1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả sớm điều trị u mô đệm đường tiêu hóa bằng phẫu thuật tại Bệnh viện Bình Dân

6 132 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 285,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

U mô đệm đường tiêu hóa là dạng u tế bào trung mô hiếm gặp ở đường tiêu hóa. Dạ dày và ruột non là vị trí thường gặp nhất. Chẩn đoán trước và trong phẫu thuật thường khó khăn, chỉ nhờ vào nhuộm hóa mô miễn dịch (CD117) để chẩn đoán xác định sau phẫu thuật. U có tiềm năng ác tính từ thấp đến cao. Phẫu thuật là phương pháp điều trị được lựa chọn đầu tiên sau đó kết hợp với liệu pháp nhắm trúng đích với thuốc ức chế tyrosin kinase chuyên biệt (imatinib).

Trang 1

KẾT QUẢ SỚM ĐIỀU TRỊ U MÔ ĐỆM ĐƯỜNG TIÊU HÓA

BẰNG PHẪU THUẬT TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN

Nguyễn Phú Hữu*, Đỗ Minh Hùng*, Hoàng Vĩnh Chúc*, Đỗ Bá Hùng*

TÓM TẮT

Mở đầu: U mô đệm đường tiêu hóa là dạng u tế bào trung mô hiếm gặp ở đường tiêu hóa Dạ dày và ruột

non là vị trí thường gặp nhất Chẩn đoán trước và trong phẫu thuật thường khó khăn, chỉ nhờ vào nhuộm hóa mô miễn dịch (CD117) để chẩn đoán xác định sau phẫu thuật U có tiềm năng ác tính từ thấp đến cao Phẫu thuật là phương pháp điều trị được lựa chọn đầu tiên sau đó kết hợp với liệu pháp nhắm trúng đích với thuốc ức chế tyrosin kinase chuyên biệt (imatinib)

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm điều trị u mô đệm đường tiêu hóa bằng

phẫu thuật

Thiết kế: Báo cáo hàng loạt ca, 79 trường hợp GIST được phẫu thuật tại bệnh viện Bình Dân từ 1/2010 đến

7/2015

Kết quả: Đặc điểm lâm sàng: tỉ lệ nam: nữ là 0,93:1 Tuổi trung bình 55 ± 14 Phân bố vị trí bướu ở đường

tiêu hóa theo thứ tự như sau: thực quản (1,3%), dạ dày (54,4%), ruột non và mạc treo ruột non (31.6%), trực trực tràng (7.6%), nơi khác trong ổ bụng (5,1%) Triệu chứng thường gặp: đau bụng (63,3%), sờ thấy bướu (26,6%), xuất huyết tiêu hóa và thiếu máu (24,1%), tắc ruột (5,1%), triệu chứng khác (18,9%), đặc biệt không có triệu chứng (15.2%) Các xét nghiệm cận lâm sàng thường gợi ý chẩn đoán chứ không đặc hiệu bao gồm siêu âm bụng, CT-Scan ổ bụng, nội soi cũng như X quang dạ dày và đại tràng Phương pháp phẫu thuật cắt trọn bướu (88.6%), cắt bướu và cơ quan bị xâm lấn (8,9%), sinh thiết bướu (2,5%), không tai biến cũng như biến chứng nặng sau phẫu thuật Có 3 bệnh nhân tái phát sau phẫu thuật

Kết luận: GIST thường được chẩn đoán sau phẫu thuật nhờ vào nhuộm hóa mô miễn dịch với CD117, triệu

chứng lâm sàng và cận lâm sàng thường đa dạng và gợi ý chẩn đoán Phẫu thuật kết hợp với liệu pháp nhắm trúng đích (imatinib) là phương pháp điều trị chủ yếu hiện nay

Từ khóa: GIST, đường tiêu hóa, phẫu thuật

ABSTRACT

MANAGEMENT OF GASTRO-INTESTINAL STROMAL TUMOR (GIST) BY SURGERY AT BINH DAN

HOSPITAL: THE EARLY RESULTS

Nguyen Phu Huu, Do Minh Hung, Hoang Vinh Chuc, Do Ba Hung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 354 - 359

Introduction: Gastro-intestinal stromal tumor (GIST) is a rare mesenchymal tumor of the gastrointestinal

tract Stomach and small intestine are the most common sites The preoperative and intraoperative diagnosis is usually difficult Immunohistochemical staining with antibody CD117 is usually used to determine diagnosis postoperative The tumors are ranked from low malignant potential to high malignant Surgery is the first choice, can be associated with targeted therapy, a competitive inhibitor of specific tyrosine kinase (imatinib)

The aim of the study: To describe the clinical and subclinical characterization, management of

Gastro-*Bệnh viện Bình Dân

Trang 2

intestinal stromal tumor by surgery (the early results)

Materials and methods: case series report, all 79 GISTs patients were operated from January 2010 to July

2015 at Binh Dan hospital

Results: Male and female ratio was 0.93/1 The patients’ average age was 55 ± 14 The tumors were

mainly located in the esophagus (1.3%), stomach (54.4%), small intestine and mesenteric small intestine (31.6%), colon and rectum (7.6%), and other positions in abdomen (5.1%) The main symptoms were abdominal pain (63.3%), palpable abdominal mass (26.6%), gastrointestinal bleeding and anemia (24.1%), obstruction (5.1%), other symptoms (18.9%) or even without any specific symptoms (15.2%) Subclinical testings often suggest the diagnosis but unspecific including: ultrasound, CT-Scan, contrasted X-Ray digestive tract and endoscopy Operative methods are resection tumor (88.6%), resection tumor with invaded organs (8.9%) and biopsy tumor (2.5%) There was no intraoperative complication or major postoperative complication Recurrence was noted in 3 patients

Conclusion: GIST is often determined within postoperative by immunohistochemical staining with antibody

CD117 The symptoms and subclinical testings are varied and unspecific Nowadays, surgery associating with targeted therapy (imatinib) is the main method

Key words: GIST, digestive tract, surgery

ĐẶT VẤN ĐỀ

U mô đệm đường tiêu hóa (GIST:

Gastrointestinal Stromal Tumor) là loại u ít

gặp trong các u đường tiêu hóa, chiếm tỷ lệ

khoảng 1% đến 3% U có thể xuất hiện bất cứ

nơi nào của ống tiêu hóa từ thực quản đến hậu

môn, dạ dày và ruột non thường gặp nhất(4,5,7)

Lúc đầu người ta nghĩ u mô đệm đường tiêu

hóa xuất phát từ tế bào cơ trơn hay u thần

kinh Năm 1983, Mazur và Clark đề xuất thuật

ngữ “u mô đệm” (stromal tumor), nhưng vẫn

chưa được chấp nhận rộng rãi cho đến khi

CD34, CD117 được xác định là dấu ấn miễn

dịch của u mô đệm đường tiêu hóa(6)

U có thể phát hiện được nhờ triệu chứng lâm

sàng hay phát hiện một cách tình cờ Các

phương tiện chẩn đoán hình ảnh gợi ý chẩn

đoán là nội soi đường tiêu hóa, siêu âm bụng,

chụp dạ dày cản quang, chụp đại tràng cản

quang hoặc chụp cắt lớp vi tính Do đó hầu hết

các u mô đệm đường tiêu hóa được chẩn đoán

sau mổ và dựa vào hóa mô miễn dịch Gần đây

người ta tiến thêm một bước nữa trong việc chẩn

đoán và điều trị GIST là giải trình tự gen, bằng

cách này chúng ta có thể biết chính xác exon nào

bị đột biến và nhạy với thuốc nào trong quá

trình hóa trị sau này Về mặt điều trị phẫu thuật hiện nay là phương pháp điều trị chính đối với những u chưa xâm lấn và chưa di căn Đa số các tác giả đồng thuận rằng cắt trọn u và cơ quan mang u với bờ diện cắt 1-2cm U mô đệm đường tiêu hóa có khuynh hướng tái phát tại chỗ và di căn còn khá cao mà những yếu tố tiên lượng giúp cho phẫu thuật triệt để, tiên lượng tái phát còn chưa xác định rõ ràng do đó liệu pháp nhắm trúng đích sau mổ tỏ ra hiệu quả(2)

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế và đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, 79 trường hợp GIST được phẫu thuật tại bệnh viện Bình

Dân từ 1/2010 đến 7/2015

Tiêu chuẩn chọn lựa

Những bệnh nhân được phẫu thuật và có kết quả giải phẫu bệnh là u mô đệm đường tiêu hóa

có nhuộm hóa mô miễn dịch (CD117 dương tính

hoặc có giải trình tự gen)

Phương pháp tiến hành

Số liệu được thu thập theo biểu mẫu chung

từ hồ sơ bệnh án và những dữ kiện khi tái khám bệnh nhân hoặc những thông tin do thân nhân

cung cấp

Trang 3

Đặc điểm lâm sàng

Hoàn cảnh phát hiện bệnh, thời gian bệnh,

các triệu chứng lâm sàng như đau bụng, chảy

máu tiêu hóa, sờ được u, nôn ói, tiêu chảy

Đặc điểm cận lâm sàng

Các dấu hiệu trên: X quang tiêu hóa có dùng

chất cản quang, NS dạ dày, NS đại tràng, trực

tràng, CT Scan

Kết quả phẫu thuật

Các phương pháp phẫu thuật, tai biến trong

và sau phẫu thuật, tái phát

KẾT QUẢ

Đặc điểm lâm sàng

Tỷ lệ nam: nữ là 0,93: 1 Tuổi trung bình 55 ±

14, nhỏ nhất 25 và lớn nhất 88

Kích thước khối u trung bình 76 ± 43 (mm),

kích thước nhỏ nhất 10mm, kích thước to nhất

250mm

Bảng 1: Phân bố vị trí bướu ở đường tiêu hóa

Vị trí Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Trong 79 trường hợp, có 14 trường hợp phát

hiện tình cờ, số còn lại 65 trường hợp có triệu

chứng lâm sàng

Bảng 2: Triệu chứng lâm sàng thường gặp

Triệu chứng Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Đặc điểm cận lâm sàng

Đặc điểm của X quang đường tiêu hóa cản

quang: chúng tôi có 25/43 (58,1%) bệnh nhân có

chụp dạ dày cản quang và 4/6 (67,7%) bệnh nhân

có chụp đại tràng cản quang, dạng tổn thương

thường gặp nhất là hình khuyết bờ trơn láng

65,5%, hình khuyết bờ nham nhở 13,8% và không thấy tổn thương là 20,7%

Đặc điểm trên CT-Scan: Có 54/79 (68,3%) bệnh nhân có chụp CT-Scan bụng có cản quang

và tất cả các trường hợp đều phát hiện được tổn thương Kích thước khối u trung bình 74 ± 45 (mm), kích thước nhỏ nhất 10mm, kích thước to nhất 280mm Đa số trường hợp u bắt thuốc cản quang đậm độ không đồng nhất và chưa có dấu hiệu xâm lấn chung quanh Khả năng chẩn đoán đúng vị trí tổn tương của CT-Scan so với lúc mổ

là 46/54 (85,2%) trường hợp

Đặc điểm trên nội soi tiêu hóa: Có 40/43 (93%) bệnh nhân được nội soi dạ dày và các dạng tổn thương thường gặp trên nội soi dạ dày

là tổn thương u dưới niêm với bề mặt niêm mạc trơn láng hoặc bề mặt niêm mạc có viêm loét thỉnh thoảng có xuất huyết rỉ rả trên bề mặt loét

Kết quả phẫu thuật

Tất cả các bệnh nhân được phẫu thuật với các phương pháp theo bảng 3, chúng tôi chưa ghi nhận biến chứng nghiêm trọng trong mổ và trong thời gian nằm viện Sau đó các bệnh nhân được gởi sang BV Chợ Rẫy và BV Ung bướu tham gia chương trình VPAP (Vietnam Patient Assistant Program) và chương trình GIPAP (Gleevec International Patient Assistant Program) Đây là chương trình hỗ trợ thuốc imatinib (Gleevec) cho bệnh nhân Việt Nam của công ty Novatis Chúng tôi theo dõi được 40/79 (51%) trường hợp với thời gian trung bình 24 tháng (từ 3 tháng đến 48 tháng) Chúng tôi có 3 trường hợp bệnh nhân tái phát sau phẫu thuật, hai trường hợp GIST ruột non và một trường

hợp GIST trực tràng

Bảng 3: Các phương pháp phẫu thuật

Phương pháp Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Trang 4

BÀN LUẬN

Tuổi và giới

GIST có sự phân bố đều cho cả hai giới,

trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ nữ có trội

hơn một ít (0.93/1) nhưng vẫn phù hợp với

nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, theo

tác giả Hứa Thị Ngọc Hà (14) qua 130 trường

hợp GIST khảo sát tỷ lệ nam/nữ 0.91/1, theo

tác giả Claudia Mucciarini (12) tỷ lệ này là

0.86/1 Nghiên cứu của chúng tôi có độ tuổi

mắc bệnh rộng từ (25-88) Tuổi trung bình 55 ±

14, nhóm tuổi thường gặp nhất từ 55-59 tuổi

chiếm 32.9% Kết quả này phù hợp với nhiều

nghiên cứu khác là GIST thường xảy ra ở

những bệnh nhân lớn tuổi (trên 50 tuổi)(12)

Vị trí u

Theo bảng 1, trong nghiên cứu của chúng tôi

vị trí thường gặp nhất là dạ dày 43 ca (54,4%)

tiếp đến là ruột non 25 ca (31,6%), các vị trí ít gặp khác lần lượt là đại trực tràng và thực quản, đặc biệt có 4 ca (5,1%) nằm ngoài đường tiêu hóa So sánh với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước với cở mẫu lớn (bảng 4) hơn đều thấy rằng hai vị trí thường gặp nhất GIST là dạ dày và ruột non Ảnh hưởng của vị trí u lên tiên lượng còn nhiều tranh cãi Tuy nhiên, một điểm khá thú vị là nhiều nghiên cứu khẳng định GIST ở dạ dày có tiên lượng tốt hơn, ít tái phát và di căn hơn so với vị trí ruột non khi so sánh u ở cùng kích thước và chỉ số phân bào(14) U ở ruột non có khả năng tái phát cao gấp 4 lần u ở dạ dày (40% so với 9%) Một cách tổng quát, 20-25% GIST dạ dày biểu hiện ác tính, ngược lại có đến 40-50% GIST ruột non biểu hiện ác tính(11)

Bảng 4: Vị trí u của một số nghiên cứu

Chúng tôi

79 ca

Alvarado-Cabrero I

270 ca (1)

Thomas Trần 1.458 ca (17)

Kim KM

747 ca (8)

Ngô Quốc Đạt

130 ca (14)

Kích thước và số lượng u

Kích thước khối u trung bình trong nghiên

cứu của chúng tôi là 76 mm, kết quả này cũng

không khác biệt nhiều so với các tác giả khác,

theo Lin(10) và cộng sự kích thước trung bình u là

75 mm còn Sandrasegan(15) là 88 mm Kích thước

u là một yếu tố rất quan trọng, yếu tố này cùng

với số phân bào trên quang trường 50 để xác

định nguy cơ ác tính của GIST Đa số GIST biểu

hiện một khối u Tuy nhiên, một tỉ lệ nhỏ các ca

có nhiều hơn một u, đặc biệt những trường hợp

GIST có tính gia đình và các trường hợp đa u chủ

yếu xảy ra ở ruột non(5) Trong nghiên cứu của

chúng tôi có 1 (1,2%) trường hợp đa u là ở ruột

non, nghiên cứu của Kim KM và cộng sự(8) trên

747 ca có 11 ca đa u, trong đó 8 ca u ở ruột non

Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng thường gặp nhất trong nghiên cứu của chúng tôi là đau bụng, tiếp đến là sờ được u ổ bụng và triệu chứng thiếu máu cũng như xuất huyết tiêu hóa Đa số các tác giả khác đều ghi nhận đau bụng mơ hồ là triệu chứng thường gặp nhất, tiếp đến là chảy máu tiêu hóa

và sờ được u ổ bụng(10,12) Theo tác giả Lin(10) và cộng sự khảo sát trên 91 bệnh nhân GIST thì triệu chứng đau bụng mơ hồ chiếm 33%, xuất huyết tiêu hóa 33%, sờ được u bụng 7.7% Tuy nhiên cũng có tác giả ghi nhận rằng triệu chứng xuất huyết tiêu hóa thường gặp hơn, tiếp theo sau là đau bụng mơ hồ, theo tác giả Chan KH(3) khảo sát 47 bệnh nhân GIST thì triệu chứng xuất huyết tiêu hóa chiếm 28 (60%), 21 (45%) bệnh nhân đau bụng và 7 (21%) bệnh nhân sờ được u

Trang 5

ổ bụng Ngoài ba triệu chứng thường gặp trên

thi y văn thế giới cũng ghi nhận rằng triệu

chứng ít gặp của GIST liên quan đến vị trí u như

nuốt nghẹn do GIST tâm vị, GIST ruột non có thể

gây tắc ruột, GIST đại trực tràng triệu chứng rối

loạn đi tiêu

Triệu chứng cận lâm sàn

Chụp dạ dày- tá tràng và chụp đại tràng có

dùng thuốc cản quang là phương tiện CĐHA ít

xâm lấn và có giá trị trong công tác chẩn đoán u

đường tiêu hóa nói chung, nhưng đối với u mô

đệm đường tiêu hóa thì giá trị của phương tiện

này chỉ giới hạn ở mức thấy được hình khuyết

thuốc có bờ trơn láng (u từ mô đệm hay ngoài

đường tiêu hóa) hay hình ảnh bờ nham nhở

không đều (do u lớn xâm lấn vào lớp niêm mạc

tạo nên viêm hay loét niêm mạc đường tiêu

hóa)(4) Chúng tôi có 25/43 (58.1%) bệnh nhân có

chụp dạ dày cản quang và 4/6 (67.7%) bệnh nhân

có chụp đại tràng cản quang, dạng tổn thương

thường gặp nhất là hình khuyết bờ trơn láng

65.5%, hình khuyết bờ nham nhở 13.8% và

không thấy tổn thương là 20.7% Kết quả này

cũng tương tư nhiều nghiên cứu khác(10,11)

Nội soi (NS) dạ dày-tá tràng hay NS đại

tràng cho thấy hình ảnh u dưới niêm mạc đẩy

nhô niêm mạc lên Niêm mạc có thể bình thường

hay viêm hoặc loét Qua hình ảnh NS đường tiêu

hóa trên hoặc dưới thì không thể phân biệt được

u mô đệm đường tiêu hóa với những u dưới

niêm khác của đường tiêu hóa hoặc u ngoài

đường tiêu hóa chèn vào(2,4,16) Chúng tôi có 93%

bệnh nhân có nội soi dạ dày và sinh thiết, tuy

nhiên kết quả chỉ mô viêm mạn, không có

trường hợp nào chẩn đoán GIST, kết quả này

cũng phù hợp với GIST vì bản chất GIST là u

dưới niêm mạc mà sinh thiết qua NS tiêu hóa chỉ

lấy được bề mặt niêm mạc(2,4)

Chụp CT-Scan là phương tiện chẩn đoán

hình ảnh có chi phí khá cao đối với các nước

đang phát triển và kém phát triển Đây là

phương tiện chủ yếu để đánh giá mức độ xâm

lấn và lập kế hoạch điều trị Cắt lớp vi tính cho

biết vị trí, số lượng, kích thước u, giới hạn của u

so với mô chung quanh, hoại tử trong u và đậm

độ của u là đồng nhất hay không đồng nhất cả trên phim có và không có cản quang Phương tiện này còn cho biết u có xâm lấn hạch hay di căn xa(2,16) Đa số các tác giả đều nhận thấy rằng các dấu hiệu trên CT Scan thay đổi theo kích thước của u, những u nhỏ còn trong thành của ống tiêu hóa có bờ sẽ rõ và đậm độ đồng nhất trên phim có và không có thuốc cản quang, ngược lại những u có kích thước lớn thường có

bờ không đều, phát triển ra khỏi thành của ống tiêu hóa và đậm độ không đồng nhất Đối với GIST có tiềm năng ác tính cao, CT Scan có một số hình ảnh gợi ý như vôi hóa, hoại tử, có nang bên trong thậm chí hình thành đường rò, báng bụng

và xâm lấn chung quanh(2) Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng nên chụp CT Scan cho những bệnh nhân nghĩ tới chẩn đoán GIST

Kết quả phẫu thuật

Mặc dù ngày nay đa mô thức điều trị ung

thư nói chung và u mô đệm đường tiêu hóa nói riêng nhưng phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị chủ yếu đối với những u nguyên phát còn khả năng cắt bỏ được và chưa có dấu hiệu di căn (chiếm khoảng 70-80% các trường hợp)(2) Trong quá trình phẫu thuật, cần tránh làm vỡ u, cắt cách bờ u 1-2 cm về phía mô lành và thấy mặt cắt không còn mô u là được Nạo hạch là không cần thiết Trong lúc mổ phải thám sát thật kỹ ổ bụng, đặc biệt là phúc mạc và gan để tìm những

di căn sớm, cần phải thao tác hết sức nhẹ nhàng

vì vỏ của u dễ rách và u thường được cấp máu

từ các cơ quan lân cận nên dễ làm vỡ u và chảy máu U vỡ sẽ tạo điều kiện cho gieo rắc tế bào u khắp khoang phúc mạc, tạo điều kiện cho sự tái phát sau phẫu thuật(4) Những bệnh nhân sau mổ

sẽ được hóa trị tiếp tục tùy vào nguy cơ ác tính Trong nghiên cứu của chúng tôi có 40 bệnh nhân theo dõi được, số bệnh nhân còn lại chúng tôi mất dấu với nhiều lý do như bệnh nhân nước ngoài (thường người Camphuchia), bệnh nhân không tái khám, bệnh nhân đổi sối điện thoại hay chỗ ở Trong các bệnh nhân theo dõi được

Trang 6

thì có 3 trường hợp bệnh nhân tái phát sau phẫu

thuật, hai trường hợp GIST ruột non và một

trường GIST trực tràng Hai trường hợp GIST

ruột non tái phát trong lúc phẫu thuật bướu to

với đường kính gần 200mm và có xâm lấn chung

quanh Trường hợp GIST trực tràng nằm ngay

vách trực tràng âm đạo với đường kính 5cm Cả

ba trường hợp bệnh nhân ở tỉnh không tái khám

nên không tư vấn được hóa trị imatinib Sau đó

bệnh nhân tái phát và trở lại bệnh viện với thời

gian khoảng 14 tháng so với lần mổ trước và

được phẫu thuật lại, hiện tại bệnh nhân ổn định

đang hóa trị Tác giả Miettinen(11) theo dõi lâu dài

hai nhóm bệnh nhân GIST ở dạ dày và ở ruột

non (mỗi nhóm 900 bệnh nhân) với phân nhóm

nguy cơ ác tính dựa và chỉ số phân bào trên

QT50 và kích thước khối u, tác giả nhận thấy

rằng với cùng một chỉ số phân bào và cùng kích

thước nhưng GIST ruột non có tiềm năng ác tính

cao hơn GIST dạ dày, như vây vị trí của u cũng

là một yếu tố rất quan trọng trong tiên lượng của

bệnh, những vị trí khác hiếm gặp hơn nên chưa

có nghiên cứu cụ thể nhưng tác giả khuyên rằng

chúng ta nên xem nguy cơ ác tính giống như

GIST ruột non Tác giả Kim(9) theo dõi 104 ca

GIST dạ dày thời gian theo dõi trung bình 4 năm

(ngắn nhất 1 năm và lâu nhất 14 năm), tác giả ghi

nhận có 5 trường hợp tái phát, cả 5 trường hợp

này phẫu thuật lần đầu u có tiềm năng cá tính

cao với đường kính hơn 10cm và độ phân bào

lớn hơn 5/QT50 Có 2 bệnh nhân tái phát phúc

mạc, một bệnh nhân tái phát ở dạ dày, một bệnh

nhân tái phát ở gan và bệnh nhân sau cung tái

phát ở đại tràng, có ba bệnh nhân được phẫu

thuật lại và hai bệnh nhân điều trị với imatinib

KẾT LUẬN

GIST biểu hiện lâm sàng đa dạng, cận lâm

sàng không đặc hiệu, chỉ gợi ý chẩn đoán, phẫu

thuật là phương pháp điều trị chính Ngày nay

với giải trình tự gen đã giúp ích rất nhiều cho

liệu pháp nhắm trúng đích nhằm tránh tái phát

cũng như những trường hợp GIST quá khả năng

phẫu thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alvarado-Cabrero I, Vázquez G et al (2007) Clinicopathologic study of 275 cases of gastrointestinal stromal tumors: the

experience at 3 large medical centers in Mexico Annals of Diagnostic Pathology, pp 39-45

2 Bertagnolli MM (2004) Gastrointestinal stromal tumors

Maingot’s abdominal operations, 4, pp 439-454 (5)

3 Chan KH, Chan CW, Chow WH et al (2006) Gastrointestinal stromal tumors in a cohort of chinese patients in Hong Kong

World J Gastroenterol, 12(14), pp 2223-2228

4 Dematteo RP, Brennan MF (2004) Gastrointestinal stromal

tumors Cameron: current surgical therapy, 8th edition, 23, pp

100-103 (8)

5 Fisher C (2003) Pathology of Gastrointestinal Stromal

Tumours Royal Marsden Hospital London UK, pp 1 – 12

6 Liegl-Atzwanger B, Fletcher JA, et al (2010) Gastrointestinal

stromal tumors Virchows Arch 456:111–127 (7)

7 Kazuya Akahoshi, Masafumi Oya (2010), “Gastrointestinal

stromal tumor of the stomach: How to manage?”.World J Gastrointest Endosc, 2(8): 271-277 (12)

8 Kim KM et al (2005) Gastrointestinal stromal tumors in Koreans: it's incidence and the clinical, pathologic and

immunohistochemical findings J Korean Med Sci Vol 20:

977-984

9 Kim et al (2012) Long term survival results for gastric GIST: is

laparoscopic surgery for large gastric GIST feasible? World Journal of Surgical Oncology, 10:230

10 Lin SC, Huang MJ, Zeng CY et al (2003) Clinical manifestations and prognostic factors in patients with

gastrointestinal stromal tumors World J Gastroenterol, 9(12), pp

2809-2812

11 Miettinen M, Lasota J (2006) Gastrointestinal Stromal Tumors: Review on Morphology, Molecular Pathology, Prognosis, and

Differential Diagnosis Arch Pathol Lab Med Vol 130,

pp.1466-1478.(13)

12 Mucciarini C, Rossi G, Bertolini F et al (2007) Incidence and clinicopathologic features Gastrointestinal Stromal Tumors A

population base study BMC cancer, 7, pp 230

13 NCCN (2015) National Comprehensive Cancer Network Guidelines Version 1.2015 GIST: Gastrointestinal Stromal Tumor (13)

14 Ngô Quốc Đạt, Hứa Thị Ngọc Hà (2011) Đặc điểm đại thể và

vi thể u mô đệm tiêu hóa Y Học TP Hồ Chí Minh,Tập 15, Số 3

trang 129-135

15 Sandrasegan K, Rajesh A, Rushing DA et al (2005)

Gastrointestinal Stromal Tumors: CT and MRI findings Eur radiol, 15, pp 1407-1414

16 Toshirou Nishida (2015) The Role of Endoscopy in the

Diagnosis of Gastric Gastrointestinal Stromal Tumors Ann Surg Oncol

17 Tran T, Davila JA, El-Serag HB (2005) The epidemiology of malignant gastrointestinal stromal tumors: an analysis of 1,458

cases from 1992 to 2000 Am J Gastroenterol, 100:162-168

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/12/2015

Ngày đăng: 15/01/2020, 10:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w