1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách quản lý di động xã hội về nhân lực khoa học và công nghệ trong các quốc gia asean

83 86 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàm lượng kiến thức trong sản xuất gia tăng, tỷ lệ thuận với nhu cầu của các quốc gia về nguồn nhân lực KH&CN ngày càng lớn cùng với mục tiêu đổi mới trong hoạt động KH&CN, sẽ làm tăng h

Trang 1

N ÂN LỰC KHOA H VÀ ÔN N Ệ TRONG

Á QUỐC GIA ASEAN

LUẬN VĂN T SĨ

C UYÊN N ÀN : QUẢN LÝ O C VÀ ÔN N Ệ

N i - 2018

Trang 2

N ÂN LỰC KHOA H VÀ ÔN N Ệ TRONG

Á QUỐC GIA ASEAN

Trang 3

Khu vực Thương mại Tự do ASEAN Trung tâm hỗ trợ

Clearing houses Cộng đồng khoa học Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa Công nghệ Thông tin

Khoa học và Công nghệ Khoa học công nghệ Khoa học tự nhiên

Hỗ trợ Công nghệ Công nghiệp Industrial Technology Assistance Program Nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu và Triển khai Nghiên cứu sinh

Cơ quan Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia National Science and Technology Development Agency Nguồn nhân lực

Organization for Economic Cooperation and Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Nghiên cứu và triển khai

Science, Technology &Inovation Khoa học, Công nghệ và Đổi mới Quỹ Nghiên cứu Thái Lan

Trans-Pacific Partnership Agreement Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương The United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization

Trang 4

2

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Chỉ số xếp hạng năng lực toàn cầu kết hợp với

phân tích dữ liệu của 60 nước, số liệu dự đoán năm

2015

Biểu đồ 2 Sự tương quan giữa khả năng cạnh tranh và tiếp nhận

nhân lực KH&CN của một số nước

Biểu đồ 3 Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Singapore,

Việt Nam và Campuchia

Biểu đồ 4 Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Campuchia,

Việt Nam và Singapore Biểu đồ 5 Tỷ lệ chi cho R&D của các nước năm 2013

Biểu đồ 6 Số lượng bài viết đồng tác giả từ các nước

ASEAN/EU và ASEAN cùng các nước khác năm 2000-2010

Biểu đồ 7

Biểu đồ 8

Số lượng các tác phẩm đồng tác giả của các nước ASEAN năm 2005 -2010

Số lượng người di cư trong nội bộ khối ASEAN năm

2013

Trang 5

Tổng tài sản của Thái Lan trong giai đoạn 1960-2014

Giá trị xuất khẩu của Thái Lan trong giai đoạn

1960-2014

Các phương thức hợp tác trong các hoạt động nghiên cứu, triển khai và đổi mới giữa các doanh nghiệp và các cơ sở giáo dục chất lượng cao trong năm 2014

Vị trí dự án và Các loại dự án

Trang 6

4

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do nghiên cứu 6

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 6

1.2 Ý nghĩa lý thuyết nghiên cứu 10

1.3 Ý nghĩa thực tế của nghiên cứu 10

1.4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 10

2 Mục tiêu nghiên cứu 12

3 Phạm vi nghiên cứu 12

4 Mẫu khảo sát 12

5 Câu hỏi nghiên cứu 12

6 Giả thuyết nghiên cứu 13

7 Phương pháp nghiên cứu 13

8 Kết cấu của Luận văn 13

CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VỀ DI ĐỘNG XÃ HỘI NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP14 1 Khái niệm 14

1.1 Khái niệm về di động xã hội 14

1.2 Khái niệm nhân lực KH&CN 17

2 Hội nhập quốc tế 24

2.1 Khái niệm 24

2.2 Hội nhập về Khoa học và Công nghệ 24

3 Các loại hình di động xã hội 25

3.1 Di động dọc 25

3.2 Di động ngang 26

Trang 7

5

3.3 Di động xã hội trong thế hệ 27

3.4 Di động liên thế hệ 28

CHƯƠNG 2- HIỆN TRẠNG DI ĐỘNG XÃ HỘI CỦA NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN 29

2.1 Bối cảnh di động xã hội nhân lực KH&CN của các quốc gia trong Asean 29 2.2 Di động nhân lực KH&CN tại các quốc gia ASEAN 32

2.2.1.Di động xã hội của nhân lực KH&CN 32

2.3 Một số nhân tố ảnh hưởng đến di động xã hội của cộng đồng khoa học 41

2.3.1.Hoàn cảnh kinh tế - xã hội 41

2.3.2.Điều kiện khoa học và sự tích lũy lợi thế trong khoa học 43

2.3.3.Vốn xã hội và vốn văn hóa 44

2.3.4.Chính sách kinh tế, xã hội, KH&CN 45

2.3.5.Những yếu tố cá nhân 45

2.4 Thực trạng di động nhân lực KH&CN tại các quốc gia ASEAN 48

CHƯƠNG 3 - GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY DI ĐỘNG XÃ HỘI CỦA NHÂN LỰC KH&CN TRONG CÁC QUỐC GIA ASEAN 58

3.1 Chính sách thúc đẩy và thu hút di động xã hội của nhân lực KH&CN tại các quốc gia ASEAN 58

3.2 Giải pháp thúc đẩy di động xã hội của nhân lực KH&CN tại ASEAN- Nghiên cứu trương hợp thực hiện chương trình di động xã hội nhân tài của Thái Lan 62

3.2.1 Định nghĩa, mục tiêu và thực hiện chính sách di động nhân tài 67

3.2.2.Phát triển của chương trình di động nhân tài ở Thái Lan 71

KẾT LUẬN 77

Tài liệu tham khảo 79

Trang 8

6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển của tri thức KH&CN trên toàn thế giới được cho là động lực có tính căn bản nhất của xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trong các thập niên qua Quá trình thương mại hóa toàn cầu đã làm thay đổi các yếu tố sản xuất, việc làm, giá cả, từ đó nâng cao giá trị phúc lợi

xã hội Hai dòng dịch chuyển rõ ràng nhất mà chúng ta có thể nhận thấy là vốn và nhân lực đã làm thay đổi các nguồn lực sẵn có cũng như cách thức sản xuất nhằm làm tăng sản lượng quốc gia trên thế giới và giảm bất bình đẳng giữa các quốc gia Bên cạnh đó, toàn cầu hóa KH&CN đóng vai trò là chất xúc tác giúp dòng dịch chuyển của nhân lực KH&CN diễn biến với tốc

độ nhanh hơn, số lượng nhiều hơn và với các hình thái phức tạp hơn

Nhân lực KH&CN được coi là một nguồn tài nguyên chủ chốt và một nguồn năng lượng sáng tạo trong tất cả mọi lĩnh vực và hoạt động của mỗi quốc gia Hàm lượng kiến thức trong sản xuất gia tăng, tỷ lệ thuận với nhu cầu của các quốc gia về nguồn nhân lực KH&CN ngày càng lớn cùng với mục tiêu đổi mới trong hoạt động KH&CN, sẽ làm tăng hiệu xuất đổi mới trong hoạt động KH&CN ngày càng lớn cùng với mục tiêu đổi mới trong hoạt động KH&CN, sẽ làm tăng hiệu kinh tế tạo nên sự phát triển của các quốc gia Giá trị kinh tế của nhân lực KH&CN bắt nguồn từ „„lợi ích“ sử dụng khác nhau của nhóm nhân lực này Đây có thể là nguồn lực cho hoạt động sản xuất hiện nay (ví dụ: các chuyên gia công nghệ thông tin và kỹ sư), hoặc là nguồn để tạo ra của cải (các doanh nghiệp KH&CN), nguồn tri thức (các nhà khoa học), cung cấp dịch vụ xã hội (các nhà sáng chế, môi giới sở hữu trí tuệ, thông tin KH&CN), Việc thu hút nguồn nhân lực KH&CN sẽ đẩy nhanh việc tích lũy kiến thức, kích thích đổi mới và dẫn đến phản ứng tăng trưởng kinh tế diễn ra nhanh hơn, đem lại giá trị nhiều hơn

Trang 9

7

Thế giới đã ghi nhận thế kỉ XX và thế kỷ XXI là mốc quan trọng với những thành tựu khoa học trên mọi lĩnh vực như vật lý học, sinh học, y tế và sự bùng nổ của công nghệ viễn thông, công nghệ thông tin tạo tiền đề cho sự phát triển KH&CN như vũ bão hiện nay Trong thời đại KH&CN ngày càng phát triển, cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia và công ty ngày càng khốc liệt trên tất cả các lĩnh vực: công nghệ, quản lý, tài chính, chất lượng, giá cả Trên hết, yếu tố đứng đằng sau mọi cuộc cạnh tranh là nhân lực KH&CN chất lượng cao Thực tế đã chỉ ra rằng đối thủ cạnh tranh đều

có thể sao chép mọi bí quyết của công ty về sản phẩm, công nghệ, Điều này khó có thể áp dụng vào quá trình đầu tư cho yếu tố con người, ngăn chặn được đối thủ cạnh tranh sao chép bí quyết của mình Nguồn nhân lực KH&CN luôn luôn được coi là nguồn tài nguyên quý giá tạo ra sản phẩm trong mọi lĩnh vực Theo định luật về „„bảo toàn năng lượng“ , nhân lực KH&CN không tự nhiên sinh ra, cũng không tự nhiên mất đi mà chỉ di chuyển từ nơi này sang nơi khác

Đặc biệt khi “sân chơi cạnh tranh toàn cầu được san bằng“ Thế giới được san phẳng“, di động của nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao (di động của các luồng „„chất xám“) có thể đem lại lợi ích lớn cho nhóm các địa phương; các quốc gia thu hút được luồng chất xám tuy nhiên lại có thể đem lại mối đe dọa đối với các địa phương, các quốc gia còn lại Việc hoạch định các chính sách để quản lý, thu hút và điều chỉnh các luồng „„ chất xám“ cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu phát triển của nền KH&CN đòi hỏi sự quan tâm của tất cả các quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế Về bản chất khoa học, sự dịch chuyển của các luồng chất xám chính

là “ di động xã hội“ (social mobility) – một thuật ngữ xã hội dùng để chỉ sự thay đổi của một hay nhiều cá thể giữa các đơn vị của hệ thống, tầng lớp xã hội

