1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá sự thay đổi chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân nhịp nhanh kịch phát trên thất trước và sau điều trị đốt điện bằng bộ câu hỏi ASTA

7 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 359,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc đánh giá sự thay đổi CLCS ở bệnh nhân nhịp nhanh kịch phát trên thất trước và sau khi được điều trị đốt điện.

Trang 1

Đánh giá sự thay đổi chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân nhịp nhanh kịch phát trên thất trước và sau điều trị đốt điện bằng bộ câu hỏi ASTA

Phan Đình Phong*, Lê Chí Hướng**

Viện Tim mạch Việt Nam* Khoa Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh**

TÓM TẮT

Nhịp nhanh kịch phát trên thất (NNKPTT)

là rối loạn tim nhịp thường gặp, gây triệu chứng và

ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống (CLCS) bệnh

nhân Triệt đốt cơn tim nhanh trên thất bằng năng

lượng sóng có tần số radio qua đường ống thông

(đốt điện) là phương pháp điều trị được lựa chọn

hiện nay bởi nhiều ưu điểm: điều trị mang tính triệt

để, tỉ lệ thành công cao và tỉ lệ biến chứng thấp

Mục đích: Đánh giá sự thay đổi CLCS ở bệnh

nhân nhịp nhanh kịch phát trên thất trước và sau

khi được điều trị đốt điện

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt

ngang có theo dõi dọc hiệu quả điều trị Bệnh nhân

được chẩn đoán NNKPTT, được thăm dò điện sinh

lý tim và điều trị đốt điện tại Viện Tim mạch Việt

Nam từ tháng 9/2014 đến tháng 11/2014 CLCS

được đánh giá bằng bộ câu hỏi chuyên dụng ASTA

(Arrhythmia-Specific questionnaire in Tachycardia

and Arrhythmia) tại 2 thời điểm: trước và sau điều

trị đốt điện 6 tháng

Kết quả: 41 bệnh nhân nghiên cứu với 13 nam

và 28 nữ, tuổi trung bình 45,6 ± 15,8 năm Sau điều

trị đốt điện, tỉ lệ xuất hiện các triệu chứng và sự ảnh hưởng của NNKPTT đến các hoạt động thể chất, tinh thần giảm rõ rệt Có sự cải thiện chất lượng cuộc sống qua đánh giá bằng thang điểm ASTA, cụ thể: trước điều trị đốt điện, điểm ASTA về CLCS là 12,2 ± 4,1, sau 6 tháng: 3,4 ± 4,4 (p < 0,05)

Kết luận: Có sự cải thiện về gánh nặng triệu chứng

và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân NNKPTT sau khi được triệt đốt bằng năng lượng sóng có tần số radio qua đường ống thông

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhịp nhanh kịch phát trên thất là một bệnh rối loạn nhịp tim thường gặp, trong cơn nhịp nhanh, bệnh nhân có cảm giác khó chịu, hồi hộp đánh trống ngực, đau ngực, có thể xỉu, ngất, nặng hơn có thể suy tim, tụt huyết áp [1],[2] Bệnh thường không gây

tử vong nhưng ảnh hưởng rất lớn đến CLCS người bệnh [3],[4] Đốt điện là phương pháp điều trị hiệu quả với nhiều ưu điểm, trong khi việc điều trị bằng các thuốc chống rối loạn nhịp tim còn nhiều hạn chế [5],[6] ASTA là một công cụ chuyên dụng, dùng để đánh giá CLCS bệnh nhân rối loạn nhịp tim [7],[8]

Trang 2

Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với

mục đích: Đánh giá CLCS bệnh nhân NNKPTT

sau điều trị đốt điện bằng bộ câu hỏi ASTA, so sánh

sự thay đổi CLCS trước và sau điều trị 6 tháng

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc

hiệu quả điều trị

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn

Bệnh nhân được chẩn đoán NNKPTT, thăm dò

điện sinh lý tim và điều trị đốt điện từ tháng 9/2014

đến tháng 11/2014 tại Viện Tim mạch Việt Nam

Bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên, không phân

biệt lứa tuổi, giới tính

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân NNKPTT điều trị đốt điện không

thành công Bệnh nhân mắc các bệnh lý mạn tính

gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống Bệnh

nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

Các bước tiến hành nghiên cứu

Bước 1: Lựa chọn đối tượng nghiên cứu.

Bước 2: Thu thập số liệu trước can thiệp Các

thông tin cá nhân, các thông số về tiền sử, lâm sàng

được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp và hỏi

bệnh Các thông số về CLCS và gánh nặng triệu

chứng của bệnh nhân trước can thiệp được thu thập

qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi ASTA Các

thông số cận lâm sàng thu thập từ hồ sơ bệnh án

Bước 3: Thu thập số liệu sau 6 tháng điều trị đốt

điện Các thông số về CLCS và gánh nặng triệu

chứng được thu thập nhờ phỏng vấn qua điện thoại

bằng bộ câu hỏi ASTA lần 2

Bước 4: Phân tích và xử lý số liệu.

Các tiêu chí đánh giá chính

Gánh nặng triệu chứng, sức khỏe thể chất, sức

khỏe tinh thần, chất lượng cuộc sống Điểm ASTA

càng cao, CLCS càng kém

Phân tích và xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 Các biến định lượng được thể hiện dưới dạng trung bình và độ lệch chuẩn Các biến định tính thể hiện dưới dạng

tỉ lệ phần trăm Sử dụng T-Test để so sánh các giá trị trung bình

BỘ CÂU HỎI ASTA: là bộ câu hỏi chuyên biệt cho những bệnh nhân có các rối loạn nhịp tim nói chung, đặc biệt là các rối loạn nhịp nhanh Bộ câu hỏi đã được phát triển, thiết kế phù hợp với nhiều loại rối loạn nhịp tim Mục đích chính của

bộ câu hỏi là lượng giá gánh nặng triệu chứng và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của người bệnh Bộ câu hỏi ASTA gồm 3 phần:

- Phần 1: Mô tả những thông tin chung về nhân khẩu học

- Phần 2: Gánh nặng triệu chứng đặc hiệu liên quan tới rối loạn nhịp tim Gồm 9 câu hỏi, mỗi câu cho 4 lựa chọn trả lời cho điểm 0, 1, 2, 3

Đó là “Không”, “Có, ở một chừng mực nào đó”,

“Có, khá nhiều”, “Có, nhiều” Điểm của tất cả 9 mục câu hỏi được cộng tổng, người bệnh có tổng điểm càng cao thì triệu chứng liên quan đến rối loạn nhịp tim càng nặng và ngược lại Tổng điểm của phần này thay đổi từ 0 đến 27 (từ mức độ nhẹ nhất tới nặng nhất của các triệu chứng)

- Phần 3: Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe Gồm 13 câu hỏi Trong đó, có 7 câu hỏi đánh giá về phần chất lượng cuộc sống về sức khỏe thể chất, 6 câu hỏi về sức khỏe tâm thần Điểm của mỗi lựa chọn trả lời gồm có: “không” (0), “có, ở một chừng mực nào đó” (1), “có, khá nhiều” (2), “có, nhiều” (3) Điểm của phần đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe thay đổi từ thấp nhất là 0 và cao nhất là 39 điểm Điểm số càng cao phản ánh sự ảnh hưởng càng xấu của rối loạn nhịp đến chất lượng cuộc sống

Trang 3

Bảng 1 Đặc điểm bệnh nhân

Tiền sử

Bảng 2 Các triệu chứng thường gặp

Bảng 3 Liên quan giữa gánh nặng triệu chứng với Sức khỏe thể chất (SKTC), Sức khỏe tinh thần (SKTT) và CLCS trước điều trị đốt điện

Gánh nặng triệu chứng

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Từ tháng 9/2014 đến tháng 5/2015, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 41 bệnh nhân

Trang 4

90,2

68,3

82,9

63,4

73,2

46,3

82,9 85,4 90,2

14,6 12,2 17,1

19,5 22

29,3

0

10

20

30

40

50

60

70

80

90

100

Khó thở

khi gắng

sức

Khó thở khi nghỉ ngơi

Hoa mắt, chóng mặt Da tái, vã mồ hôi Mệt mỏi, ốm yếu Chán nản, buồn

phiền

Đau ngực Nặng ngực Lo lắng

Trước đốt điện Sau 6 tháng

Biểu đồ 1 Gánh nặng triệu chứng trước và sau điều trị đốt điện (% xuất hiện)

Biểu đồ 2 Ảnh hưởng của NNKPTT đến sức khỏe thể chất, so sánh trước và sau điều trị đốt điện (% xuất hiện)

78

65,9

26,9

51,2

82,9

43,9

80,5

26,8

39,1

14,6

29,3

0

10

20

30

40

50

60

70

80

90

Hạn chế công

việc hàng

ngày

Giảm thời gian cho người thân

Hạn chế quan

hệ xã giao Hủy bỏ kế hoạch hoạt động Hạn chế

thể lực

Suy giảm tình dục chung về sức Suy giảm

khỏe Trước đốt điện Sau 6 tháng

Trang 5

56,1

41,5

19,5

87,8

36,6

87,8

2,4

31,7

4,9

34,1

0

10

20

30

40

50

60

70

80

90

100

Giảm tập trung Lo âu buồn

phiền Kích thích giận dữ Rối loạn giấc ngủ Lo sợ cái chết Lo sợ tái phát

Trước đốt điện Sau 6 tháng

Bảng 4 Điểm ASTA gánh nặng triệu chứng và CLCS trước và sau điều trị đốt điện 6 tháng

Điểm triệu chứng Sức khỏe thể chất Sức khỏe tinh thần CLCS

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung

Chúng tôi nghiên cứu trên 41 bệnh nhân, tuổi

trung bình là 45,6 ± 15,8, trong đó bệnh nhất thấp

nhất là 19 tuổi và cao nhất là 73 tuổi, nữ giới chiếm

68,3% Tỉ lệ NNKPTT ở nữ nhiều hơn nam cũng

được đề cập trong nhiều nghiên cứu khác [9],[10]

Không có bệnh nhân nào mắc các bệnh van tim hay

bệnh mạch vành trong nghiên cứu

Gánh nặng triệu chứng trước và sau điều trị

đốt điện

Trước điều trị đốt điện, các triệu chứng thường

gặp như đau ngực, khó thở, hồi hộp trống ngực gặp ở hầu hết bệnh nhân, chiếm tỉ lệ cao 2/41 bệnh nhân nghiên cứu (4,9%) bị ngất ít nhất một lần khi lên cơn nhịp nhanh Gần như tất cả các bệnh nhân (92,7%) luôn sống trong cảm giác lo lắng, sợ hãi cơn nhịp nhanh sẽ tái phát bất cứ lúc nào Như vậy, hầu hết các bệnh nhân NNKPTT phải chịu đựng các triệu chứng của cơn nhịp nhanh một cách nặng nề, các triệu chứng này gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người bệnh cả về mặt thể chất cũng như tinh thần Do vậy, gây cản trở người bệnh trong các công việc hàng ngày, tăng cảm giác lo lắng sợ hãi khiến cho bệnh nhân không

Biểu đồ 3 Ảnh hưởng của NNKPTT đến sức khỏe tinh thần, so sánh trước và sau điều trị đốt điện (% xuất hiện)

Trang 6

thể làm việc được hoặc ngại tiếp xúc, tự cô lập mình.

Có mối tương quan tương đối chặt chẽ giữa

gánh nặng triệu chứng với CLCS của bệnh nhân r =

0,658, p < 0,001: những bệnh nhân có triệu chứng

càng nặng nề, thì sức khỏe thể chất và tinh thần

cũng như chất lượng cuộc sống đều bị ảnh hưởng

khá lớn và ngược lại [11]

Sau điều trị đốt điện 6 tháng, tỉ lệ xuất hiện và

mức độ các triệu chứng giảm rõ Điểm ASTA trung

bình về triệu chứng trước đốt điện là 14,5 ± 3,9, sau

6 tháng giảm xuống còn 3,2 ± 4,3 (p < 0,05) Phần

lớn các bệnh nhân cảm thấy các cơn hồi hộp trống

ngực, cảm giác tim đập nhanh và mạnh không còn

nữa Đặc biệt, không còn bệnh nhân nào xuất hiện

triệu chứng ngất như trước

Sự thay đổi CLCS và điểm ASTA sau đốt điện

Với bộ công cụ ASTA, chúng tôi đã đánh giá

cả 2 mặt về gánh nặng triệu chứng và chất lượng

cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân

NNKPTT trước và sau điều trị đốt điện Trong đó,

phần CLCS bao gồm cả sức khỏe thể chất và sức

khỏe tinh thần Kết quả cho thấy có sự cải thiện rõ

rệt một cách tích cực về tất cả các lĩnh vực ở hầu hết

bệnh nhân nghiên cứu

Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nghiên

cứu được cải thiện rõ Đa số bệnh nhân có thể

thực hiện được các công việc hàng ngày như học

tập, lao động… điều mà trước đây họ không dám

làm vì sợ xuất hiện cơn nhịp nhanh Điều đáng

chú ý là cảm giác lo lắng sợ hãi tái phát ở các bệnh

nhân nghiên cứu cũng đã giảm đi rất nhiều Điểm

ASTA về CLCS chung sau 6 tháng điều trị đốt điện chỉ còn lại 3,4 ± 4,4, trong khi trước đó là 12,2 ± 4,1 (p<0,05)

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương

tự với kết quả nghiên cứu của Murali N.Bathina về đánh giá chất lượng cuộc sống và chi phí điều trị ở bệnh nhân nhịp nhanh kịch phát trên thất giữa 2 nhóm bệnh nhân dùng thuốc và điều trị đốt điện, nghiên cứu này cho thấy cả việc dùng thuốc và điều trị đốt điện đều cho những cải thiện tốt, làm giảm gánh nặng triệu chứng và tăng chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, tuy nhiên điều trị đốt điện cho kết quả toàn diện và lâu dài hơn, trong khi đó thì điều trị bằng thuốc còn nặng nề về sự tái phát các cơn nhịp nhanh [11] Nghiên cứu này còn chỉ ra rằng việc sử dụng thuốc còn có thể gây nên nhiều tác dụng phụ khác, và phải dùng suốt đời Qua đó, chúng ta nhận thấy việc điều trị đốt điện có nhiều ưu điểm hơn, đặc biệt là bệnh nhân không phải lo lắng việc tái phát cơn nhịp nhanh và tránh được việc phải dùng thuốc suốt đời

KẾT LUẬN

Điểm ASTA trung bình trước điều trị đốt điện: 12,2 ± 4,1 điểm

Điểm ASTA trung bình sau điều trị 6 tháng: 3,4 ± 4,4 điểm

Sự thay đổi điểm ASTA sau điều trị đốt điện

có ý nghĩa thống kê chỉ ra rằng có sự cải thiện về các triệu chứng cũng như CLCS của bệnh nhân NNKPTT

ABSTRACT

Background: Supraventricular tachycardias (SVT) are very common and can cause a profoundly negative impact on a person's daily life, leading to impaired health-related quality of life (HRQOL) Radiofrequency catheter ablation remains the treatment of choice for SVT

Trang 7

Objective and methods: The aim was to assess of HRQOL in patients with SVT using the ASTA (Arrhythmia-Specific questionnaire in Tachycardia and Arrhythmia) and the change of HRQOL after radifrequency catheter ablation 6 months

Results: 41 consecutive patients (13 male and 28 female) with SVT underwent RF catheter ablation at the Vietnam Heart Institute Mean age: 45.6 ± 15.8 years There were a improvement in ASTA symptom scale and HRQOL 6 months after successful catheter ablation ASTA score was 12.2 ± 4.1 and 3.4 ± 4.4, before and after treatment, respectively (p < 0.05)

Conclusions: Successful radiofrequency catheter ablation can improve HRQOL in patients with SVT

TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1 Leonard I Ganz and Peter L Friedman (1995), Supraventricular tachycardia, New England journal of medicine Jan 19, 1995, p 162-174.

2 Nguyễn Lân Việt (2003), Điều trị một số rối loạn nhịp tim thường gặp, Thực hành bệnh tim mạch, NXB

Y học Hà Nội p 194-199

3 Steven R Lowenstein, Blair D Halperin and Micheal J Reiter, (1996), Paroxysmal supraventricular tachycardias The Journal of Emergency Medicine, 14(1): p 39-51.

4 John A Kastor (2000), Supraventricular Tachyarrhythmias, Arrhythmias, W.P Saunders publishing company p 198-269

5 Nguyễn Hồng Hạnh, Phạm Quốc Khánh và Trần Văn Đồng (2008), Nghiên cứu hiệu quả điều trị một số rối loạn nhịp thất bằng năng lượng sóng có tần số radio Tạp chí Y học thực hành, (1), p

92-93

6 Phạm Quốc Khánh (2001), Nghiên cứu điện sinh lý học tim qua đường mạch máu trong chẩn đoán và điều trị một số rối loạn nhịp tim Luận án Tiến sĩ Y học, Học viện Quân y.

7 Ulla Walfridsson (2011), Assessing Symptom Burden and Health-Related Quality of Life in patients living with arrhythmia and ASTA: Arrhythmia-Specific questionnaire in Tachycardia and Arrhythmia,

Linköping.

8 Ulla Walfridsson (2012), Kristofer Arestedt and Anna Stromberg (2012), Development and validation

of a new Arrhythmia-Specific questionnaire in Tachycardia and Arrhythmia (ASTA) with focus on symptom burden Health Qual Life Outcome, 10(44).

9 Leonardo A Orejarena et al (1998), Paroxysmal Supraventricular Tachycardia in the General Population JACC, 31(1), p 150-157.

10 Phan Đình Phong (2005), Nghiên cứu điện tâm đồ bề mặt và trong buồng tim của cơn tim nhanh vào lại nút nhĩ thất và vào lại nhĩ thất Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ nội trú, Đại học Y Hà Nội.

11 Murali N Bathina et al (1998), Radiofrequency catheter ablation versus Medical therapy for inital treatment of supraventricular tachycardia and its impact on quality of life and healthcare costs The American Journal of Cardiology , 82(5), p 589-593.

Ngày đăng: 15/01/2020, 10:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm