Nghiên cứu này xác định đặc điểm giải phẫu của vùng không tiếp khớp chỏm quay, xác định tính chính xác của các phương pháp lâm sàng xác định vùng không tiếp khớp hiện nay trên người Việt Nam.
Trang 1NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU ỨNG DỤNGVÙNG KHÔNG TIẾP KHỚP
CỦA CHỎM QUAY Ở KHỚP QUAY TRỤ TRÊN
Thái Hồng Phong*, Đỗ Phước Hùng**
TÓM TẮT
Mục tiêu: Nghiên cứu này xác định đặc điểm giải phẫu của vùng không tiếp khớp chỏm quay, xác định tính
chính xác của các phương pháp lâm sàng xác định vùng không tiếp khớp hiện nay trên người Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, mô tả hàng loạt ca Thực hiện phẫu tích 28 mẫu khuỷu
từ xác tươi Đánh dấu và so sánh vị trí của 3 vùng không tiếp khớp với nhau: vùng không tiếp khớp chuẩn, vùng không tiếp khớp Smith, vùng không tiếp khớp Caputo Bộc lộ chỏm quay, đánh giá đặc điểm giải phẫu vùng không tiếp khớp
Kết quả: Vùng không tiếp khớp ở vị trí trước ngoài chỏm quay khi cẳng tay ở tư thế trung tính Ở mặt trên,
vùng này hình tròn, có mép nhô nhọn Ở mặt bên, vùng sụn rộng hoàn toàn thuộc vùng tiếp khớp, vùng sụn hẹp chứa vùng không tiếp khớp ở giữa và vùng không tiếp khớp ở 2 bên Vùng không tiếp khớp có màu nhạt hơn so với màu tương ứng ở vùng tiếp khớp Phương pháp Smith cho kết quả kém tin cậy (22 /28 mẫu vượt qua giới hạn sau vùng không tiếp khớp chuẩn) Phương pháp Caputo cho kết quả tin cậy (27/28 mẫu hoàn toàn thuộc vùng không tiếp khớp chuẩn)
Kết luận: Để xác định vùng không tiếp khớp chỏm quay ở người Việt Nam, phương pháp Caputo cho kết
quả chính xác hơn phương pháp Smith
Từ khóa: Vùng không tiếp khớp chỏm quay, vùng an toàn, gãy chỏm quay
ABSTRACT
NON-ARTICULATING ZONE OF RADIAL HEAD - A CADAVER STUDY
Thai Hong Phong, Do Phuoc Hung
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 21 - No 2 - 2017: 139 - 146
Purpose: To define the anatomic characteristics of the non-articulating area (safe-zone) of the proximal radial
head and determine the reliable method in determining this safe-zone in Vietnamese
Material and methods: We performed anatomy dissection on 28 fresh-frozen elbows from Cadaver Room at
the Department of Anatomy - University of Medicine and Pharmacy, Ho Chi Minh City, from 2014 Dec to 2016 May We marked and compared the position of the safe-zone defined in 3 different methods: the real non-articulating zone, the Smith safe-zone, and the Caputo safe-zone Afterward, we cut out the radiohumeral joint capsule and observed the morphologic characteristics and cartilaginous surface of proximal radial head
Results: The safe-zone is located at the lateroanterior of radial head with the forearm in neutral position
Viewing superiorly, the safe-zone is circle in shape, accompanied by a sharp edge, all of which become elliptical in shape and went with a blunt edge when heading toward the articulating zone On the side of the proximal radial head, the thick rim of cartilage is totally the articulating zone Meanwhile, the thinner rim of cartilage contains the non-articulating arc at its center, and 2 articulating zone on both of sides The color of non-articulating arc is corresponding to the articulating’s, but in a lighter fashion (whitish, yellowish, or pinkish) The Smith method
* Bệnh viện Quận 11
** Bộ Môn Chấn Thương Chỉnh Hình và Phục Hồi Chức Năng, Đại Học Y Dược TP HCM
Trang 2showed a less reliable result (22 over 28 of Smith safe-zone crossed the posterior border of the real safe-zone), while the Caputo method gave a trustable result (27 out of 28 Caputo safe-zone were totally within the real safe-zone)
Conclusions: Application of Caputo method in determine the safe-zone of Vietnamese is more accurate
compared with the Smith method
Key words: non-articulating zone of proximal radial head, safe-zone
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chỏm quay thuộc đầu trên xương quay, tiếp
khớp với chỏm con xương cánh tay và khuyết
quay xương trụ Tuy có kích thước nhỏ hơn so
với các cấu trúc khác ở vùng khuỷu, nhưng
chỏm quay có những vai trò quan trọng: truyền
tải lực từ cổ tay, giữ vững khuỷu, và đặc biệt
làtham gia động tác sấp ngửa cẳng tay
Khi thực hiện động tác sấp ngửa, chỏm quay
xoay quanh khuyết quay xương trụ, và luôn
luôn có một vùng cố định của chỏm quay không
tiếp khớp với xương này, vùng đó gọi là vùng
không tiếp khớp, hay còn gọi là vùng an toàn
Tuy có những vai trò quan trọng như thế,
chỏm quay cũng đối mặt với nguy cơ chấn
thương cao Chấn thương vùng khuỷu chiếm 1,7
– 5,4% các loại chấn thương chi trên, trong đó
gãy chỏm quay là một trong những loại chấn
thương thường gặp(3,6,9,10) Trong điều trị gãy
chỏm quay, để bảo toàn được các vai trò nêu
trên, mục tiêu quan trọng hàng đầu là cố gắng
phục hồi về mặt giải phẫu của chỏm quay
Hiện nay, có nhiều phương pháp kết hợp
xương chỏm quay khác nhau như sử dụng kim
Kirschner, ốc, nẹp ốc(6,7,8,13) Tuy nhiên, dù sử
dụng phương tiện kết hợp xương (KHX) nào,
yếu tố quan trọng hàng đầu mà phẫu thuật viên
lưu tâm là đảm bảo các phương tiện này không
được gây trở ngại vận động sấp ngửa cẳng tay
Để làm được điều đó, các dụng cụ KHX
không được đặt vào vùng tiếp khớp của chỏm
quay với xương trụ, hay nói cách khác, các
dụng cụ KHX phải được đặt vào vùng an toàn
chỏm quay
Theo y văn nước ngoài, hiện nay có ít nhất 3
phương pháp xác định vùng không tiếp khớp
của chỏm quay(4,12,13) Trong đó hai phương pháp
của tác giả Smith và tác giả Caputo giúp xác định được giới hạn của vùng không tiếp khớp này Những phương pháp này đểu sử dụng các mốc giải phẫu làm cơ sở để xác định Vì thế có thể cho kết quả không phù hợp khi áp dụng trên người Việt Nam Ngoài ra, cho đến nay chưa có nghiên cứu đánh giá độ tin cậy của các phương pháp trên được thực hiện(1,2), và tính chính xác của các phương pháp trên như thế nào vẫn còn bỏ ngỏ
Đó là lý do chúng tôi thực hiện nghiên cứu này
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định đặc điểm giải phẫu vùng không tiếp khớp chỏm quay ở khớp quay trụ trên Xác định tính chính xác của các phương pháp lâm sàng xác định vùng không tiếp khớp hiện nay
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang, mô tả hàng loạt ca Đối tượng nghiên cứu: Các khuỷu tay trên xác tươi tại phòng xác của Bộ môn Giải phẫu học – Trường đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2015 đến tháng 5/2016
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Khuỷu tay từ xác tươi người lớn không có biến dạng trên đại thể, và biên độ sấp ngửa thụ động của khuỷu không quá khác biệt so với giới hạn bình thường, trong đó biên độ sấp ngửa bình thường được định nghĩa là 180o(11)
Tiêu chuẩn loại trừ
Khuỷu tay có biến dạng, dị dạng các cấu trúc
ở vùng khuỷu sau khi bộc lộ chỏm quay
Số liệu được nhập vào máy vi tính, xử lý thống kê bằng phần mềm Excel 2013 và Stata 10
Trang 3Công cụ nghiên cứu
Mực đánh dấu: Dùng 3 màu riêng biệt đánh
dấu 3 vùng không tiếp khớp: màu đỏ (vùng
chuẩn), màu đen (vùng Smith), màu xanh dương
(vùng Caputo)
Dụng cụ đánh dấu: kim số 18, lưỡi dao số 10
Quạt màu: theo chuẩn màu CYMK (Cyan,
Magenta, Yellow, Black), đánh giá màu sắc của
sụn chỏm quay
Khung tịnh tiến (hình 1): là một khung hình
lăng trụ tam giác vuông cân Khung dài 30 cm,
mỗi cạnh góc vuông dài 3,5 cm Quy ước đầu xa
của khung là phần sẽ đặt ở đầu dưới xương
quay, đầu gần của khung sẽ đặt ở đầu trên
xương quay
Ở đầu xa của khung, có 2 ống ngắm (hình 1),
vuông góc với cạnh dọc của khung, mỗi ống dài
3 cm, đường kính 2,30 mm; Ống ngắm là nơi đặt
đinh định vị
Đầu mỗi đinh định vị sẽ tiếp xúc với mỏm
trâm quay hoặc lồi củ Lister Đinh định vị dài 4
cm và 5cm, đường kính 2,15 mm Đầu không
tiếp xúc với xương của đinh có vùng ren dài
khoảng 1 cm giúp chống trượt đinh trong
ống ngắm
Tác dụng: Khung tịnh tiến này có tác dụng
“tịnh tiến” góc 90o tạo bởi hai đường thẳng
vuông góc với nhau đi qua lồi củ Lister và mỏm
trâm quay đến chỏm quay theo phương là trục
xương quay, thay vì dùng mắt thường như
Caputo
Cơ chế hoạt động: theo nguyên lý dựng lại
khối hình hộp vuông, tạo ra bởi sự tịnh tiến góc
vuông theo phương pháp Caputo, trên cơ sở
khối lăng trụ tam giác vuông có sẵn (khung tịnh
tiến) Cạnh dọc của khung trùng với phương
tịnh tiến (trục xương quay)
Ống ngắm và đinh định vị giúp dựng 1
mặt phẳng vuông góc với trục xương quay
Mặt phẳng này tạo bởi hai đường thẳng vuông
góc (đinh định vị) và đi qua 2 điểm cố định
cho trước (mỏm trâm quay và lồi củ Lister)
Mặt phẳng này là mặt phẳng duy nhất thỏa mãn các điều kiện trên
Tại nơi tương ứng với chỏm quay đặt kim đánh dấu vuông góc với cạnh dọc có ống ngắm
ở đầu xa Mặt phẳng tạo bởi 2 kim này chính là mặt phẳng tịnh tiến
Hình 1: Nguyên lý hoạt động của khung tịnh tiến
Trái: Mô hình khung tịnh tiến lăng trụ tam giác vuông cân (màu xanh dương) Giữa: Kim định vị ở vị trí A, B (ứng với lồi củ Lister, mỏm trâm quay, kim đánh dấu ở A’, B’ (ở vị trí tương ứng chỏm quay) Phải: Qua việc dựng lại khối hình hộp vuông, ta đã tịnh tiến được góc 90 o tạo qua điểm mốc lồi củ Lister và mỏm trâm quay, theo trục của xương quay, về chỏm quay
Dụng cụ đo đạc: thước đo độ, thước đo góc, thước thẳng, thước kẹp
Các bước tiến hành nghiên cứu như sau:
Bước 1: Chuẩn bị:
Các dụng cụ phẫu tích
Mẫu khuỷu từ xác tươi: Xác tươi được rã đông trong 3 ngày, chọn những mẫu xác thỏa điều kiện chọn mẫu Đặt mẫu nằm ngửa, tay gác lên ngực
Bước 2: Đo biên độ sấp ngửa cẳng tay
Khi xác được rã đông mềm mại, đo biên độ sấp ngửa cẳng tay 3 lần, lấy giá trị trung bình của 3 lần đo để giảm sai số đo lường Giá trị này chúng tôi gọi là biên độ sấp ngửa ban đầu Dùng biên độ sấp ngửa ban đầu này làm giá trị đối chiếu khi thực hiện sấp tối đa và ngửa tối đa trong quá trình đánh dấu các vùng không tiếp khớp
Bước 3: Đánh dấu điểm mốc để xác định vùng không tiếp khớp chuẩn
Trang 4Tiếp cận chỏm quay bằng đường trước, bộc
lộ tối thiểu, sấp cẳng taytối đa, đánh dấu điểm ở
phía trước nhất chỏm quay không tiếp khớp với
khuyết quay xương trụ Đây là giới hạn trước
vùng không tiếp khớp chuẩn
Tiếp cận chỏm quay bằng đường ngoài, bộc
lộ tối thiểu, ngửa cẳng tay tối đa, đánh dấu điểm
ở phía sau nhất chỏm quay không tiếp khớp với
khuyết quay xương trụ Đây là giới hạn sau
vùng không tiếp khớp chuẩn
Bước 4: Đánh dấu điểm mốc để xác định
vùng không tiếp khớp Smith
Tiếp cận chỏm quay bằng đường ngoài, chia
đôi giới hạn trước sau của chỏm quay với cẳng
tay lần lượt ở 3 tư thế trung tính (điểm A), sấp
tối đa (điểm B), ngửa tối đa (Điểm C)
Xem mặt trên chỏm quay là hình tròn, ta có 2
cung AB, AC Giới hạn sau vùng không tiếp
khớp Smith là trung điểm cung AB; giới hạn
trước là điểm nối 1/3 trước và 2/3 sau cung AC
Bước 5: Đánh dấu điểm mốc để xác định
vùng không tiếp khớp Caputo
Đặt khung tịnh tiến vào cẳng tay: đặt 2 đinh
định vị trong 2 ống ngắm với 2 đầu đinh tiếp xúc
lần lượt với lồi củ Lister và mỏm trâm quay
Chỉnh cho cạnh của khung song song với trục
xương quay Tại vị trí ngang mức chỏm quay,
đặt kim vuông góc với cạnh dọc của khung có
ống ngắm và vuông góc với trục xương quay,
đánh dấu lên chỏm quay
Bước 6: Đánh giá đặc điểm giải phẫu vùng
không tiếp khớp của chỏm quay
Cắt đứt bao khớp, các dây chằng bên ngoài,
dây chằng vòng, tiến hành làm trật khớp quay
trụ trên, bộc lộ rõ toàn bộ chỏm quay Lần lượt
sấp và ngửa cẳng tay, đánh giá đặc điểm vùng
không tiếp khớp, mặt bên, mặt trên của chỏm
quay.Đánh giá màu sắc của sụn che phủ chỏm
quay, so với các mã màu trong quạt màu
Bước 7: So sánh vị trí, đo độ lớn của các vùng
không tiếp khớp
Xác định tâm chỏm quay
Chuyển các điểm đánh dấu vùng không tiếp khớp ở mặt bên lên mặt trên chỏm quay So sánh
vị trí của vùng không tiếp khớp chuẩn với vùng không tiếp khớp Smith và Caputo
Bước 8: Đo đường kính chỏm quay, kích thước cung sụn hẹp
Xem mặt trên chỏm quay là hình tròn, mỗi vùng không tiếp khớp sẽ chiếm một cung A và
chắn 1 góc α trên hình tròn đó
Bước 9: Xử lý, phân tích số liệu trên máy tính
Đặc điểm giải phẫu: ghi nhận vị trí, đặc điểm giải phẫu, màu sắc, kích thước của vùng không tiếp khớp chuẩn
Tính chính xác của phương pháp: So sánh vị trí của vùng Smith và vùng Caputo với vùng chuẩn
KẾT QUẢ
Chúng tôi phẫu tích 28 mẫu khuỷu từ xác tươi tại Bộ Môn Giải Phẫu Học, ĐH Y Dược TP.HCM với kết quả như sau:
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Tuổi trung bình của mẫu là 61,86 ± 12,75 tuổi (30 – 89) Tuổi trung bình của mẫu là 61,86 ± 12,75 tuổi (30 – 89).Có 20 mẫu là nam, 8 mẫu là
nữ Tỉ lệ nam:nữ là 5:2 Có 14 mẫu khuỷu trái và
14 mẫu khuỷu phải Các chỉ số đo đạc giữa khuỷu bên phải và bên trái của từng xác trong nghiên cứu khác nhau không có ý nghĩa thống
kê (p<0,05).Biên độ sấp trung bình là 73,96o ± 10,26o (55o – 94o)Biên độ ngửa trung bình là 89,11o ± 5,22o (75o – 96o)
Đặc điểm giải phẫu vùng không tiếp khớp chỏm quay
Ở mặt trên, vùng không tiếp khớp nằm ở vị trí trước ngoài chỏm quay khi cẳng tay ở tư thế trung tính Vùng này có hình tròn, càng về phía vùng tiếp khớp sẽ có hình bầu dục Lõm tiếp khớp với chỏm con xương cánh tay và bờ chỏm quay tạo một mép nhô Mép nhô này nhọn ở vùng không tiếp khớp, càng về phía vùng tiếp khớp, mép nhô này tù dần Chi tiết “gờ nhọn”
Trang 5(angled peak) được tác giả Caputo mô tả làn đầu
tiên, được ghi nhận trong 3/28 mẫu, “gờ nhọn”
này nằm ở trung tâm vùng tiếp khớp
Ở mặt bên, sụn chỏm quay có vùng sụn hẹp
và sụn rộng Vùng sụn rộng hoàn toàn thuộc
vùng tiếp khớp; vùng sụn hẹp chứa vùng không
tiếp khớp ở giữa và vùng tiếp khớp ở 2 bên
Vùng không tiếp khớp có màu nhạt hơn so với màu tương ứng ở vùng tiếp khớp
Độ dài cung các vùng không tiếp khớp
Chu vi chỏm quay: C = 72,18 mm ± 4,70 mm (62 – 79)
Vùng cung sụn hẹp có kích thước trung bình
là 38,96 mm ± 3,65mm (32 – 47), chiếm 55,13 % ± 5,83% (48,53% – 71,21%) chu vi chỏm quay
Bảng 1: Các số đo của 3 vùng không tiếp khớp
Cung A (mm) 24,82mm ± 3,92mm 17,94mm ±3,03mm 17,4 mm ± 2,11mm Góc α (độ) 123,57 o ± 16,34 o 89,32 o ± 13,51 o 86,86 o ± 9,43 o Góc α (rad) 0,687 ± 0,09 0,5 ± 0,08 0,48 ± 0,05
Tỉ lệ 34,33% ± 4,54 % 24,81% ± 3,75 % 24,13% ± 2,62 %
So sánh vị trí các vùng không tiếp khớp
Vùng không tiếp khớp Smith: có 22/28 mẫu
(chiếm 79%) có vùng không tiếp khớp Smith
vượt qua giới hạn sau của vùng không tiếp khớp
chuẩn, chỉ có 6/28 mẫu (chiếm 21%) có vùng
không tiếp khớp Smith nằm trong vùng không
tiếp khớp chuẩn
Vùng không tiếp khớp Caputo: có 27/28 mẫu
(chiếm 92,86%) có vùng không tiếp khớp Caputo
nằm trong vùng không tiếp khớp chuẩn, chỉ có
1/28 mẫu (chiếm 7,14%) có vùng không tiếp
khớp Caputo vượt qua giới hạn sau của vùng
không tiếp khớp chuẩn
BÀN LUẬN
Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện các biện pháp sau để
giúp sai số ở mức tối thiểu trong quá trình
phẫu tích:
Để giảm sai số khi đo đạc, các chỉ số đo đạc được đo 3 lần rồi ghi nhận giá trị trung bình
Để xác định chiều dài các bề mặt cong, chúng tôi dùng kelly kẹp 2 đầu sợi chỉ để ướm sát vào vùng cần đo, rồi đo chiều dài đoạn chỉ đánh dấu bằng thước thẳng
Khi đánh dấu trên chỏm quay: Chúng tôi sử dụng đầu kim 18 (kim hồng) hoặc lưỡi dao mổ
số 10 để đánh dấu trên bề mặt sụn
Để vị trí sấp – ngửa tối đa của cẳng tay đồng nhất trong quá trình phẫu tích, chúng tôi xác định biên độ sấp ngửa ban đầu và dùng biên độ này làm chuẩn cho việc thực hiện động tác sấp – ngửa cẳng tay tối đa khi xác định các vùng không tiếp khớp
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Biên độ sấp - ngửa của khuỷu có sự khác biệt
so với biên độ của người Việt Nam theo ghi nhận(11) Và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
so với các tác giả nước ngoài (xem bảng 2)
Bảng 2: So sánh kết quả biên độ sấp ngửa cẳng tay với các tác giả khác (5)
20-54 tuổi n = 56 Nam
18-55 tuổi n = 20 Nam và nữ
18-22 tuổi n = 1000 Nam
30-89 tuổi n = 28 Nam và nữ Vận động
Ngửa 80 80 81,1 (4,0) 76,9 (2,1) 91,7 (9,6) 89,11 (5,22)
Trang 6Đặc điểm giải phẫu vùng không tiếp khớp
-Vị trí vùng không tiếp khớp: Vùng không
tiếp khớp nằm ở vị trí trước ngoài chỏm quay
khi cẳng tay ở tư thế sấp ngửa trung tính Ghi
nhận này phù hợp với tác giả nước ngoài(4,13)
-Chi tiết “gờ nhọn” ở vùng tiếp khớp: Chi
tiết này được Caputo mô tả đầu tiên(4), chúng tôi
chỉ ghi nhận được ở 3 mẫu, nguyên nhân có thể
vì cỡ mẫu chúng tôi không đủ lớn, không quan
sát được đầy đủ chi tiết giải phẫu này
-Màu sắc sụn che phủ: Tác giả Caputo miêu
tả vùng không tiếp khớp có màu vàng nhạt,
vùng tiếp khớp có màu trắng tinh(4) Theo kết
quả của chúng tôi, vùng không tiếp khớp không
hẳn chỉ có màu vàng nhạt, mà có khi là màu
hồng nhạt, màu trắng nhạt, nguyên nhân là do
màu sắc mắt ta nhìn thấy tùy thuộc vào nhiệt độ
của ánh sáng môi trường, khi sử dụng ánh sáng
nhiệt độ cao (đèn vàng) thì phần sụn có màu ngả
vàng, ngoài ra màu của sụn còn tùy thuộc vào
tình trạng ngấm máu của sụn trong quá trình giữ
đông của xác, nhưng nhìn chung thì màu sắc
vùng không tiếp khớp có màu nhạt hơn màu
tương ứng ở vùng tiếp khớp
-Vùng sụn rộng – sụn hẹp: Có thể nhìn
thấy bằng mắt thường sự chuyển tiếp từ sụn
rộng sang sụn hẹp, điều này được tác giải
Caputo ghi nhận(4)
Tỉ lệ vùng sụn hẹp chiếm 54,14% ± 5,67% chu
vi chỏm quay Tỉ lệ vùng không tiếp khớp chuẩn
chiếm 34,33% ± 4,54 % chu vi chỏm quay Vùng
không tiếp khớp nằm trọn trong vùng sụn hẹp chứ không bao gồm toàn bộ vùng sụn hẹp, không có ranh giới rõ ràng giữa vùng sụn hẹp thuộc vùng không tiếp khớp và vùng sụn hẹp thuộc vùng tiếp khớp
Các đặc điểm giải phẫu trên giúp ta có nhận định ban đầu về vị trí tương đối của vùng không tiếp khớp chỏm quay Tuy nhiên, không có ranh giới rõ ràng về mặt giải phẫu giúp phân biệt giới hạn giữa vùng tiếp khớp
và vùng không tiếp khớp
Tính chính xác của các phương pháp xác định vùng không tiếp khớp
Số đo vùng không tiếp khớp chuẩn
So với các tác giả nước ngoài Sử dụng phép kiểm t phương sai hai nhóm không bằng nhau, chúng tôi ghi nhận được các kết quả sau
Kết quả của chúng tôi khác biệt có ý nghĩa thống kê với Weiss và Hasting (p < 0,05), Caputo (p<0,05); Sự khác biệt này cho thấy vùng không tiếp khớp ở các mẫu NC có biên độ rộng hơn giá trị mà tác giả khác từng ghi nhận Tuy nhiên, do mẫu của chúng tôi không mang tính đại diện cho cộng đồng, nên chúng tôi chưa thể kết luận rằng kích thước vùng không tiếp khớp ở người Việt Nam lớn hơn trị số ghi trong y văn, mà chỉ có thể nói rằng, nhóm đối tượng từ độ tuổi trung niên trở lên có biên độ vùng không tiếp khớp lớn hơn
so với các trị số được ghi nhận trong y văn
Bảng 3: So sánh các nghiên cứu về kích thước vùng không tiếp khớp chỏm quay (4,9,14,15)
Độ lệch chuẩn
Smith và cs 1996 Phẫu tích xác tươi 6 110 105 - 120
Caputo và cs 1998 Phẫu tích xác tươi 24 113 106 - 120 4
Nhóm NC 2016 Phẫu tích xác tươi 28 123,57 85 - 155 16,34
So với Kuhn và cs., kết quả của chúng tôi
khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p=0,296 >
0,05) Với kích thước vùng không tiếp khớp
được ước lượng như vậy, ta có một gợi về kích
thước an toàn của nẹp kết hợp xương là không
vượt quá 34,33% chu vi chỏm quay, vùng không tiếp khớp để kết hợp xương chỏm quay dài không quá 24,44 mm Ngoài ra, dụng cụ để KHX chỏm quay có vùng tiếp xúc với mặt khớp bên có
Trang 7chiều dài không vượt quá 24 mm thì mới an
toàn, tránh biến chứng kẹt khớp
Vùng không tiếp khớp Smith
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi,
phương pháp xác định vùng không tiếp khớp
của Smith có kết quả sai biệt so với vùng không
tiếp khớp chuẩn, 22/28 mẫu (78,57%) vùng
không tiếp khớp của Smith vượt quá giới hạn
sau của vùng không tiếp khớp chuẩn
Mặt khác, chúng tôi nhận thấy kết quả theo
phương pháp Smith phụ thuộc vào sự vững của
khớp quay trụ trên và khớp quay cánh tay Khi
các cấu trúc giữ vững khớp bị tổn thương (do
chấn thương hoặc do thao tác khi mổ ở vùng
khuỷu) sẽ làm thay đổi biên độ sấp và ngửa tối
đa của khuỷu Từ đó vùng không tiếp khớp
chỏm quay xác định theo phương pháp này sẽ bị
thay đổi Nếu cẳng tay sấp (ngửa) tối đa càng
nhiều thì vị trí điểm mốc sẽ bị dời về phía sau
(phía trước), làm cho giới hạn vùng không tiếp
khớp tăng lên so với thực tế
Để áp dụng phương pháp này thuận tiện,
cần bộc lộ rộng chỏm quay, mà làm như vậy dễ
dẫn đến sai số khi đánh dấu (do khớp quay trụ
trên lỏng lẻo, dẫn đến sai số như vừa đề cập)
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phương
pháp Smith có kết quả ít tin cậy, vùng không tiếp
khớp Smith không thật sự an toàn Điều này
cũng được chính tác giả ghi nhận “Việc sai số vài
độ có thể xảy ra do tư thế của cánh tay khi ở tư
thế trung tính, sấp, và ngửa, hay khi đánh dấu
các điểm mốc.”(12)
Vùng không tiếp khớp Caputo
Trong nghiên cứu của chúng tôi, hầu hết các
vùng không tiếp khớp xác định theo phương
pháp Caputo đều nằm trong vùng không tiếp
khớp chuẩn, trong đó có 8 trường hợp (mẫu 6,
16, 22, 23, 27, 28, 29, 30), chúng tôi thấy giới hạn
sau của vùng không tiếp khớp Caputo trùng với
giới hạn sau của vùng không tiếp khớp chuẩn; có
2 trường hợp (mẫu 22, 27) có giới hạn trước
trùng với giới hạn trước của vùng không tiếp
khớp chuẩn; chỉ duy nhất một trường hợp có
giới hạn trước nằm vượt qua giới hạn trước của vùng không tiếp khớp chuẩn (mẫu 25) Ở mẫu
25 này, chúng tôi thấy biên độ sấp ngửa cẳng tay
là 66o - 0o - 93o Với kết quả như vậy, chúng tôi thấy rằng có thể áp dụng phương pháp Caputo để xác định giới hạn vùng không tiếp khớp của chỏm quay Mặt khác, phương pháp này không phụ thuộc sự toàn vẹn cấu trúc giữ vững chỏm quay ở vùng khuỷu, nên dù có tổn thương các cấu trúc ở vùng khuỷu làm mất vững khớp quay cánh tay hay khớp quay trụ trên, ta vẫn có thể dùng phương pháp này để xác định vùng không tiếp khớp chỏm quay
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy 3 điểm cần lưu ý khi áp dụng phương pháp Caputo:
-Việc tịnh tiến 2 điểm mốc ở đầu xa xương quay rất dễ dẫn đến sai số nếu không có trợ cụ
Trong nghiên cứu của mình, Caputo và cs tìm ra phương pháp xác định vùng không tiếp khớp bằng cách tịnh tiến 2 điểm Tuy nghiên, họ không đề cập đến việc giảm sai số khi thực hiện phép tịnh tiến này Thực tế, chúng tôi nhận thấy việc tịnh tiến đơn thuần bằng cách dùng mắt ước lường dễ dẫn đến sai số Đặc biệt là chỏm quay
có kích thước khá nhỏ, thì việc dùng mắt tịnh tiến và đánh dấu trên chỏm quay dễ dẫn đến sai
số khá lớn.Trong nghiên cứu này, chúng tôi thiết
kế một khung tịnh tiến, giúp cho việc tịnh tiến thuận tiện, chính xác Kết quả của chúng tôi cho thấy vùng không tiếp khớp Caputo với việc sử dụng khung tịnh tiến có độ lớn là 86,86o ± 9,43o (70o – 105o), độ lệch chuẩn là 9,43o, nếu ta xem chỏm quay có hình tròn, thì số này tương đương với 2,62%, và với chu vi chỏm quay đo được của chúng tôi, độ lệch này có độ lớn tương đương 1,89 mm ± 0,12 mm kết quả cho sai số chấp nhận được và nên sử dụng khung tịnh tiến để việc đánh dấu được chính xác
-Trường hợp chỏm quay bị gãy rời khỏi cổ xương quay, cần nắn chỉnh chính xác ổ gãy.Nếu
như sau nắn ổ gãy có di lệch xoay, thì vùng không tiếp khớp xác định bằng phương pháp
Trang 8này thiếu chính xác
-Lồi củ Lister và mỏm trâm quay là 2 điểm
mốc giúp xác định lần lượt giới hạn sau và giới
hạn trước trong vùng không tiếp khớp Caputo
Theo Caputo “Giới hạn sau của vùng không tiếp
khớp chuẩn nằm gần với điểm mốc lồi củ Lister
hơn điểm mốc mỏm trâm quay”(4) Kết quả của
chúng tôi cho thấy có 10/28 mẫu nằm gần giới
hạn trước hơn, và có 12/28 mẫu nằm gần giới
hạn sau hơn
Với những trường hợp vùng không tiếp
khớp Caputo trùng/vượt quá với giới hạn của
vùng không tiếp khớp chuẩn, chúng tôi nghĩ
rằng đây là một gợi ý giúp cho nhà sản xuất
dụng cụ kết hợp xương ở chỏm quay có một
số liệu tham khảo, để tạo dụng cụ (nẹp) có
kích thước phù hợp với từng nhóm dân số
khác nhau; mặt khác, phẫu thuật viên khi thực
hiện các ca mổ gãy chỏm quy trên người Việt
Nam cũng có một gợi ý lựa chọn kích thước
dụng cụ (nẹp) phù hợp
Hạn chế của đề tài
Cỡ mẫu không đủ lớn như dự kiến (30 mẫu),
làm giảm độ mạnh của nghiên cứu Ngoài ra, tỉ
lệ giới tính của mẫu không phù hợp với dân số
chung, điều này làm giảm tính đại diện của mẫu
KẾT LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi mô tả các đặc
điểm giải phẫu của vùng không tiếp khớp của
chỏm quay ở khớp quay trụ trên, giúp ta có đánh
giá ban đầu về vị trí tương đối của vùng này Để
xác định ranh giới của vùng không tiếp khớp với
vùng tiếp khớp, áp dụng phương pháp Caputo
cho kết quả chính xác và đánh tin cậy hơn
phương pháp Smith
Lời cám ơn: Vô cùng biết ơn thầy Đỗ Phước Hùng đã tận tình
hướng dẫn hoàn thành công trình Chân thành cám ơn các thầy và
anh chị ở Bộ Môn Giải Phẫu Học – ĐH Y Dược TP.HCM đã tạo
điều kiện cho em thực hiện công trình này Cảm tạ các cô chú đã
hiến một phần thân thể và đồng hành cùng em hoàn thành công trình này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 AO Foudation, Proximal forearm 21-C2.1 ORIF, https://goo.gl/t49AkG
2 Bucholz RW, et al (2014) Elbow fractures and dislocations
In: Charles M Court-Brown Rockwood and Green's Fractures in
Adults, vol.1, 8th Ed, pp.1190-1208.Lippicott William & Wilkins, Philadelphia
3 Bùi Văn Đức (2013) Mất vững khớp khuỷu.In: Bùi Văn
Đức,Chấn thương chỉnh hình - Chi trên, ấn bản lần 2, tr.217-219
NXB Thể dục thể thao, TP HCM
4 Caputo AE, et al (1998) "The nonarticulating portion of the radial head: anatomic and clinical correlations for internal
fixation." J Hand Surg Am, 23 (6), pp.1082-1090
5 Cynthia C, Norkin JW (2009) The Elbow and Forearm In:
Cynthia C Norkin, Measurement of Joint Motion A Guide to
Goniometry.4 Edition, pp 106-106 Margaret Biblis,
Philadelphia
6 Duckworth AD, et al (2012) "The epidemiology of radial
head and neck fractures." J Hand Surg Am, 37 (1), pp.112-119
7 Gutowski CJ, et al (2015) "Comparison of crossed screw
versus plate fixation for radial neck fractures." Clin Biomech
(Bristol, Avon)
8 Kodde IF, et al (2015) "The effect of trauma and patient related factors on radial head fractures and associated injuries
in 440 patients." BMC Musculoskelet Disord, 16 pp.135
9 Kuhn S, et al (2012) "The anatomy of the proximal radius:
implications on fracture implant design." J Shoulder Elbow
Surg, 21 (9), pp.1247-1254
10 Morrey BF (2008) Morrey's The Elbow and Its Disorders
Saunders, USA, pp.359-377
11 Nguyễn Quang Quyền (2008).Xương khớp chi trên In:
Nguyễn Quang Quyền Bài giảng Giải phẫu học, tập 1, ấn bản
lần thứ mười hai, tr.46-49, NXB Y học, TP.HCM
12 Smith GR and Hotchkiss RN (1996) "Radial head and neck fractures: anatomic guidelines for proper placement of
internal fixation." J Shoulder Elbow Surg, 5 (2 Pt 1), pp.113-117
13 Soyer AD, et al (1998) "Optimal position for plate fixation of
complex fractures of the proximal radius: a cadaver study." J
Orthop Trauma, 12 (4), pp.291-293
14 Tejwani NC and Mehta H (2007) "Fractures of the radial head
and neck: current concepts in management." J Am Acad Orthop
Surg, 15 (7), pp.380-387
15 Weiss AP and Hastings H 2nd (1992) "The anatomy of the
proximal radioulnar joint." J Shoulder Elbow Surg, 1(4),
pp.193-199
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 16/12/2016