Các nhà xã hội học đã phân loại di động xã hội theo các hình thức như:

di động xã hội theo chiều dọc hoặc theo chiều ngang, di động kèm di cư, di

Trang 10

8

động không kèm di cư, di động vai trò, di động giữa các thế hệ, trong thế hệ,

di động cấu trúc Như vậy, di động xã hội nhân lực KH&CN là sự dịch chuyển “chất xám“ và quản lý di động xã hội tức là quản lý “luồng chảy chất xám“ Trên thực tế, cuộc cạnh tranh chất xám giữa các quốc gia đã và đang đặt ra nhu cầu hoạch định và triển khai các giải pháp chính sách với mục đích hai chiều: giữ và thu hút nguồn nhân lực, đặc biệt với nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao Đối với các quốc gia, việc thu hút nhân lực KH&CN và tăng thêm tiềm lực quốc gia là vô cùng quan trọng, tuy nhiên, việc giữ chân nhân lực KH&CN chất lượng cao còn khó hơn Có thể nói, di động xã hội tại tất cả các quốc gia trong bối cảnh hội nhập hiện nay nước ta cũng không phải là ngoại lệ

Các số liệu thống kê về di động xã hội của nhân lực KH&CN chất lượng cao cho thấy, ngay trong khu vực ASEAN, nước ta nằm trong nhóm các nước có số lượng nhân lực di động chảy ra nước ngoài nhiều nhất và ít nhân lực KH&CN di động đến trong khi đó nhóm các nước tiếp nhận nhân lực KH&CN nhiều nhất gồm Singapore (52,9%), Malaysia (61,2%) và Thái Lan (96,2%) Để nâng cao năng lực cạnh tranh chất xám, quản lý hiệu quả luồng chất xám và đặc biệt tránh rơi vào “bẫy thiếu hụt nguồn nhân lực KH&CN, việc nghiên cứu rà soát, nhận diện các bất cập, rào cản trong quản

lý di động xã hội của nguồn nhân lực KH&CN của nước ta trong bối cảnh hội nhập là cần thiết

Nghiên cứu “Di động khoa học và phát triển“: Hướng tới mô hình kinh

tế xã hội“ (Scientific Mobility and Development: Toward a Socio-economic Conceptual Framework), Richard Wolly và Carolina Canibano đã tìm hiểu

về việc di động nhân lực khoa học từ tiếp cận kinh tế Theo nhóm tác giả này, các hàng hóa thông thường có đầy đủ hai tính chất là: tính “kình địch“

và tính “loại trừ“ Tri thức khoa học được các nhà kinh tế học phát triển và các tài liệu khoa học về kinh tế phân tích cả hai đặc tính của hàng hóa công

Trang 11

9

Những nghiên cứu mới nhất về kinh tế khoa học không nhìn nhận “tri thức khoa học“ là một loại hàng hóa thuần nhất Những nghiên cứu này phân loại tri thức khoa học thành hai dạng: tri thức “mã hóa“ và tri thức “ngầm định“ Theo đó, quá trình sản sinh và phân phối hai loại tri thức này cũng phải được xem xét khác nhau Tri thức được mã hóa, được xem như dạng thông tin, có tính chất hàng hóa công Trái lại, tri thức „“ngầm định“ (không thể mã hóa), nằm trong từng cá nhân (hay nhóm, tổ chức ), là một dạng của

“tri thức thực hành“ (knowing by doing), không dễ dàng truyền bá Việc chuyển giao tri thức ngầm định là một quá trình diễn ra thông qua thực hành, chủ yếu là cùng học trong các hoạt động được sắp đặt Từ đó, nghiên cứu của nhóm tác giả phân tích và chỉ ra rằng, mặc dù tri thức khoa học được xem như có đầy đủ tính chất của một hàng hóa công (phi kình địch và phi loại trừ), tri thức này lại không thể phân phối thông qua thị trường Nguồn nhân lực, (nguồn lực những người mang tri thức khoa học), mang tính chất của hàng hóa tư (kình địch và loại trừ) Nhóm tác giả đã đưa ra những kết luận chính của nghiên cứu này như sau: Cách tiếp cận từ việc phân bổ nguồn lực này có ý nghĩa quan trọng đối với quan niệm về vai trò của di động trong các quá trình nâng cao năng lực Ví dụ, việc nhập cư của các nhà khoa học từ một hệ khoa học đang phát triển sang một hệ khoa học

đã phát triển (thường được gọi là chảy máu chất xám hay tri thức) có thể làm ổn định hay tăng cường sự gia nhập của quốc gia đang phát triển vào các hình thức hợp nhất quốc tế, từ đó góp phần vào việc chuyển giao tri thức

đa chiều và củng cố hệ thống khoa học của quốc gia đang phát triển Tương

tự như vậy, việc hồi hương của một nhà nghiên cứu sau khi ra nước ngoài, nếu không được quản lý tốt, sẽ trở thành tình trạng thua – thua, trong đó cả quê hương ban đầu và nước mà họ chuyển đến đều không nắm bắt được giá trị ẩn trong vốn nhân lực khoa học đã tách rời khỏi bối cảnh tri thức mới xuất hiện và phát triển Do đó, có ý kiến tranh luận rằng, các chính sách được thiết kế nhằm thu hút các nhà nghiên cứu hồi hương cần xem xét để

Trang 12

10

nguồn vốn nhân lực khoa học đó được sử dụng trong những mạng lưới tương đối nổi bật hay mạng lưới kết hợp Từ phương diện này, vai trò của chính sách công không nên xây dựng „„thị trường“ để thu hút và giữ chân các nhà khoa học mà cần thực hiện mục tiêu hỗ trợ quá trình hình thành của các mạng lưới Cách tiếp cận kinh tế - xã hội đối với di động của nhân lực

mà nhóm tác giả đề xuất cho rằng di động, giống như việc sản xuất tri thức, không tách rời khỏi bối cảnh Mỗi nhà khoa học ‚„„sở hữu“ những kĩ năng đặc trưng, phụ thuộc vào bối cảnh Những kĩ năng đó giúp họ sáng tạo và đổi mới để tìm kiếm tri thức mới, đồng thời những kĩ năng đó cũng là một phần của phương thức khoa học giúp họ tiếp nhận những kiến thức khoa học được địa phương hóa như một phần của năng lực khoa học

1.2 Ý nghĩa lý thuyết nghiên cứu

Luận văn sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống khái niệm của xã hội học nói chung và xã hội học khoa học công nghệ nói riêng đồng thời cũng bổ xung thêm cơ sở lý luận về công tác quản lý khoa học công nghệ, quản lý nhân lực khoa học và công nghệ trong các quốc gia Asean

1.3 Ý nghĩa thực tế của nghiên cứu

Luận văn góp phần nhận diện các loại hình di động xã hội của nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao trong các quốc gia Asean hiện nay cũng như hạn chế việc lãng phí chất xám của nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao trong các quốc gia Asean Đưa ra được các giải pháp quản lý hiện tượng di động xã hội nguồn nhân lực KH&CN trong các quốc gia Asean

1.4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu “Di động khoa học“ (Scientific Mobility) của Sami Mahroum tìm hiểu về vai trò của di động khoa học, cụ thể là trong việc mở rộng khoa học và hình thành các “cực“ của khoa học Sami Mahroum cho rằng, di động là “sự di chuyển vật lý và địa lý qua biên giới và sống trên đất

Trang 13

11

nước khác trong khoảng thời gian không dưới một năm“ Theo tác giả, vấn

đề di động gắn bó mật thiết với địa lý của tri thức và sự di chuyển của khoa học Tác giả dẫn ra ba kịch bản của Hoch và Platt về tác động của di động khoa học

Tài năng và sự khác biệt cảng lớn thì di động khoa học càng có ý nghĩa Mặt khác, cũng đòi hỏi sự biến đổi tri thức để “hấp thụ“ những tri thức mới khi được áp dụng vào một quốc gia, khu vực Tác giả cũng chỉ ra rằng, di động khoa học không chỉ dẫn đến sự thay đổi trong khoa học thúc đẩy cơ hội để các cá nhân hay tổ chức thành điểm trung tâm có uy tín về khoa học trong khu vực hay ngành Sau khi hình thành, uy tín của những “cực“ khoa học sẽ tăng lên, từ đó rút ngắn không gian và thời gian cho việc giao tiếp trong khoa học

Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, số lượng các nhà khoa học du nhập đến một địa chỉ khoa học xác định tăng lên khi uy tín của địa chỉ đó tăng cao trong giới khoa học Như vậy, di động khoa học và uy tín của tổ chức phụ thuộc và củng cố lẫn nhau Thực tế cho thấy, uy tín của cá nhân hay tổ chức-

là nhân tố chính ẩn sau việc chuyển giao tri thức với mức độ tin cậy lớn, trong phạm vi không gian và thời gian Việc nhìn nhận sự dịch chuyển của khoa học thông qua việc di động của các nhà khoa học là cách tiếp cận có thể gợi ý cho quá trình xác định vị trí của các trung tâm khoa học trong tương lai, chủ yếu thông qua tác động đến sự phân bổ nhân sự chất lượng cao nói chung và các nhà khoa học nói riêng

Theo kết luận của nghiên cứu, việc hình thành các cực, các vệ tinh, các trung tâm, cũng như các vùng ngoại biên của khoa học trong một lĩnh vực khoa học nào đó, ở cấp độ toàn cầu, đống một vai trò quan trọng trong việc phân phối các nhà khoa học và các học giả giữa các trung tâm và các vùng ngoại biên Sự hình thành các cực khoa học đôi khi bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các chính sách công của các quốc gia khác nhau Chính sách nhập cư

Trang 14

ở các nước Châu Âu Tăng cường, thúc đẩy „„di động“ được đưa ra như một chiến lược để phát triển thị trường lao động trong lĩnh vực KH&CN

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nhận dạng các loại hình di động xã hội và phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới di động xã hội nhân lực KH&CN chất lượng cao trong các quốc gia Asean

Đề xuất các giải pháp thúc đẩy di động xã hội nguồn nhân lực KH&CN trong các quốc gia Asean

5 Câu hỏi nghiên cứu

Hiện tượng di động xã hội nhân lực KH&CN trong các quốc gia Asean đang diễn ra như thế nào?

