Journal of Transplantation, 11: p

2453–2462

7 Carstens J, Andersen HK, et al (2006) Cytomegalovirus

infection in renal transplant recipients Transplant

Infectious Disease, 8 (4): p 203-212

8 Cervera C, Fernández-Ruiz M, et al (2011) Epidemiology

and risk factors for late infection in solid organ transplant

recipients Transplant Infectious Disease, 13 (6): p 598-607

9 Christidou A, Zambeli E, and Mantzaris G (2007)

Cytomegalovirus and Inflammatory Bowel Disease:

pathogenicity, diagnosis and treatment Annals of

Gastroenterology, 20 (2): p 110-115

10 Durand CM, Marr KA, et al (2014) Detection of

Cytomegalovirus DNA in Plasma as an Adjunct

Diagnostic for Gastrointestinal Tract Disease in Kidney

and Liver Transplant Recipients Clinical Infectious

Diseases, 57 (11): p 1550-1559

11 Garrido E, Carrera E, et al (2013), Clinical significance of

cytomegalovirus infection in patients with inflammatory

bowel disease World J Gastroenterol, 19 (1): p 17-25

12 Helanterä I, Schachtner T, et al., (2014) Current

characteristics and outcome of cytomegalovirus infections

after kidney transplantation Transplant Infectious Disease

16(4): p 568-577

13 Indriolo A and Ravelli P (2014), Clinical management of

inflammatory bowel disease in the organ recipient World J

Gastroenterol, 2014 20(13): p 3525-3533

Clinician's Update Am J Kidney Dis., 2011 58(1): p

118-126

15 Kidney Disease: Improving Global Outcomes (KDIGO) Transplant Work Group (2009), KDIGO Clinical Practice Guideline for the Care of Kidney Transplant Recipient

Chapter 13: viral diseases Am J Transplant, 2009 9(3): p

S44-S58

16 Kotton CN, Kumar D et al (2013), Updated International

Cytomegalovirus in Solid-Organ Transplantation

Transplantation, 2013 96: p 333-360

17 Lazzarotto T (2011), The best practices for diagnosis and monitoring of CMV infection in immunocompromised

patients HAART, 10: p 290-298

18 Lee LY and Ison MG (2014), Diarrhea caused by viruses in

transplant recipients Transplant Infectious Disease 16(3): p

347-358

19 Lee, Y.M., Y.H Kim, et al (2014), Cytomegalovirus infection after acute rejection therapy in seropositive

kidney transplant recipients Transplant Infectious Disease

16(3): p 397-402

Cytomegalovirus Infection of the Gastrointestinal System

in Solid Organ Transplant Recipients Curr Infect Dis Rep,

2012 14(1): p 33-40

21 Nagata N, Kobayakawa M, et al (2011), Diagnostic value

of antigenemia assay for cytomegalovirus gastrointestinal

disease in immunocompromised patients World J

Gastroenterol, 2011 17(9): p 1185-1191

22 Varani S and Landini MP (2011), Cytomegalovirus-induced immunopathology and its clinical consequences

Herpesviridae, 2011 2(6): p 1-14

23 Weikert BC and Blumberg EA, (2008), Viral Infection after Renal Transplantation: Surveillance and Management

Clin J Am Soc Nephrol, 2008 3: p S76-S86

24 Yi F, Zhao J, et al (2013), The prevalence and risk factors

of cytomegalovirus infection in inflammatory bowel

disease in Wuhan, Central China Virology Journal, 2013

10(43): p 1-10

25 You DM, Mark MD (2012), Cytomegalovirus Infection and

the Gastrointestinal Tract Curr Gastroenterol Rep, 2012

14(4): p 334-342

Ngày đăng: 15/01/2020, 10:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w