Vạt vi phẫu được ứng dụng trong chấn thương chỉnh hình nhằm che phủ các cấu trúc quan trọng như xương, khớp, gân, mạch máu, thần kinh. Bài viết trình bày đánh giá kết quả ứng dụng vạt vi phẫu trong chấn thương chỉnh hình tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định.
Trang 1ỨNG DỤNG VẠT VI PHẪU TRONG CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH
TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH
Lâm Đạo Giang*, Nguyễn Trung Hiếu**, Nguyễn Phước Hùng**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Vạt vi phẫu được ứng dụng trong chấn thương chỉnh hình nhằm che phủ các cấu trúc quan
trọng như xương, khớp, gân, mạch máu, thần kinh
Mục tiêu: Đánh giá kết quả ứng dụng vạt vi phẫu trong chấn thương chỉnh hình tại Bệnh viện Nhân Dân
Gia Định
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiền cứu hàng loạt ca từ 03/2014 đến 08/2016
Kết quả: Tỷ lệ tốt đạt 87,88% (vạt da sống hoàn toàn), 3,03% vừa (chết lớp thượng bì nhưng vạt vẫn sống),
6,06% xấu (hoại tử 1 phần vạt) và 3,03 % thất bại (vạt chết hoàn toàn)
Kết luận: Vạt vi phẫu ứng dụng tại Khoa Chấn Thương Chỉnh Hình Bệnh viện Nhân Dân Gia Định cho tỉ
lệ thành công cao
Từ khóa: Vạt vi phẫu, ứng dụng vạt vi phẫu
ABSTRACT
FLAP MICROSURGICAL APPLICATIONS IN THE ORTHOPEDIC TRAUMA AT NHAN DAN GIA
DINH HOSPITAL
Lam Dao Giang, Nguyen Trung Hieu, Nguyen Phuoc Hung
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 5 - 2016: 171 - 179
Background: Flap microsurgical used in the orthopedic trauma, to cover important structures such as bones,
joints , tendon , blood vessels , nerves
Objectives: Assessment results flap microsurgical applications in orthopedic trauma at Nhan Dan Gia Dinh
Hospital
Methods: A prospective descriptive study cases series 03/2014 to 08/2016 with subjects being inpatients
with soft tissue defect at Nhan Dan Gia Dinh Hospital
Results: Results were classified good in 87.88%, fair in 3,03%, bad in 6,06%, failure in 3.03%
Conclusion: Flap microsurgical used at the department of Orthopedic of Nhan Dan Gia Dinh hospital for
the high success rate
Key word: Flap microsurgical, Flap microsurgical applications
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khuyết hổng mô mềm sau tai nạn giao
thông, sau tai nạn lao động, bỏng, hoặc sau cắt
sẹo co rút, cắt bỏ khối u rất thường gặp Những
trường hợp này thường gây khó khăn cho phẫu
thuật viên chỉnh hình Phẫu thuật điều trị những
khuyết hổng này có thể càng khó khăn hơn nếu khuyết hổng còn để lộ các cấu trúc quan trọng như mạch máu, thần kinh, gân, xương
Có một số phương pháp điều trị khuyết hổng mô mềm như ghép da dầy, ghép da mỏng, xoay vạt da ngẫu nhiên, vạt da hoặc cơ có cuống
* Khoa Chấn Thương Chỉnh Hình - Bệnh viện Nhân Dân Gia Định
Tác giả liên lạc: BS CKII Lâm Đạo Giang ĐT: 0913152716 Email: bsgiang77@gmail.com
Trang 2mạch vùng lân cận, vạt da hoặc cơ tự do(7) Tuy
nhiên ghép da không thể che phủ những vùng
khuyết hổng mô mềm có lộ các cấu trúc như
mạch máu, thần kinh, gân và xương cũng như
các vùng khuyết hổng lớn Xoay vạt ngẫu nhiên
tại chỗ thì hạn chế vùng cần che phủ vì diện tích
nhỏ Chỉ có vạt vi phẫu gồm vạt da hoặc cơ có
cuống tại chỗ hoặc vạt tự do mới đáp ứng được
việc che phủ này
Vạt vi phẫu đang được triển khai tại Khoa
Chấn thương chỉnh hình của bệnh viện Nhân
Dân Gia Định và chưa biết kết quả ra sao Chúng
tôi làm nghiên cứu đánh giá kết quả vạt vi phẫu
tại khoa Chấn thương chỉnh hình của bệnh viện
Nhân Dân Gia Định
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá kết quả vạt vi phẫu che phủ khuyết
hổng mô mềm
Đánh giá biến chứng của việc lấy vạt tại
vùng cho vạt
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Các phương pháp che phủ nơi khuyết hổng
da và mô mềm
Khâu trực tiếp (có hoặc không có dùng thêm
kỹ thuật kéo dãn da)
Ghép da
Vạt tại chỗ: vạt ngẫu nhiên (vạt bất kỳ) như
vạt di chuyển tới (vạt trượt, vạt đẩy), vạt xoay
chuyển, vạt hoán chuyển, vạt Z, vạt
Dufourmentel
Vạt từ xa: vạt cuống bẹn - bàn tay, vạt bụng-
bàn tay, vạt chéo chân, vạt chéo ngón tay
Vạt có cuống mạch máu ngược dòng, thuận
dòng
Vạt vi phẫu tự do có tái lập tuần hoàn tại nơi
nhận
Phân loại vạt vi phẫu(13,6): (Theo giải phẫu
mạch máu nuôi)
Vạt ngẫu nhiên nếu mạch máu nuôi xuất
phát từ những động mạch không hằng định
Vạt có mạch trục: nếu mạch nuôi từ mạch máu hoặc một nhóm mạch máu được nhận dạng:
- Vạt có mạch chảy dọc theo trục của vạt: vạt bẹn
- Vạt có mạch chạy trong cân mạc: vạt Trung Quốc
- Vạt có mạch trục chạy theo vách liên cơ: vạt cánh tay ngoài
- Vạt mạch thần kinh da: vạt bắp chân cuống ngoại vi (sural)
- Vạt cơ da
Vạt cơ: 5 loại theo hình thức mạch máu nuôi của Mathes và Nahai
Một số vạt thông dụng(6)
Vạt da cơ cân căng đùi
Vạt được sử dụng che phủ khuyết mô vùng mấu chuyển và thành bụng thấp cùng bên Ngoài ra còn được sử dụng như vạt tự do
Đây là vạt loại I theo phân loại của Mathes
và Nahai, cơ được cấp máu bởi nhánh đơn của động mạch mủ đùi ngoài
Hình 1: A: đường mổ; B: bóc tách vạt;
C: xoay vạt che phủ; D: Kết quả lành sau chuyển vạt Nguồn: Masquelet A.C và cộng sự (1995) (6) D có nguồn của tác giả
Vạt cơ thon
Được sử dụng như vạt tự do hoặc vạt đảo có cuống
Vạt đảo che phủ khuyết mô vùng khớp háng
và vùng ụ ngồi
Vạt tự do che phủ khiếm khuyết ở xa có nối cuống mạch máu Ngoài ra có thể chuyển chức
Trang 3năng để phục hồi những chức năng bị liệt như
gấp khuỷu, gấp duỗi ngón tay Trong trường
hợp này cần nối thêm nhánh thần kinh vận
động
Vạt cơ thon được xếp loại II theo phân loại
của Mathes và Nahai Cuống lớn nhất ở gần và
thường đi kèm với nhánh thần kinh vận động
Đường mổ được phát họa như hình vẽ, bóc
tách bọc lộ cô lập cơ từ dưới lên trên, cuống vạt
xuất phát từ động mạch mũ đùi trong, hoặc
động mạch đùi, cuống dài 6 cm Sau đó chuyển
che phủ vùng ụ ngồi, khớp háng hoặc làm vạt tự
do che phủ những vùng khuyết mô lớn có lộ
gân, xương, mạch máu, thần kinh
Hình 2: A: đường mổ; B: bóc tách vạt; C: Hình ảnh
lâm sàng vạt cơ thon tự do bàn chân
Nguồn: Masquelet A.C và cộng sự (1995)(6) C có nguồn
của tác giả
Vạt cơ nhị đầu đùi
Được sử dụng cho loét ụ ngồi
Vạt được phân loại II theo Mathes và Nahai
Đường mổ lấy vạt phát họa như hình vẽ Sau
đó bọc lộ cơ và bóc tách từ dưới lên trên Cuống
mạch xuất phát từ động mạch đùi sâu Vạt được
chuyển lên che phủ vùng ụ ngồi
Hình 3: A: đường mổ; B: bóc tách vạt; C: Hình ảnh
lâm sàng bóc tách vạt Nguồn: Masquelet A.C và cộng sự
(1995)(6) C có nguồn của tác giả
Vạt cơ sinh đôi trong
Được sử dụng che phủ 1/3 trên cẳng chân và gối
Vạt được phân loại I theo Mathes và Nahai Đường mổ phát họa nhu hình vẽ Bọc lộ và tách cơ từ dưới lên trên Cuống mạch nuôi là động mạch Sural xuất phát từ động mạc khoeo Vạt được chuyển lên che phủ khuyết mô vùng 1/3 trên cẳng chân hoặc gối
Hình 4: A: đường mổ; B: bóc tách vạt; C: xoay vạt che
phủ; D: Hình ảnh lâm sàng sau khi xoay vạt che phủ vùng tổn thương Nguồn: Masquelet A.C và cộng sự (1995)
[6] D có nguồn của tác giả
Vạt da thần kinh sural
Được chỉ định che phủ cạnh ngoài mặt lưng bàn chân và vùng gót chân (phần không chịu lực)
Vạt dựa vào động mạch đi tùy hành với thần kinh sural
Điểm xoay vạt nằm trên mắt cá ngoài khoảng 03 khoát ngón tay
Trang 4A B C D
Hình 5: A: đường mổ; B: bóc tách vạt; C: xoay vạt che phủ; D: Hình ảnh lâm sàng sau khi xoay vạt che phủ vùng
tổn thương Nguồn: Masquelet A.C và cộng sự (1995)(6) D có nguồn của tác giả
Vạt xương mác: được sử dụng như vạt tự do để
tái tạo lại độ dài của xương vùng bị khiếm
khuyết
Vạt xương mác được cấp máu nuôi bởi động
mạch mác Lấy xương mác không làm ảnh
hưởng chức năng của chân, tuy nhiên nếu lấy
đoạn xương dài gần khớp cổ chân thì cần phải cố định để làm vững khớp cổ chân
Đường mổ được phát họa như hình vẽ Bóc tách bọc lộ và cắt xương độ dài tương ứng với vùng thiếu xương cần ghép Ghép xương vào vùng nhận có nối cuống mạch nuôi vạt dưới kính hiển vi
Hình 6: A: đường mổ; B: bóc tách vạt; C: Hình ảnh lâm sàng sau khi lấy vạt; D, E: Hình ảnh x-quang trước
và sau khi ghép vạt xương mác Nguồn: Masquelet A.C và cộng sự (1995) (6) C, D, E có nguồn của tác giả
Vạt gan chân trong: được sử dụng để che phủ
vùng chịu lực của gót chân
Vạt gan chân trong được cấp máu nuôi bởi
động mạch gan chân trong là nhánh tận của
động mạch chày sau Đây là vạt có cảm giác vì kèm theo nhánh thần kinh gan chân trong
Hình 7: A: đường mổ; B: bóc tách vạt; C: xoay vạt che phủ; D: Hình ảnh lâm sàng sau khi xoay vạt che phủ
vùng tổn thương Nguồn: Masquelet A.C và cộng sự (1995) [6] D có nguồn của tác giả
Đường mổ được phát họa như hình vẽ Bóc
tách bọc lộ động mạch và thần kinh gan chân
trong, cô lập vạt và xoay che phủ vùng chịu lực
của gót chân
Vạt bàn chân trong: được sử dụng che phủ khiếm khuyết mô vùng mắt cá trong và điểm bám của gân gót
Máu nuôi vạt là nhánh nuôi da của động
Trang 5Đường mổ lấy vạt được phát họa như hình
vẽ Bóc tách bọc lộ động mạch gan chân trong, cô
lập vạt da cùng với nhánh động mạch cung cấp
máu nuôi cho vạt Xoay vạt che phủ vùng khiếm khuyết
Hình 8: A: đường mổ; B: bóc tách vạt; C: xoay vạt che phủ; D: Hình ảnh lâm sàng sau khi xoay vạt che phủ vùng tổn thương Nguồn: Masquelet A.C và cộng sự (1995)(6) D có nguồn của tác giả
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân nhập viện trong khoảng thời gian
từ 03/2014 - 08/2016 có tổn thương khuyết hổng
mô mềm rộng hoặc lộ gân, xương, khớp, mạch
máu, thần kinh Trên 16 tuổi, hợp tác tốt và
không có chống chỉ định phẫu thuật
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả tiền cứu hàng loạt ca
Phương pháp phẫu thuật
Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ
- Đánh giá tổng trạng: khám toàn diện về
lâm sàng, thực hiện các cận lâm sàng cần thiết
cho phẫu thuật
- Đánh giá vị trí, kích thước và tình trạng vết
thương Nếu vết thương có nhiễm trùng thì cắt
lọc sạch, sử dụng kháng sinh theo kháng sinh đồ
Đánh giá tổn thương kèm theo như gân, xương,
mạch máu, thần kinh
- Đánh giá vùng cho vạt: xác định cuống
mạch máu nuôi vạt không bị tổn thương Tính
toán, ước lượng trước kích thước vạt đủ che phủ
vùng khuyết mô cần che phủ
- Chuẩn bị tâm lý bệnh nhân: giải thích tình
trạng tổn thương, cách mổ lấy vạt che phủ, nơi
lấy da ghép, các biến chưng có thể xảy ra, các tư
thế sau mổ
- Ngưng hút thuốc lá (nếu có)
Phẫu thuật
- Vô cảm: tùy theo vị trí và thời gian dự kiến
cho cuộc phẫu thuật để lựa chọn phương pháp
tê hay mê
- Sử dụng garo hơi lúc lấy vạt
- Căt lọc sạch vùng tổn thương
- Thiết kế vạt vùng cho bằng bút vô trùng
- Tiến hành lấy vạt theo thiết kế, xoay hoặc ghép vào vùng cần che phủ
- Cố định vùng nhận vạt bằng cố định ngoài, bột hoặc chỉ
- Vùng lấy vạt sẽ được khâu da hoặc ghép da
Chăm sóc hậu phẫu
- Duy trì tư thế nằm tránh tì đè vào cuống vạt trong 3 tuần
- Sưởi ấm bằng đèn chiếu từ 5 – 7 ngày đầu
- Chăm sóc điều dưỡng: thay băng mỗi ngày, theo dõi màu sắc vạt
- Kháng đông 1 tuần
- Kháng sinh được sử dụng theo kháng sinh
đồ
- Xuất viện, tái khám
Đánh giá kết quả sau mổ
Theo tiêu chuẩn một số tác giả trong nước với các mức độ: tốt, vừa, xấu, thất bại(8,9) - Tốt: Vạt sống hoàn toàn, liền sẹo thì đầu
- Vừa: Phù nề hoặc chết lớp thượng bì nhưng vạt vẫn sống và che phủ được khuyết hổng mà không cần phải ghép da bổ sung
- Xấu: Vạt nhiễm trùng, hoại tử một phần phải cắt lọc và ghép da bổ sung (diệntích ghép
da < 1/3 diện tích vạt)
- Thất bại: Vạt chết hoàn toàn phải cắt bỏ
Trang 6hoặc sống < 1/3 diện tích vạt phải thay đổi
phương pháp để làm lành thương tổn
Xử lí số liệu
Các số liệu thu được xử lí bằng các phép toán
thống kê thông thường
KẾT QUẢ
Từ 03/2014 - 08/2016 chúng tôi phẫu thuật
cho 33 bệnh nhân có khuyết hổng mô mềm vùng
ngón tay, bàn tay, chậu hông, cẳng chân và cổ
bàn chân cần che phủ bằng vạt vi phẫu Trong
đó có 20 nam và 13 nữ
- Độ tuổi từ 17- 83 tuổi
- Nguyên nhân gây thương tổn chủ yếu: tai
nạn lao động 5 trường hợp, tai nạn giao thông 19
trường hợp, 8 nhiễm trùng (1 tiểu đường, 1 tiêm
thuốc, 1 loét sẹo cũ, 5 loét tì đè)
Bảng 1 Vị trí thương tổn
Trong số các bệnh nhân nhận vào thì vùng
cổ bàn chân chiếm đa số, liên quan đến tai nạn
giao thông
Bảng 2 Thương tổn phối hợp
Tổn thương phối hợp Số bệnh nhân Tỉ lệ
Khuyết hổng mô mềm rộng hoặc vùng chịu lực
Khuyết hổng mô mềm có lộ xương chiếm đa
số
Bảng 3 Các loại vạt sử dụng
Kết quả bảng 3 cho thấy loại vạt rất đa dạng, tương ứng với 1 vị trí khuyết hổng có thể có nhiều vạt che phủ, tùy theo lựa chọn của phẫu thuật viên sao cho phù hợp nhất đối với bệnh nhân
Bảng 4 Kết quả
Vị trí
Xếp loại
Bàn tay Mấu
chuyển
Ụ ngồi Gối và cẳng
chân
Cổ chân Bàn chân Vạt xương
mác
Vạt cơ tự
do
Tỉ lệ %
Kết quả kiểm tra các vạt da đều xếp loại tốt
đối với các khuyết hổng đơn thuần và các
thương tổ phối hợp, có 1 trường hợp vừa, 3 xấu,
có 1 trường hợp thất bại
Nơi lấy vạt: mảnh da ghép bình thường, sẹo không co rút, không loét chợt, màu sắc gần tương đồng với mô chung quanh, về thẩm mỹ bệnh nhân chấp nhận được
Trang 7Một số hình ảnh lâm sàng
Vạt chéo ngón
Vạt bàn
tay:
Vạt cơ
thon tự
do:
Vạt cơ sinh
đôi trong:
Trang 8Vạt Sural
Vạt cơ sinh đôi trong:
Vạt bàn chân trong:
Vạt cơ sinh đôi trong cho gãy hở nặng
Vạt xương mác tự do:
Trang 9BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi có nhiều vạt
được lựa chọn sử dụng tùy theo vị trí và kích
thước của tổn thương cũng như mô cần được
che phủ Việc lựa chọn vạt phụ thuộc vào tình
trạng sức khỏe của bệnh nhân, vị trí và kích
thước tổn thương, mô cần che phủ, kỹ năng của
phẫu thuật viên(5) Tuy nhiên, điều trị khuyết
hổng mô mềm (KHPM), chúng tôi luôn ưu tiên
lựa sử dụng các vạt tại chỗ có cuống mạch liền,
sau đó mới đến vạt tự do, vì vạt tự do khó thực
hiện và dễ bị thất bại Trong trường hợp vạt
cuống liền không đáp ứng được do: KHPM ở vị
trí mà vạt cuống mạch liền không với tới được,
hoặc có tổn thương vùng cuống mạch vạt, cũng
như khi đã sử dụng vạt cuống mạch liền bị thất
bại, thì chỉ định sử dụng vạt tự do là hoàn toàn
thích hợp Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 5
cas sử dụng vạt tự do là do nhiễm trùng xương,
tổn thương rộng cần có lớp đệm tốt mà vạt cơ tại
chỗ không đáp ứng được hoặc vạt tại chỗ không
với tới được Trong đó có 1 trường hợp thất bại
Việc lựa chọn thời điểm che phủ rất quan
trọng Godina M.(3) Đa số các tác giả đồng thuận
là nên lập kế hoạch càng sớm càng tốt cho tạo
hình vạt che phủ khuyết hổng mô mềm ngay
sau khi bị thương(1,4,10,11) Bởi vì các tổn thương
cấp tính có lộ gân cơ, xương, mạch máu và thần
kinh cần che ngay thì đầu, nếu không các cơ
quan này sẽ chết Trong khi có tổn thương do
nhiễm trùng thì cần được kiểm soát tốt trước khi
làm vạt Trong nghiên cứu của chúng tôi có 2
trường hợp gãy hở cẳng chân cần che phủ thì
đầu bằng vạt cơ sinh đôi trong cho kết quả lành
xương, chống nhiễm trùng rất tốt Các vạt da
chéo ngón và da cuống bẹn che phủ bàn tay
cũng tương tự, cần phải thực hiện trong phẫu
thuật khẩn Các trường hợp còn lại, làm phẫu
thuật bán khẩn khi nhiễm trùng đã được kiểm
soát Bởi vì nếu còn nhiễm trùng thì vạt che phủ
có thể làm nhiễm trùng không kiểm soát được và
thất bại(12) Trong trường hợp nhiễm trùng hoặc
không có điều kiện che phủ khẩn thì có thể sử
dụng VAC để vừa hút dịch vừa che phủ bảo vệ tạm thời các cơ quan cần che phủ cho đến khi làm vạt Nghiên cứu của Defranzo(2) đã ủng hộ quan điểm này
KẾT LUẬN
- Ứng dụng vạt vi phẫu trong chấn thương chỉnh hình tại bệnh viện Gia Định cho kết quả rất khả quan (97% thành công)
- Không có biến chứng nơi cho vạt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
tibial fractures”, Plast Reconstr Surg., 76, pp 719-722
vacuum-assisted closure therapy for the treatment of
lower-extremity wounds with exposed bone”, Plast Reconstr Surg,
108, pp 1184-1190
complex trauma of the extremities”, Plast Reconstr Surg, 78(3),
pp 285-292
reconstruction”, Plast Reconstr Surg, 108, pp 1029-1032
Operative Hand Surgery 1988; p 1127-49
Reconstruction, Lippincott Williams and Wilkins, page 10-66
vạt da có cuống mạch nuôi tai chỗ, vùng hay vạt da tự do nối mạch vi phẫu thuật Luận văn thạc sĩ, trang 2-16
quả điều trị khuyết da vùng ngón tay bằng vạt da cân mu bàn tay hình đảo Tạp chí chấn thương chỉnh hình Việt Nam, số đặc biệt, 2012, 289-293
cuống mạch liền Tài liệu giảng dạy lớp tập huấn sau đại học Bệnh viện108, tháng 5 năm 2006 4-11
extremity trauma: Trends in the management of soft-tissue
reconstruction of open tibia-fibula fracture”, Plast Reconstr Surg, 117, pp 1315-1322
reconstruction”, Rev Med Clin Condes, 21(1), pp 66-75
Plast Reconstr Surg 2001,107(6):1540-3
thuật tái tạo tứ chi, Nguyên tác Masquelet A.C Tài liệu lưu hành nội bộ Trung Tâm Chấn Thương Chỉnh Hình, trang
9-63
Ngày nhận bài báo: 15/08/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/09/2016 Ngày bài báo được đăng: 15/11/2016