Giải pháp để thúc đẩy hiện tượng di động xã hội nhân lực KH&CN trong các quốc gia Asean là gì?

Trang 15

13

6 Giả thuyết nghiên cứu

Di động xã hội nhân lực KH&CN trong các quốc gia Asean đang diễn

ra với rất nhiều hình thức phức tạp đa dạng

Đề thúc đẩy di động xã hội nguồn nhân lực KH&CN trong các quốc gia Asean cần phải có giải pháp phù hợp với từng loại hình di động xã hội nguồn nhân lực KH&CN

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp phân tích tài liệu

8 Kết cấu của Luận văn

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VỀ DI ĐỘNG XÃ HỘI NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG DI ĐỘNG XÃ HỘI CỦA NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY DI ĐỘNG XÃ HỘI CỦA NHÂN LỰC KH&CN TRONG CÁC QUỐC GIA ASEAN

Trang 16

14

CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VỀ DI ĐỘNG XÃ HỘI NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

1 Khái niệm

1.1 Khái niệm về di động xã hội

Di động xã hội (tiếng Anh: Social mobility), còn gọi là sự cơ động xã hội hay dịch chuyển xã hội, là khái niệm xã hội học dùng để sự chuyển động của những cá nhân, gia đình, nhóm xã hội trong cơ cấu xã hội và hệ thống xã hội

Theo Đào Thanh Trường (2016), “Di động xã hội được hiểu như là sự thay đổi của một hay nhiều cá thể giữa các đơn vị của một hệ thống tầng lớp xã hội

Theo Từ điển xã hội học tiếng Đức của G.Endruweit và G.Trommsdorff, tính di động (mobility) được hiểu là sự thay đổi của một hay nhiều cá thể giữa các đơn vị được quy định của một hệ thống Bên cạnh tính di động của các cá thể mang ý nghĩa xã hội học nhưng xa trọng tâm của các khảo cứu là tính di động bắt nguồn từ các quyết định cá nhân hay tập thể, của những đối tượng vật chất và không phải vật chất, như sự dịch chuyển của các xí nghiệp công nghiệp hay dòng đi và dòng đến của tiền vốn

Di động xã hội được hiểu như là sự thay đổi của một hay nhiều cá thể giữa các đơn vị của một hệ thống tầng lớp xã hội Trong khi sự phân chia các đơn vị của những hệ thống không gian và xí nghiệp cũng được sử dụng nhiều trong đời sống hàng ngày, thì các hệ thống tầng lớp với toàn các đơn vị thành phần thể hiện rõ hơn, các cấu trúc xã hội học, từ các hệ thống hai hoặc ba lớp tới tận các thang bậc uy tín được phân chia vô cùng tinh vi, trong đó tùy theo chỉ số được chọn hầu như mối một phạm trù nghề nghiệp, học vấn hay thu nhập đều chiếm một thứ bậc khác nhau Sự chuyển đổi giữa các đơn vị được đánh giá khác nhau sẽ xuất hiện tính di động theo trục đứng: ở hình thức sự thăng tiến về

Trang 17

15

xã hội, nếu so với trước đó người ta chiếm giữ một vị thế cao hơn và ở dạng thụt lùi về xã hội, nếu người ta giữ một vị thế thấp hơn Ngược lại, người ta nói tới tính di động theo chiều ngang, nếu những thay đổi của nghề nghiệp, học vấn thu nhập không làm thay đổi vị thế Khái niệm này bắt nguồn từ Sorokin (1927) và theo cách hiểu của ông bao gồm cả mọi loại tính di động khác không liên quan tới sự thay đổi về tầng lớp Nhưng quan niệm rất rộng về tính di động theo chiều ngang này lại gần như che khuất đi những khác biệt quan trọng giữa những loại tính di động này

Những thay đổi trong phân cấp tầng lớp hay vị thế không chỉ là qua những thay đổi cá thể, mà còn bởi cách đánh giá thay đổi về các nghề và do các tiêu chuẩn về thành phần khác Ở hiện tượng này còn có một dạng biến đổi về xã hội, tuy nhiên được coi là tính di động xã hội tập thể, vì tất cả những người có đặc điểm tương ứng sẽ được phân cấp lại

Roney Stark, trong “Xã hội học” (Sociology) tái bản lần thứ năm quan niệm: Sự khác nhau giữa các xã hội được đặc trưng bởi số lượng các tình trạng

di động đi lên và đi xuống đi cùng với hệ thống phân tầng xã hội trong các xã hội đó Sự di động trong xã hội tùy thuộc vào hai yếu tố: (1) Các quy luật chi phối cá nhân làm cách nào để giành được và giữ được vị thế của mình, sẽ ảnh hưởng đến khả năng di động của cá nhân dễ dàng hay khó khăn; (2) Dù các quy luật có tác động như thế nào hay bằng cách nào đi nữa, thì sự thay đổi cơ cấu xã hội cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng di động xã hội

Cũng theo Roney Stark có hai loại di động xã hội chính đó là: (1) Di động cấu trúc (Structural Mobility) diễn ra khi có những thay đổi trong mối quan hệ vị trí giữa các tầng lớp trên và tầng lớp dưới của xã hội; (2) Di động chuyển đổi (exchange mobility) diễn ra khi có một số trang cá nhân bị giảm sút hay đi xuống về mặt địa thế/địa vị trong xã hội và chính sự đi xuống của những cá nhân này đã tạo cơ hội và vị trí cho các cá nhân khác vươn tới chiếm lĩnh vị thế/địa vị của họ trong hệ thống phân tầng xã hội

Stephen Aldridge, nhà xã hội học người Anh đã coi di động xã hội là sự

Trang 18

16

dịch chuyển hoặc cơ hội dịch chuyển giữa các nhóm khác nhau trong xã hội, đánh giá ưu điểm và nhược điểm theo các tiêu chí như thu nhập, khả năng có việc làm hay cơ hội thăng tiến v.v.Stephen Aldridge đã đưa ra những quan điểm

về tầm quan trọng của di động xã hội Theo ông, di động xã hội quan trọng bởi lẽ: Công bằng trong cơ hội là khát vọng vươn tới của các thể chế chính trị Nếu không có sự di động xã hội, điều đó có nghĩa là không có sự công bằng trong các cơ hội Hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào sự toàn dụng các khả năng của mọi người Sự liên kết xã hội có thể đạt được ở những nơi con người tin rằng họ có thể cải thiện được chất lượng cuộc sống và con cái của họ có thể sống tốt nhờ vào khả năng, trình độ và nỗ lực của họ Sự liên kết xã hội có thể đạt được ở những nơi con người tin rằng họ có thể cải thiện được chất lượng cuộc sống và con cái của họ có thể sống tốt nhờ nhờ vào khả năng, trình độ và nỗ lực của họ Theo chiều hướng thay đổi địa vị, Fitcher chia di động xã hội thành hai loại: (1)

di động xã hội theo chiều ngang là sự di chuyển lùi hay tiến trên cùng một bình diện xã hội, của một đoàn thể hay tình trạng khác tương tự; (2) di động theo chiều dọc là sự di chuyển của một người từ một vị thế xã hội này đến một vị thế

xã hội khác, từ giai cấp này đến một giai cấp khác

Tony Bilton và các cộng sự lại phân biệt di động xã hội trên hai khía cạnh:

Di động giữa các thế hệ: con trai hay con gái có một địa vị khác biệt (cao hay thấp) hơn địa vị của cha mẹ (chẳng hạn con gái của người thợ mỏ có thể học tập thành cô giáo, con của nông dân trở thành kỹ sư, bác sĩ)

Di động trong thế hệ: ở đây chỉ một người thay đổi trình độ nghề nghiệp trong cuộc đời lao động

Nei J.Smelser phân loại di động xã hội theo hai loại: (1) di động cá nhân (individual mobility) là sự thay đổi vị trí của một cá nhân trong hệ thống phân tầng Nó có thể có được bằng sự di động dọc hoặc di động ngang Di động tập thể (collective mobility) là sự thay đổi vị trí của một nhóm trong hệ thống phân tầng

Trang 19

17

1.2 Khái niệm nhân lực KH&CN

Định nghĩa nhân lực KH&CN chất lượng cao: Nhân lực chất lượng cao được coi là một nguồn tài nguyên kinh tế chủ chốt và một nguồn năng lượng sáng tạo trong khoa học, công nghệ, kinh doanh và nghệ thuật và văn hóa cũng như các hoạt động khác Nguồn nhân lực chất lượng cao có giá trị kinh tế lớn và tính di động của nó đã tăng lên với sự toàn cầu hóa, sự lan truyền của CNTT mới và chi phí vận chuyển thấp hơn Những ai có tài thường có xu hướng di động hơn lao động phổ thông Những người nhập cư với vốn nhân lực cao sẽ có những chính sách nhập cư thuận lợi hơn ở những nước tiếp nhận, điển hình là những nền kinh tế có thu nhập bình quân đầu người cao mà lại thiếu các chuyên gia CNTT, các nhà khoa học, bác sĩ y khoa và các loại nhân tài khác Các cá nhân từ các nước đang phát triển đang ngày càng đáp ứng nhu cầu toàn cầu đối với nhân tài Giá trị kinh tế của nhân lực chất lượng cao bắt nguồn từ việc sử dụng khác nhau của nó Nhân lực KH&CN có thể là nguồn lực sản xuất cho nền công nghiệp hiện nay Để phân tích tính di động nhân lực KH&CN, có thể xét

ba chủ thể ở những quốc gia nguồn, sự di cư của nhân lực KH&CN có thể giảm nguồn vốn nhân lực của họ Đối với các quốc gia đang phát triển sự di động của các doanh nhân, các nhà khoa học, các chuyên gia công nghệ, các bác sĩ sẽ gây cản trở và ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển của các quốc gia này Ngược lại đối với các nước tiếp nhận sẽ được hưởng lợi từ một dòng chảy chất xám làm tăng cơ sở nguồn nhân lực có chuyên môn mà họ đang thiếu Dựa vào nguồn vốn nhân lực tiếp nhận được, các quốc gia tiếp nhận tích lũy được lợi thế trong lĩnh vực khoa học, y tế, văn hóa Trong bối cảnh toàn cầu hóa, di động xã hội của nhân lực KH&CN sẽ kéo theo sự di động quốc tế của các ý tưởng khoa học, công nghệ và chuyên môn Sự di động này tất yếu sẽ dẫn đến sự phân bố không đồng đều về lợi ích giữa các quốc gia “bị chảy chất xám” và các quốc gia tiếp nhận

Trang 20

18

Định nghĩa của UNESCO: Nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ Như vậy, định nghĩa của UNESCO không phân biệt nhân lực KH&CN theo bằng cấp mà phân biệt theo công việc hiện thời

Định nghĩa của OECD: Nhân lực KH&CN dựa trên trình độ và công việc Theo “Cẩm nang về đo lường nguồn nhân lực KH&CN”, xuất bản năm 1995 tại Paris của Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD), theo đó: Nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây:

Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo)

Không được đào tạo chính thức nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc Tổng hợp theo cả hai tiêu chí nói trên thì nhân lực KH&CN theo OECD bao gồm:

Những người có bằng cấp trình độ tay nghề trở lên và làm việc trong lĩnh vực KH&CN nhưng không có bằng cấp, ví dụ, nhân viên lập trình máy tính, hoặc nhân lực quản lý vận hành các dây chuyền thiết bị sản xuất

Những người làm việc trong lĩnh vực KH&CN theo OECD được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm cả những người tiềm tàng/tiềm năng chứ không chỉ

là những người đang tham gia hoạt động KH&CN, để khi cần thiết có thể huy động những đối tượng này tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN Có thể xem hình mình họa dưới đây:

Mô hình hóa định nghĩa nhân lực KH&CN của OECD

Những người có bằng cấp làm trong lĩnh vực KHCN

Trang 21

19

So sánh định nghĩa “Nhân lực KH&CN” của UNESCO và OECD

Chỉ dựa vào lao động hiện tại mà

không dựa vào trình độ

Dựa vào lao động hiện tại, đồng thời

dựa vào trình độ

Có bao gồm nhân lực phù trợ Không bao gồm nhân lực phù trợ, trừ

trường hợp nhân lực đó có bằng cấp Không tính những người không hoạt

là ở chỗ không tiếp cận khái niệm nhân lực KH&CN từ chuyên nghành đào tạo

và tốt nghiệp mà là từ các chức năng nghề nghiệp trong địa hạt KH&CN.Việc tách ra và phân nhóm như trên dễ dàng áp dụng trong việc xem xét chức năng hoạt động, kinh nghiệm công tác, trình độ đào tạo và nghề nghiệp của từng nhóm người đó trong tổng thể nhân lực KH&CN Sử dụng cách tiếp cận OECD

để xác định nhân lực KH&CN của một địa phương hay quốc gia, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch đào tạo, phát triển; cớ sở tính toán nguồn lực đầu vào cho các hoạt động có liên quan đến trình độ, tay nghề (không giới hạn ở hoạt động KH&CN)

Theo định nghĩa của UNESCO, chỉ xác định được nhân lực KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KH&CN mà thôi Khi xây dựng chính sách, cần chọn lọc đối tượng mục tiêu theo tính chất công việc hay theo loại trình độ, theo lãnh thổ hay mặt cắt khác Ở nước ta, Luật KH&CN 2013 cũng như văn bản hướng dẫn thống kê chưa đề cập đến thuật ngữ này dưới dạng một định nghĩa chính thức Một số tác giả chia sẻ với định nghĩa của UNESCO, số khác lại sử dụng định

Trang 22

20

nghĩa nhân lực KH&CN là một bộ phận của nhân lực lao động xã hội được đào tạo ở trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định và tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào các hoạt động KH&CN từ nghiên cứu đến triển khai, đào tạo, quản lý

và vận hành công nghệ Khi nói tới nguồn nhân lực KH&CN, tuy nhiên cần có

sự phân biệt về nội hàm của hai khái niệm này để tránh nhầm lẫn

Quan hệ giữa nhân lực KH&CN và nhân lực R&D

Theo quan điểm của Bộ KH&CN, có 05 lực lượng làm KH&CN:

- Nhân lực KH&CN làm quản lý KH&CN;

- Nhân lực KH&CN làm việc trong các tổ chức KH&CN: các viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm nghiên cứu KH&CN

- Nhân lực KH&CN tại các doanh nghiệp;

- Nhân lực KH&CN trong xã hội; những người dân có sáng kiến cải tiến, yêu KH&CN và tìm các biện pháp áp dụng khoa học và kỹ thuật vào đời sống

- Nhân lực KH&CN là người Việt Nam đang công tác, sinh sống tại nước ngoài

Chính vì vây, quan điểm của tác giả sử dụng trong cuốn sách như sau:

“Nhân lực KH&CN là tập hợp những nhóm người tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với các chức năng: nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và tác nghiệp, góp phần tạo ra tiến bộ của KH&CN, của sự phát triển sản xuất và xã hội.” Theo định nghĩa trên, nhân lực KH&CN sẽ bao gồm:

- Lực lượng nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp

Nhân lực KH&CN với chức năng nghiên cứu sáng tạo gọi là nhà nghiên cứu hay nhà khoa học Các nhà nghiên cứu là những người có trình độ tương đối cao (tốt nghiệp đại học trở lên) Họ khác nhau về trình độ, chức danh, chuyên môn và thường làm việc ở các tổ chức nghiên cứu khoa học

- Lực lượng giảng dạy được đào tạo bậc cao

Đây là lực lượng đông đảo gồm những người có trình độ từ đại học trở lên Họ làm công tác giảng dạy ở các học viện, nhà trường (cao đẳng, đại học) Lực lượng này có nghề chuyên môn là dạy học, tức là nhà giáo chuyên nghiệp – các

Trang 23

21

giáo sư, phó giáo sư, giảng viên đại học Tuy nhiên, họ không chỉ giảng dạy thuần túy mà còn tham gia nghiên cứu khoa học, hướng dẫn sinh viên, NCS tham gia nghiên cứu khoa học

- Lực lượng quản lý khoa học ở các loại hình cơ quan khoa học

Lực lượng này bao gồm các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu làm công tác quản lý, điều hành các hoạt động KH&CN ở các cơ quan quản lý từ các Bộ ban, ngành, sở, viện nghiên cứu, các phòng, ban khoa học ở trường, học việc và các trung tâm dịch vụ KH&CN

Đặc điểm của lao động KH&CN

Ngoài những đặc điểm chung của nguồn lao động, nhân lực KH&CN có những nét đặc trưng riêng Nhân lực KH&CN khác biệt với lao động sản xuất thông thường là ở yếu tố sáng tạo chiếm một phần vô cùng quan trọng trong quá trình lao động của nhà khoa học Trình độ chuyên môn càng cao, hiểu biết sâu rộng thì càng có nhiều cơ hội sáng tạo Những đặc trưng của lao động KH&CN là:

- Lao động khoa học là lao động bằng trí tuệ Do đó, lao động sống luôn giữ vai trò quan trọng hơn lao động vật lý (thiết bị, máy móc ) và năng xuất lao động phụ thuộc rất nhiều vào năng lực trí tuệ Cường độ lao động nhiều khi được tập trung cao độ và lao động khoa học không chỉ diễn ra trong giờ hành chính mà còn diễn ra trong toàn bộ thời gian sống của khoa học Vì vậy, xem xét điều kiện

và môi trường lao động khoa học là cần thiết trong đánh giá tổ chức KH&CN

- Vai trò cá nhân của nhà khoa học có tính chất quyết định năng suất lao động KH&CN Trong thời đại ngày nay có nhiều công trình khoa học đòi hỏi sự tham gia cộng tác của nhiều người, song kết quả tổng hợp cuối cùng và chất lượng công trình đều do người chủ trì cùng những nhân lực KH&CN đứng đầu nhóm nghiên cứu quyết định Do đó, trong quản lý nguồn nhân lực KH&CN cần quan tâm đến chất lượng hơn là số lượng

- Tính kế thừa và tính cộng đồng trong hoạt động KH&CN Các nhà KH&CN luôn được kế thừa trực tiếp hay gián tiếp các thông tin và kinh nghiệp hoạt động KH&CN của lớp người đi trước Trong một tập thể khoa học, sự kế thừa các thế

Trang 24

22

hệ đi trước với các thế hệ kế cận là rất quan trọng Những lớp nhân lực khoa học trẻ được trưởng thành và có những cống hiến xuất sắc trong tập thể khoa học chính là nhờ vào sự dẫn dắt của thế hệ tiền bối Do đó, nếu một tổ chức thiếu đi

sự kế thưa giữa các thế hệ khoa học, thì sẽ dẫn đến tình trạng trì trệ (chỉ có những nhà khoa học tiền bối) hoặc thiếu định hướng (chỉ có các nhà khoa học trẻ) Mặt khác, nhà khoa học còn được thừa hưởng những thông tin khoa học từ kho tàng tri thức của nhân loại và tri thức khoa học từ cộng đồng khoa học trên thế giới Không có nguồn tri thức này, khoa học không thể lớn mạnh được Do

đó quyền tự do trong trao đổi khoa học trong cộng đồng khoa học là không có giới hạn và cần có sự liên kết, trao đổi lẫn nhau trong cộng đồng khoa học Sự thừa kế này còn liên quan đến quá trình tìm kiếm các luận cứ khoa học trong quá trình nghiên cứu, luận điểm đã được chứng minh của các nhà nghiên cứu đi trước có thể sử dụng như luận cứ cho các kết quả nghiên cứu của thế hệ sau Chính vì thế, tính kế thừa và tính cộng đồng trong hoạt động KH&CN là rất cần thiết trong việc phát triển hoạt động nghiên cứu nói chung và các lĩnh vực nghiên cứu nói riêng

- Tính rủi ro cao trong hoạt động khoa học Nhà khoa học thường phải chịu nhiều rủi ro trong quá trình nghiên cứu Do đó, cần có những đánh giá đúng đắn về thành công hay thất bại của các nhà khoa học Bảng thống kê dưới đây cho thấy con số trung bình về mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu và mức độ thành công của các nhà khoa học

Mức độ thành công trong loại hình nghiên cứu

- Tính mới, không lặp lại trong nghiên cứu khoa học Mục tiêu của hệ thống khoa học là luôn tìm tòi, sáng tạo cái mới, do đó nhà khoa học không nên theo một lối

Trang 25

23

mòn có sẵn Đặc trưng này tạo nên sự biến động trong tập thể nghiên cứu khoa học và trong các tổ chức khoa học, sự thay thế và đào thải nhân lực KH&CN không còn đáp ứng được nhu cầu sáng tạo để nhường chỗ cho nhân lực KH&CN năng động và sáng tạo hơn

- Tồn tại khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu khoa học và việc ứng dụng/áp dụng kết quả đó vào sản xuất và đời sống xã hội Trong lịch sử phát triển KH&CN đã có rất nhiều công trình khoa học có giá trị vô cùng to lớn nhưng cũng rất chậm được nhận biết và đánh giá, nhiều khi phải mất một thời gian khá dài mới được áp dụng vào thực tiễn cuộc sống Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học hiện đại và nhu cầu ngày càng cao và càng nhiều của con người thì khoảng cách này được rút ngắn dần

- Thiết bị nghiên cứu có quan hệ mật thiết với kết quả nghiên cứu khoa học Khoa học ngày nay đã phát triển lên một trình độ khá cao và ngày càng đòi hỏi những phương tiện nghiên cứu hiện đại Do vậy để các nhà khoa học có thể đem lại những thành tựu khoa học có giá trị thì việc đầu tư vào trang thiết bị của tổ chức KH&CN là một yêu cầu bức thiết

- Để quản lý di động xã hội trước hết phải đảm bảo các điều kiện nguồn nhân lực KH&CN Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển nguồn lực và nhấn mạnh

sự cần thiết của phát triển nguồn nhân lực KH&CN như là một điều để thu hút nhân lực khoa học và công nghệ bên ngoài tới quốc gia đó, cũng như tạo môi trường để giữ chân nhân lực KH&CN tại chính quốc gia sở tại Phát triển nguồn nhân lực KH&CN được thể hiện qua các chính sách cụ thể, trong đó đề cập tới các vấn đề di động xã hội UNIDO định nghĩa: “Phát triển nguồn nhân lực KH&CN là sự phát triển con người một cách hệ thống như là chủ thể và khách thể của sự phát triển quốc gia, nó bao gồm toàn bộ các khía cạnh kinh tế và công nghiệp, trong đó đề cập đến sự nâng cao khả năng của con người, nâng cao năng lực sản xuất, khả năng sáng tạo, khuyến khích các chức năng lãnh đạo thông qua giáo dục, đào tạo và nghiên cứu” Theo định nghĩa của hiệp hội Mỹ “Phát triển nguồn nhân lực KH&CN nghĩa là sử dụng một cách tổng hợp các hoạt

Trang 26

Như vậy trong hội nhập quốc tế, để Chuẩn hóa và Luật hóa, phải có một khung chuẩn chung và luật chung được đưa ra để cùng tuân thủ và tạo sự bình đẳng trong vị thế quan hệ Bình đẳng trong vị thế quan hệ sẽ tạo ra nhiều diễn đàn hợp tác quốc tế, hoạt động hợp tác quốc tế đa dạng và cùng tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng, minh bạch hóa thông tin trên thị trường quốc tế

2.2 Hội nhập về Khoa học và Công nghệ

Thành tựu khoa học và công nghệ đã đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Đồng thời hội nhập quốc tế cũng đã thúc đẩy sự hợp tác đa diện trong lĩnh vực khoa học và công nghệ Do đó, các quốc gia hội nhập quốc

tế với mục tiêu phát triển tiềm năng, nội lực, khai thác các lợi thế do toàn cầu hóa đem lại, tận dụng những thành tựu khoa học và công nghệ của quốc gia mình

Với mục tiêu đưa khoa học và công nghệ Việt Nam hội nhập quốc tế về mặt chính sách, Chính phủ, trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011 –

2020, xác định rõ phát triển khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành động lực then chốt của quá trình phát triển Quyết định số 418/QĐ-TTg, ngày 11-4-

Trang 27

Nhìn chung bên cạnh những tác động tích cực, hội nhập còn đem lại những tác động tiêu cực Để ngăn chặn những tác động không mong muốn và tận dụng những lợi thế từ hội nhập quốc tế, chính phủ đã có nhưng nỗ lực lớn cải thiện chính sách và môi trường làm việc cho các nhà khoa học

3 Các loại hình di động xã hội

3.1 Di động dọc

Là sự dịch chuyển theo chiều dọc vị trí của cá nhân/nhóm xã hội đến các vị trí khác không cùng tầng/giai cấp Di động có thể “lên trên” hoặc “xuống dưới” Khi xem xét di động xã hội theo chiều dọc, người ta thường nghĩ đến sự di động

đi lên hoặc xuống giữa các giai tầng xã hội, cũng như giữa các thang bậc của một hệ thống phân tầng quyền lực Do ảnh hưởng của các yếu tố quyền lực còn chưa thật sự rõ rệt trong cộng đồng khoa học, hơn nữa khi tỉm hiểu về di động

xã hội của cộng đồng khoa học dụng ý của người viết nhấn mạnh đến khía cạnh nghề nghiệp – xã hội, nên di động dọc của cộng đồng khoa học được thảo luận trong phần này chủ yếu được đề cập trên hai bình diện:

- Sự thay đổi vị trí công tác trên bậc thang nghề nghiệp cũng như xu hướng thăng tiến cá nhân của những người làm KH&CN (Sự thay đổi về mặt địa

vị hành chính trong khoa học chưa làm phát triển chiều sâu của khoa học)

- Sự thay đổi về học vị, chiều sâu của lĩnh vực chuyên môn của các nhà khoa học (di động dọc trong khoa học làm phát triển chiều sâu của khoa học)

Di động dọc nhấn mạnh sự thay đổi địa vị xã hội của cá nhân hay nhóm

Trang 28

26

xã hội Di động dọc trong khoa học và sự thăng tiến địa vị nghề nghiệp

Trước hết cần phải khẳng định đây là sự di động về thang bậc hành chính trong khoa học chứ chưa làm phát triển chiều sâu của khoa học Một nhà khoa học, có thể đang từ một cán bộ nghiên cứu hay giảng dạy bình thường được bổ nhiệm làm một vị trí chức năng nào đó ví dụ như Trưởng phòng Quản lý khoa học hay trường phòng Đào tạo Đó là sự thăng tiến xã hội, sự thay đổi về vị trí

và vai trò cá nhân trong tổ chức khoa học Sự thay đổi này cũng có thể quan niệm là di động dọc trong khoa học Tuy nhiên, đây là sự di động, sự thay đổi về thang bậc hành chính trong khoa học, nó gắn với quyền lực khoa học, sự quyết định các vấn đề liên quan đến khoa học, chứ chưa làm phát triển được trình độ, chuyên môn khoa học của cá nhân đang có sự di động xã hội cũng như bản thân lĩnh vực chuyên môn mà anh ta đang phụ trách, đang theo đuổi

Di động dọc trong khoa học và sự thay đổi trình độ chuyên môn

Di động dọc của CĐKH còn thể hiện ở sự tăng trưởng hay không tăng trưởng về trình độ chuyên môn Đây là một hướng di động đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với không chỉ cá nhân nhà khoa học mà còn đối với ngành khoa học mà cá nhân nhà khoa học đó đang phụ trách hay theo đuổi Bởi lẽ di động dọc trong khoa học sẽ làm phát triển chiều sâu của khoa học, chiều sâu của các lĩnh vực chuyên môn mà các nhà khoa học đó đang phụ trách Biểu hiện cụ thể ở

sự thay đổi về học hàm, học vị chuyên môn, sự phấn đấu thăng tiên trong lĩnh vực chuyên môn của người làm khoa học

3.2 Di động ngang

Là sự dịch chuyển theo chiều dọc vị trí của cá nhân, các nhóm xã hội tới một vị trí khác cùng tầng; là sự thay đổi vị trí xã hội của cá nhân mà không dẫn đến sự thay đổi địa vị xã hội lên hay xuống Di động ngang trong cộng đồng khoa học thường biểu hiện cụ thể ở hiện tượng dịch chuyển lĩnh vực chuyên môn, lĩnh vực hoạt động của những người làm khoa học

Trong các tổ chức khoa học thì loại hình di động này thể hiện dưới hai

Trang 29

27

hình thức:

- Cá nhân người làm khoa học có thể chuyển từ một lĩnh vực chuyên môn này sang một lĩnh vực chuyên môn khác Lĩnh vực chuyên môn họ chuyển tới có thể gần hoặc cũng có thể khác nhiều lĩnh vực chuyên môn

mà họ đang theo đuổi

- Cũng có thể nhà nghiên cứu chuyển dịch lĩnh vực hoạt động của mình trong tổ chức khoa học nhưng chuyển dịch đó không làm thay đổi vị thế khoa học của cá nhân nhà nghiên cứu đó

Hiện tượng di động xã hội ngang trong khoa học có thể được nhìn nhận

và phân tích dưới nhiều khía cạnh Tuy nhiên xét trên phương diện khoa học, sự phát triển của khoa học thì di động ngang lại rất quan trọng, vì loại hình di động này tạo ra sự phát triển đa dạng của các ngành khoa học Một ngành khoa học muốn tồn tại, muốn khẳng định được vị trí độc lập của nó với ngành khoa học khác bên cạnh các yếu tố như: phải có đối tượng nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu và hệ khái niếm, hệ thống lý thuyết, lịch sử nghiên cứu và ứng dụng thì ngành khoa học đó còn cần phải có các nhà khoa học, họ sẽ chính là những người đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của một ngành khoa học

Song song với sự phát triển lớn mạnh các TCKH thì hiện tượng di động

xã hội ngang kéo theo sự dịch chuyển lĩnh vực chuyên môn của các nhà khoa học cũng diễn ra khá rõ nét nhằm xây dựng và hình thành các phương hướng khoa học; trường phải khoa học và các bộ môn khoa học để phát triển khoa học

để phát triển đơn vị khoa học

3.3 Di động xã hội trong thế hệ

Là sự di chuyển về nghề nghiệp hay địa vị xã hội của một cá nhân ở những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời mình Di động trong thế hệ liên quan đến sự vận động của cá nhân trong suốt cuộc đời họ

Một người làm giáo viên nhưng họ cũng có thể trở thành người quản lý trẻ

Trang 30

28

sau giờ học hoặc một người làm tài xế taxi cũng có thể vừa dời khỏi một hãng

kế toán vì hãng phá sản Trong suốt cuộc đời mình một người có thể liên tục thay đổi công việc liên tục là điều dễ thấy Sự vận động của mỗi cá nhân đều nhằm thỏa mãn mục đích mà cá nhân đó muốn hướng tới Di động trong thế hệ diễn ra chỉ đối với cá nhân

3.4 Di động liên thế hệ

Xác định quá trình tiếp nhận vị trí xã hội giữa các thế hệ, là sự dịch chuyển địa vị xã hội của con cái đến tuổi trưởng thành đối với địa vị xã hội của cha mẹ Trong một làng nghề truyền thống, nghề nghiệp được truyền từ đời này sang đời khác Những thế hệ sau, tiếp nối thế hệ trước tiếp tục nghề truyền thống Tuy nhiên, nếu xã hội có những biến động nhất định, việc một trong số những người thuộc thế hệ sau có thể không tiếp tục nghề truyền thống từ đời trước truyền lại

Họ có thể chuyển sang một ngành nghề khác hoặc ra khỏi khu vực làng nghề truyền thống để tiếp tục phát triển bản thân với nghề truyền thống hoặc nghề mới mà họ có được

Trang 31

29

CHƯƠNG 2- HIỆN TRẠNG DI ĐỘNG XÃ HỘI CỦA NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN

2.1 Bối cảnh di động xã hội nhân lực KH&CN của các quốc gia trong

Asean

ASEAN hiện nay đang được coi là khu vực năng động với sự phát triển kinh tế cũng như sự gia tăng hợp tác giữa các quốc gia Mới đây nhất, vào ngày 22/11/2015, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN họp tại thủ đô của Malaysia đã ra Tuyên bố Kualar Lumpur 2015, chính thức thành lập „“ Cộng đồng Kinh tế ASEAN“ (AEC-ASEAN Economic Community), có hiệu lực thực thi từ ngày 31/12/2015 Việc thành lập cộng đồng chung này đem lại nhiều lợi ích, nhiều phương hướng, chiến lược cho việc phát triển nguồn nhân lực KH&CN nhưng cũng đem lại những hệ lụy liên quan đến chảy chất xám (brain draining) trong nội bộ cộng đồng ASEAN cũng như các quốc gia trong cộng đồng ASEAN với các quốc gia khác trên thế giới Di động xã hội của nhân lực KH&CN đang trở thành một xu hướng tất yếu trong bối cảnh cộng đồng ASEAN đang áp dụng những chính sách thúc đẩy hoạt động hợp tác trong nội bộ và giữa cộng đồng ASEAN và các nước trên thế giới

ASEAN là khu vực có mức tăng trưởng cao và ổn định: ASEAN lâu nay luôn được coi là khu vực tăng trưởng cao và ổn định hơn các khu vực khác Trong giai đoạn 1980 – 2013, tốc độ tăng trưởng hàng năm của ASEAN luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn cầu khoảng 2% Thành tựu này đã thu hẹp khoảng cách GDP bình quân đầu người của Asean với mức bình quân toàn cầu

từ 6 lần vào năm 1980 xuống còn 2,7 lần vào năm 2013 Ngay cả trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu, tốc độ tăng trưởng của Asean vẫn đạt 4,9%

ASEAN là môi trường thương mại hấp dẫn và thu hút đầu tư: phải nói rằng Asean là khu vực hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế Năm 2006,

Trang 32

30

ASEAN là nơi có trụ sở của 49 công ty trong Forbes Global 2000 Đến năm

2013, con số đó đã tăng lên 74 Asean bao gồm 227 công ty trên thế giới với hơn

1 tỷ USD doanh thu, trong đó, Singapore nổi bật với vị trí đứng thứ năm trên thế giới về mật độ công ty có trụ sở chính và chi nhanh nước ngoài Trên thực tế, năm 2013, các nước Asean-5 bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan đã thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều hơn so với Trung Quốc (Asean-5 là 128.000.000.000 USD còn Trung Quốc là 117.000.000.000 USD) Đồng thời trong năm 2013, khu vực này đã thu hút 9% dòng vốn FDI toàn cầu vào lĩnh vực sản xuất Tuy nhiên, Asean là một quốc gia duy nhất, đó sẽ là thị trường lớn thứ 3 trên thế giới về dân số sau Trung Quốc và

Ấn Độ Đây là một thị trường mở để nguồn nhân lực KH&CN có cơ hội làm việc và cống hiến cũng như các công ty có môi trường kinh doanh thuận lợi để gây dựng và phát triển

ASEAN nằm trong chuỗi giá trị toàn cầu: Đơn cử có thể thấy, Việt Nam chuyên về dệt may trong khi Singapore và Malaysia hiện đang dẫn đầu về xuất khẩu điện tử, Philippines có một ngành gia công phần mềm phát triển Thái Lan

đã gia nhập hàng ngũ các nhà xuất khẩu xe ô tô và phụ tùng hàng đầu còn Indonesia là nước sản xuất cũng như xuất khẩu lớn nhất thế giới về dầu cọ, than

và là nhà sản xuất lớn thứ 2 về cacao và thiếc Mặc dù Myanmar chỉ mới bắt đầu

mở nền kinh tế nhưng lại có trữ lượng lớn dầu, khí đốt và khoáng sản quý Nhu cầu nguồn hàng từ Hoa Kỳ, châu Âu, Trung Quốc và Nhật Bản đã tiếp tục thúc đẩy kinh tế ASEAN tăng trưởng Các khu chế xuất được thành lập trên toàn ASEAN: Khu thương mại tự do Batam (Singapore –Indonesia), các khu bất động sản phía Nam khu vực công nghiệp (Thái Lan), ku chế xuất Tanjung Emas (indonesia), Cảng Klang Free Zone (Malaysia), các đặc khu kinh tế Thilawa (Myanmar), và khu chế xuất Tân Thuận, VSIP (Việt Nam) đều đã thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu cho khu vực này

ASEAN có lợi về lực lượng nhân lực cho hoạt động KH&CN: Lực lượng lao động của Asean dự kiến sẽ tăng thêm 70 triệu vào năm 2030 (so với năm

Trang 33

31

2010) Trong khi đó, lực lượng lao động của Trung Quốc dự kiến sẽ giảm giần gần 70 triệu Cơ cấu thuận lợi này giúp Asean thu hút các nhà đầu tư vào sản xuất, đào tạo nhân lực KH&CN hoặc thu hút nhân lực KH&CN tham gia vào các hoạt động KH&CN

Mối liên kết trong và ngoài cộng đồng ASEAN: Trong dài hạn, Asean sẽ

có lợi từ các hiệp định thương mại tự do, đặc biệt trong số đó là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và Hiệp định Đối tác Xuyên Thai Bình Dương (TPP) Thông qua những hiệp định này, nền kinh tế Asean có cơ hội tiếp cận những thị trường có qui mô lớn hơn Ngoài ra, thương mại nội bộ của Asean cũng có thể phát triển hơn nữa nhờ tăng cường hợp tác kinh tế ngày càng mạnh

mẽ với việc thành lập Cộng đồng Kinh tế Asean (AEC)

Nhóm các yếu tố nội tại: ASEAN là khu vực phân hóa cao có sự cách biệt lớn giữa các quốc gia: Trong cộng đồng các quốc gia ASEAN, có sự chênh lệch lớn về tăng trưởng kinh tế, ví dụ GDP bình quân đầu người của Singapore cao gấp 55 lần so với Campuchia Điều này dẫn đến sự khác biệt trong môi trường, điều kiện làm việc của nhân lực KH&CN Hơn nữa, sự khác biệt từ văn hóa, ngôn ngữ, điều kiện học tập cũng là nguyên nhân dẫn đến sự di động nhân lực KH&CN trong cộng đồng các quốc gia ASEAN

Năng suất lao động: Tại hầu hết các nước ASEAN, năng suất lao động chỉ bằng khoản 1/3 đến ½ so với năng xuất lao động tại Hoa Kỳ (ngoại trừ Singapore là nước có năng suất lao động cao nhất châu Á) Đây chính là lý do để nguồn nhân lực KH&CN bên ngoài tham gia vào sản xuất tại khu vực và sự di chuyển ra bên ngoài các quốc gia khác trên thế giới vì năng suất lao động đi kèm với mức lương được chi trả

Hoạt động nhóm của các nhà khoa học: Các nhà khoa học luôn bị thu hút bởi các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới khác trong quá trình sáng tạo (ví dụ như 1 ý tưởng mới, một sản phẩm mới và một qui trình sản xuất mới, các hoạt động nghiên cứu và phát triển) Hơn nữa, các nhà khoa học thường xuyên

Trang 34

32

làm việc trong một mạng lưới các nhà khoa học và cộng tác viên từ nhiều nước, chính điều này ảnh hưởng đến quyết định di động kèm theo di cư của họ

2.2 Di động nhân lực KH&CN tại các quốc gia ASEAN

2.2.1.Di động xã hội của nhân lực KH&CN

2.2.1.1 Khái niệm

Di động xã hội của nhân lực KH&CN có thể được hiểu là sự dịch chuyển

về vị trí xã hội của cá nhân hay một nhóm nhân lực KH&CN; sự thay đổi đi lên hoặc đi xuống về vị thế xã hội giữa các cá nhân/nhóm nhân lực KH&CN khác nhau trong hệ thống phân tầng xã hội trong khoa học, sự chuyển dịch từ một địa

vị này đến một địa vị khác trong cơ cấu của KH&CN

2.2.1.2 Nguyên nhân dẫn tới di động xã hội của nhân lực KH&CN

Di động xã hội là một đặc tính tất yếu của nhân lực KH&CN Có nhiều quan điểm khác nhau lý giải nguyên nhân hình thành các luồng di động xã hội của nhân lực KH&CN Xét cho đến cùng hiện tượng di động xã hội trong khoa học xảy ra do sự không đồng đều về cơ hội trong khoa học Cơ hội này được thể hiện việc đáp ứng các điều kiện về vật chất và phi vật chất nhằm thỏa mãn các nhu cầu cá nhân của nhân lực KH&CN, trong đó đặc biệt nhấn mạnh về nhu cầu thứ năm trong tháp nhu cầu của Maslow:

Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc “thể lý” (physiological)

Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety)

Tầng thứ 3: Nhu cầu được giao lưu và được trực thuộc trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy

Tầng thứ 4: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) – cần có cảm giác được tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng

Tầng thứ 5: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) – muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt

Trang 35

33

Đặt trong bối cảnh cạnh hội nhập, có thể nhận thấy xây dựng hệ thống chính sách tạo nguồn lực phục vụ hoạt động KH&CN (tin tài, lực tài, vật lực, nhân lực và phần thưởng chính là biện pháp hiệu quả tạo ra các điều kiện thuận lợi để thu hút nhân lực KH&CN Các nguồn lực này là điều kiện cơ bản để thu hút các luồng di động xã hội nhân lực KH&CN

Bên cạnh nguyên nhân về sự không đồng đều trong cơ hội tiếp cận với các nguồn lực, tính tất yếu của việc hình thành và phát triển của các luồng di động xã hội còn được thể hiện rõ hơn qua một số nguyên nhân đặc trưng sau:

Di động xã hội của nhân lực KH&CN do đặc tính của cộng đồng KH&CN

Nguồn nhân lực trong lĩnh vực KH&CN cũng có những đặc điểm riêng phân biệt với NNL trong những lĩnh vực khác Nhân lực KH&CN có năng lực tư duy độc lập, ít bị phụ thuộc vào ý kiến của số đông hoặc quá phụ thuộc vào ý kiến, nhiệm vụ cấp trên giao Có tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám mạo hiểm, tự chịu trách nhiệm Đây là phẩm chất rất quan trọng của người hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới

Chính vì thế, trong các cộng đồng xã hội, cộng đồng KH&CN có lẽ là một trong những cộng đồng có nhiều nét đặc thù nhất Đó là một cộng đồng luôn hướng tới sự tìm tòi, khám phá bằng lao động trí tuệ và đóng góp cho nhân loại những sản phẩm của lao động trí tuệ Có thể nói, cộng đồng khoa học là một công đồng elite của xã hội Vì vậy, việc nghiên cứu các khía cạnh xã hội của cộng đồng này là một việc làm cần thiết mang nhiều ý nghĩa

Cường độ lao động nhiều nhiều khi được tập trung cao độ và lao động khoa học không chỉ diễn ra trong giờ hành chính theo giờ qui định Yếu tố môi trường và điều kiện lao động ảnh hưởng rất lớn đến năng xuất lao động của nhân lực KH&CN, đặc biệt là nhân lực KH&CN chất lượng cao

Bên cạnh đó, nhiều nhà khoa học theo đuổi lối sống quốc tế hóa Có thể thấy sự khác biệt ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa, các chuẩn mực về hành vi xã hội

là những trợ ngại ảnh hưởng lớn nhất tới quyết định di cư Nhưng những trở ngại này thường ít quan trọng đối với những người có trình độ học vấn cao

Trang 36

34

Thực tế, những người di cư có trình độ và có học thức thường biết nhiều hơn 1 ngôn ngữ, họ có sự nhận thức rõ rệt về những khác biệt văn hóa và họ có khả năng thích ứng cao Những điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển của các nhân tài và làm cho việc điều chỉnh dễ dàng với các quốc gia khác và những điều kiện thực tế Bên cạnh đó, yếu tố gia đình được coi là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tới tính di động trong cộng đồng nhà khoa học tuy nhiên yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy sự “ hồi hương” của các nhà khoa học hơn là thúc đẩy “đi”

Di động xã hội của nhân lực KH&CN do sự phát triển của tri thức KH&CN

Sự phát triển của tri thức KH&CN trên toàn thế giới được cho là động lực

có tính căn bản nhất của xu thế toàn cầu hóa KH&CN Sự phổ biến nhanh chóng của tri thức toàn cầu có thể mang lại cơ hội cho những quốc gia lạc hậu về kỹ thuật tiến tới giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó Đó là bởi vì các nhà khoa học và các kỹ sư tại các nước đó tăng thêm vốn kiến thức hữu ích, giới hạn sản xuất toàn cầu sẽ dịch chuyển nhanh hơn so với các cách khác

Di động xã hội của nhân lực KH&CN do nhu cầu đối với nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao

Đã từ lâu, nhân lực chất lượng cao được coi là một nguồn tài nguyên kinh

tế chủ chốt và một nguồn năng lượng sáng tạo trong khoa học, công nghệ, kinh doanh, nghệ thuật và văn hóa cũng như các hoạt động khác Nguồn nhân lực chất lượng cao có giá trị kinh tế lớn và tính di động của nó đã tăng lên với sự toàn cầu hóa, sự lan truyền của CNTT mối và chi phí vận chuyển thấp hơn Những người có tài thường có xu hướng di động hơn lao động phổ thông Những người nhập cư với vốn nhân lực cao sẽ có những chính sách nhập cư thuận lợi hơn ở những nước tiếp nhận, điển hình là những nền kinh tế có thu nhập bình quân đầu người cao mà lại thiếu các chuyên gia CNTT, các nhà khoa học, bác sỹ y khoa và các loại nhân tài khác Các cá nhân từ các nước đang phát triển đang ngày càng tăng đáp ứng nhu cầu toàn cầu đối với nhân tài Đó là trường hợp các chuyên gia công nghệ thông tin từ nhiều nức

Trang 37

35

Giá trị kinh tế của nhân lực chất lượng cao bắt nguồn từ việc sử dụng khác nhau của nó Nhân lực KH&CN có thể là nguồn nhân lực sản xuất cho nền công nghiệp hiện nay (ví dụ: các chuyên gia CNTT và kỹ sư), hoặc một nguồn

để tạo ra của cải (các doanh nghiệp KH&CN), một nguồn tri thức (các nhà khoa học), cung cấp một dịch vụ xã hội (các nhà sáng chế, môi giới sở hữu trí tuệ, thông tin KH&CN) Dưới khía cạnh xã hội học KH&CN, sự di động của nguồn nhân lực KH&CN này rất đáng quan tâm

Để phân tích tính di động của nhân lực KH&CN, có thể xem xét ba chủ thể là ở những quốc gia nguồn, ở những quốc gia tiếp nhận và trong bối cảnh toàn cầu hóa Ở những quốc gia nguồn, sự di cư của nhân lực KH&CN có thể làm giảm nguồn vốn nhân lực của họ Đối với các quốc gia đang phát triển, sự di động các doanh nhân, các nhà khoa học, các chuyên gia công nghệ, các bác sĩ sẽ gây cản trở và ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển của các quốc gia này Ngược lại, đối với các quốc gia tiếp nhận sẽ được hưởng từ một dòng chảy chất xám làm tăng cơ sở nguồn nhân lực có chuyên môn mà họ đang thiếu Dựa vào nguồn vốn nhân lực tiếp nhận được, các quốc gia tiếp nhận tích lũy được lợi thế trong lĩnh vực khoa học, y tế và văn hóa Trong bối cảnh toàn cầu hóa, di động

xã hội của nhân lực KH&CN sẽ kéo theo sự di động quốc tế của các ý tưởng khoa học, công nghệ và chuyên môn Sự di động này tất yếu sẽ dẫn đến sự phân

bổ không đồng đều về lợi ích giữa các quốc gia “bị chảy chất xám” và các quốc gia tiếp nhận

Di động xã hội do các hệ lụy của quá trình toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa hay hội nhập quốc tế là những bài toán phát triển với mỗi quốc gia và với từng khu vực, bởi lẽ bên cạnh những tác động mang tính tích cực thì các quốc gia và khu vực đang đứng trước một môi trường cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu Điều này dẫn tới cuộc chạy đua nhân lực KH&CN mà ta đã được phân tích ở phần trên, song bên cạnh đó, những hệ lụy từ quá trình toàn cầu hóa đã và phát triển của các luồng di động xã hội của nhân lực KH&CN mới

sự xuất hiện của những miền đất hứa mới nơi có điều kiện môi trường và các

Trang 38

Một hệ lụy khác về vấn đề dân số và lao động tại các quốc gia có nền kinh

tế phát triển, đời sống công nghiệp và lối sống hiện đại đang khiên các quốc gia này có những biến đổi sâu sắc về cơ cấu dân số Theo thống kê, các nước giàu đang ngày càng có dân số già, cơ cấu tuổi ở các nước nghèo đang ngày càng trẻ hơn Vấn đề dân số ngày càng già đi, dân đến tác động ngoại biên về việc thiếu hụt nguồn lao động để thúc đẩy phát triển kinh tế Qua trình giao lưu văn hóa, sự

ổn định chính trị cũng là những yếu tố thúc đẩy quá trình di động nguồn nhân lực KH&CN

Việc siết chặt các biện pháp quản lý hay sử dụng các hình thức cấm đoán nhân lực KH&CN trong thời gian công tác tại tổ chức không được tham gia cộng tác với các cơ quan khác, không được đảm nhận đa vị thế khiến các luồng

di động chấm dứt, thậm chí còn dẫn đến hiện tượng chảy chất xám trở nên nghiêm trọng hơn, hạn chế tính năng động, sáng tạo của người làm khoa học, không thể tự giải quyết được sự thiếu hụt nhân lực khoa học, không thể giải quyết được sự thiếu hụt nhân lực khoa học trong nội bộ một ngành, một tổ chức KH&VN, một địa phương và một quốc gia, không đáp ứng được nhu cầu thị trường Mặt khác việc cấm đoán di động xã hội cũng khó có thể đi đến một kết quả tốt đẹp vì hiện tượng này sẽ xảy ra và chắc chắn sẽ xảy ra một khi vẫn còn

sự bất bình đẳng, sự không đồng đều về các cơ hội trong khoa học Xuất phát từ các phân tích về các nguyên nhân sâu xa của các hiện tượng di động xã hội trong

Trang 39

37

khoa học, giải pháp chính sách hữu hiệu để kiểm soát, định hướng, thu hút

“luồng di đi động xã hội”; dòng chảy “chất xám” hay nói cách khác là quản lý di động xã hội trong khoa học nên bắt đầu từ sự tác động trực tiếp vào các nguyên nhân sâu xa của vấn đề

Đối với các quốc gia đang phát triển, nhân lực KH&CN là một trong những thành tố quan trọng cốt lõi của hệ thống đổi mới quốc gia (National System Innovation) Vì vậy, trong chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới (Science, Technology and Innovation Policy) của các quốc gia này, chính sách

để phát triển nhân lực KH&CN thu hút các dòng chảy của nhân lực KH&CN giữa các lĩnh vực chuyên môn (discipline mobility); định hướng dòng chảy nhân lực KH&CN giữa các lĩnh vực chuyên môn; thu hút nhân lực KH&CN giữa các khu vực, quốc gia, địa phương; đào tạo nhân lực KH&CN luôn là một những trọng tâm chính sách nhân lực của các quốc gia Di động xã hội của nhân lực KH&CN với những đặc trưng phân tích như trên đã và đang đặt ra những bài toán về hoạch định các chính sách thu hút nhân lực KH&CN và tạo ra cán cân cân bằng giữa chảy chất xám và thu hút chất xám tại các quốc gia hiện nay

2.2.1.3 Phân loại di động xã hội của nhân lực KH&CN

(1) Di động xã hội không kèm di cư

Di động xã hội không kèm di cư có thể coi là hiện tượng đa vai trò – vị thế việc làm, nghề nghiệp của cá nhân một nhà nghiên cứu Nghĩa là một nhà nghiên cứu có thể đảm nhận nhiều công việc (đa vị thế việc làm – nghề nghiệp) trong cùng một thời điểm Vị thế xã hội thường được hiểu như là “chỗ đứng” của cá nhân trong không gian xã hội so sánh với những người khác Nó quy định quan hệ của cá nhân với những người xung quanh Trong xã hội hiện đại, thông thường mỗi cá nhân trong xã hội có thể có một vài vị thế xã hội và kèm theo đó

là tập hợp các vài trò tương ứng Trong nền kinh tế thị trường, lao động là hàng hóa nên sự tác động đến hiện tượng đa vị thế việc làm, nghề nghiệp là tất yếu Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì cơ hội việc làm thêm, làm ngoài ngày càng nhiều Đa vị thế nghề nghiệp trong cộng đồng khoa học có thể làm đồng

Trang 40

Một hiện tượng xã hội nào cũng có thể là tác động dương tính đối với cơ quan, tổ chức hay cá nhân này, nhưng lại là tác động âm tính với cơ quan, tổ chức hay cá nhân khác Tác động âm tinh đầu tiên của hiện tượng đa vị thế, đa vai trò trong khi công tác chính là việc nó đã gây ra sự thiếu hụt và “chảy chất xám” của các cơ quan chủ quản lao động Mặt khác, đa vai trò, đa vị thế đòi hỏi mỗi cá nhân phải rất linh hoạt và nhạy bén khi sắp xếp các công việc, phải điều hòa được các mối quan hệ xã hội riêng mà anh ta đảm nhận Nếu không sẽ rất dễ gây xảy ra hiện tượng “Xung đột vai trò” Trong điều kiện CNTT ngày càng phát triển như hiện nay, hiện tượng chảy chất xám tại chỗ lại càng dễ xảy ra đối với nhiều hình thái và rất khó kiểm soát Một nhà nghiên cứu không nhất thiết phải báo cáo cơ quan là đang hợp tác với một cơ quan khác, hay phải vắng mặt tại cơ quan để đi công tác ở bên ngoài, mà trái lại cá nhân đó vẫn có thể đến cơ quan theo đúng quy định “tám giờ vàng ngọc” Tuy nhiên, việc có mặt ở cơ quan không đồng nghĩa với việc cá nhân đó đến và làm công việc của cơ quan mình Cá nhân đó vẫn ngồi ở cơ quan, nhưng có thể đây chỉ là một hình thức đối phó với tổ chức, với công tác quản lý nhân lực, còn bản thân anh ta lại làm các công việc của các cơ quan, các công ty khác đang công tác, sau đó chỉ cần một thao tác gửi vào mạng Internet đã hoàn thành công việc của mình Và cơ quan bị

“chảy chất xám” vẫn cho rằng mình vẫn đang kiểm soát được nguồn lực chất xám của mình Tuy nhiên, hiện tượng chảy chất xám tại chỗ gây hậu quả xấu đối với “cơ quan bị chảy chất xám” nhưng lại đem tác động tích cực đối với cơ quan

Ngày đăng: 15/01/2020, 10:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Trần Văn Phát (2014), “Bảy điều cần biết về khối ASEAN thống nhất“. Truy cập từ http://hiephoidoanhnghiep.vn/zone/bay-dieu-can-biet-ve-khoi-asean-thong-nhat/177/8173, ngày 21/7/2014 Link
18. Heidrick and Struggles, The Global Talent Index report: The Outlook to 2015. http://www.globaltalentindex.com/Resources/gti-map.aspx# Link
1. Alvin Toffer (1992), Làn sóng thứ ba, Nhà xuất bản Thông tin lý luận, Hà Nội Khác
2. Alvin Toffer và Heidi Toffer (1996), Tạo dựng một nền văn minh mới, chính trị của làn sóng thứ 3, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 3. Ban Thống kê và Dự báo kinh tế (2014), Thông tin kinh tế thế giới vàtrong nước tháng 11/2014, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Khác
4. Bộ Khoa học và Công nghệ (2009), Đề án đẩy mạnh hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ đến năm 2020 Khác
5. Bùi Thị Minh Tiệp (2015), “Nguồn nhân lực của các nước ASEAN và những tham chiếu cho Việt Nam trước thềm hội nhập AEC“ Báo Kinh tế và Phát triển (212/2015:25-34) Khác
6. Đào Thanh Trường (2005) “Di động xã hội ở một cộng đồng khoa học“, Tạp chí Hoạt động khoa học (11/2005: 21-23) Khác
7. Đào Thanh Trường (2005), “Giải pháp chính sách điều chỉnh di động xã hội của cộng đồng khoa học“, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Chính sách khoa học và giáo dục ở Việt Nam trong thời kì đổi mới, NXB Lao động, Hà Nội Khác
8. Đào Thanh Trường (2008),“Di động xã hội của cộng đồng KH&CN“, Tạp chí Xã hội học (3/2008) Khác
9. Đào Thanh Trường (2016), Di động nhân lực khoa học công nghệ tại các quốc gia ASEAN trong xu thế hội nhập quốc tế. Tạp chí xã hội học số 1 (133).216 Khác
10. Tony Bilton, Kenvin Bonnnett, Philip Jones, Michelle Sheard và Andrew Webster (1993), Nhập môn Xã hội học, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
11. Mai Hà (2015), Hội nhập quốc tế: Một định hướng quan trọng trong hoạt động KH&CN, Hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới ở Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế, Nxb. Thế giới Khác
12. Richard Perruchoud và Jillyanne Redphath-Cross (biên tập) (2015), Giải thích thuật ngữ di cƣ, Luật Di cƣ quốc tế số 27 (tái bản lần 2).Nxb Tổ chức di cƣ quốc tế Khác
14. Trịnh Ngọc Thạch (2016), “Phát triển nhân lực Khoa học và Công nghệ- Kinh nghiệm của Mỹ và vận dụng vào Việt Nam“. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN (01/2016) Khác
15. UN (2013), Xu hướng nhập cư lao động quốc tế, dữ liệu năm 2013; Tổ chức Lao động Quốc tế & Ngân hàng Phát triển Châu Á 2014. Cộng đồng ASEAN 2015, quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn Khác
16. Vũ Cao Đàm (2007), Phương pháp luận và Nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Khác
17. Vũ Cao Đàm (2009), “Từ bỏ truyền thống kinh viện để hội nhập vào nền khoa học của thế giới đương đại“, Tạp chí Đại học Quốc gia Hà Nội (2/2009).Tài liệu tiếng Anh Khác
19. International mobility of the highly skilled (OECD) (2008), The Global Competition for Talent: Mobility of Highly Skilled, Paris Khác
20. National Science Technology and Innovation Policy Office (2015). Thailland Science and Technology Indicators 2014 Khác
22. Roney Stark(1996), Sociology, 5th Edition, The McGRAW-HLLL Companies Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm