1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự thay đổi nhận thức của thân nhân bệnh nhi sau khi được tư vấn giáo dục sức khỏe về dự phòng hen phế quản

5 116 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 324,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So sánh điểm trung bình nhận thức về dự phòng hen phế quản trước và sau tư vấn giáo dục sức khỏe. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện về điểm nhận thức về dự phòng hen phế quản sau khi được tư vấn giáo dục sức khỏe.

Trang 1

SỰ THAY ĐỔI NHẬN THỨC CỦA THÂN NHÂN BỆNH NHI

SAU KHI ĐƯỢC TƯ VẤN GIÁO DỤC SỨC KHỎE

VỀ DỰ PHÒNG HEN PHẾ QUẢN

Bùi Thị Thúy Hằng*, Elizabeth Esterl**, Trần Thụy Khánh Linh***

TÓM TẮT

Mục tiêu: So sánh điểm trung bình nhận thức về dự phòng hen phế quản trước và sau tư vấn giáo dục

sức khỏe

Phương pháp nghiên cứu: Bán thực nghiệm đánh giá can thiệp trước sau

Kết quả: Có 80 thân nhân bệnh nhi tham gia trả lời bộ câu hỏi trước và sau khi tư vấn, nhận thấy có sự cải

thiện rõ rệt điểm nhận thức cơ bản về hen phế quản, điểm trung bình nhận thức tăng từ 15,9 ± 1,5 đến 20,2 ± 2,5 (p < 0,01) sau khi tư vấn giáo dục sức khỏe Có sự cải thiện đáng kể điểm nhận thức về biểu hiện, các yếu tố khởi phát hen phế quản, điểm trung bình nhận thức tăng từ 53,6 ± 7,6 đến 62,6 ± 4,7 (p < 0,01) Có sự cải thiện đáng

kể nhận thức về sự trầm trọng nếu hen phế quản không kiểm soát tốt, điềm trung bình nhận thức tăng từ 27,0 ± 2,3 đến 30,0 ± 2,5(p < 0,01) Điểm nhận thức về lợi ích của việc kiểm soát hen tốt tăng từ 58,9 ± 5,3 đến 61,7 ± 3,6 (p < 0,01) Có sự cải thiện đáng kể về nhận thức về những cản trở, điểm trung bình tăng từ 16,3 ± 4,3 đến 21,3 ± 3,3 (p < 0,01) sau khi tư vấn giáo dục sức khỏe Điểm trung bình nhận thức chung về dự phòng hen phế quản tăng từ 171,4± 16,6 trước tư vấn lên 195 ± 10,9 (p < 0,01) sau tư vấn

Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện về điểm nhận thức về dự phòng hen phế quản sau khi

được tư vấn giáo dục sức khỏe

Từ khóa: Trẻ em, hen phế quản, chương trình giáo dục sức khỏe

ABSTRACT

EFFECTIVENESS OF HEALTH EDUCATION PROGRAM ON PREVENTION RELATIVES OF

ASTHMATIC CHILDREN

Bui Thi Thuy Hang, Elizabeth Esterl, Tran Thuy Khanh Linh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 4- 2018: 30 – 34

Objectives: To compare the mean scores of awareness and practice before and after health education

counseling

Methods: Semi-empirical studies evaluated pre and after intervention.

Results: There were 80 relatives who participated to the questionnaire before and after the counseling The

results showed that the improvement in their basic knowledge of asthma prevention, the mean score of awareness increased from 15.9 ± 1.5 to 20.2 ± 2.5 (p < 0.01) after health education counseling There was a significant improvement in the perceived susceptibility, the mean score increased from 53.6 ± 7.6 to 62.6 ± 4.7 (p < 0.01) There was a significant improvement in perceived severity, the mean score increased from 27.0 ± 2.3 to 30.0 ± 2.5 (p < 0.01) There was a significant change in the perceived benefits of good asthma control, with a mean increase from 58.9 ± 5.3 to 61.7 ± 3.6 (p < 0.01) There was a significant improvement in perceived barriers, a mean score

* Đại học kỹ thuật Y-Dược Đà Nẵng ** Đại học Bắc Colorado

*** Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: ThS Bùi Thị Thúy Hằng, ĐT: 0976241832, Email: thuyhang172@gmail.com

Trang 2

increased from 16.3 ± 4.3 to 21.3 ± 3.3 (p < 0.01) after health education counseling The overall mean score for asthma prevention increased from 171.4 ± 16.6 before counseling to 195 ± 10.9 (p < 0.01) after counseling

Conclusions: The results show that there was improvement in the mean score of awareness of asthma

prevention after consulted for health education

Keywords: Children, asthma, health education program

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hen phế quản là một trong những bệnh mạn

tính ở đường hô hấp, thường gặp nhất trên

thế giới và đang gia tăng tại các nước đang phát

triển(13) Ảnh hưởng đến 1 -18% dân số ở các

nước khác nhau(10) Theo báo cáo mới nhất của

WHO vào tháng 12 năm 2016 về hen toàn cầu

ước tính có khoảng 334 triệu người trên toàn thế

giới mắc bệnh hen phế quản, dự báo đến năm

2025 số người bệnh có thể tăng lên khoảng 400

triệu người trên toàn cầu Tuy nhiên, trong số

đó, chỉ có khoảng từ 5% người bệnh hen được

chẩn đoán và điều trị đúng cách Ở Việt Nam, có

hơn 8 triệu người có chẩn đoán hen phế quản

(hơn 5% dân số) kết quả là 25% người bệnh nhập

viện, 42% người bệnh phải nghỉ học và 29%

người bệnh phải nghỉ việc(9) Hen phế quản nếu

kiểm soát không tốt sẽ dẫn đến tắc nghẽn đường

thở không hồi phục hoàn toàn, bệnh nhân phải

nhập viện nhiều lần trong tình trạng khẩn cấp,

tăng tỷ lệ tử vong(3) Riêng trẻ em Việt Nam 12

đến 13 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh hen phế quản cao

nhất Châu Á với 29,1% và đang có chiều hướng

gia tăng (8)

Hen phế quản là một bệnh mạn tính, phải

điều trị lâu dài và không khỏi hoàn toàn Vì vậy

mà vấn đề với điều trị kiểm soát và chăm sóc tại

nhà là rất quan trọng Thực tế hiện nay cho thấy

rằng một số lượng lớn bệnh nhi nhập viện trong

trường hợp khẩn cấp, nhưng hầu hết các cha mẹ

đều thiếu sự hiểu biết về các dấu hiệu của một

cơn hen cấp, các yếu tố gây bệnh, các yếu tố khởi

phát cơn hen, các thuốc sử dụng để cắt cơn, các

cách dự phòng HPQ(1) Mặt khác, các chương

trình giáo dục hen phế quản có hiệu quả sẽ làm

giảm đáng kể tỷ lệ trẻ hen phế quản(4,11,12) và

giảm đáng kể số lần nhập viện và lần khám tại

khoa cấp cứu do cơn hen cấp tính(2) Do đó, sự

hiểu biết về tầm quan trọng của kiến thức hen phế quản để quản lý bệnh của cha mẹ là rất quan trọng để cải thiện kiểm soát hen ở trẻ em

Mục tiêu nghiên cứu

So sánh điểm trung bình nhận thức về dự phòng hen phế quản trước và sau tư vấn giáo dục sức khỏe

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Thân nhân bệnh nhi dưới 5 tuổi đến khám

và điều trị hen phế quản tại Phòng khám và tư vấn hen suyễn - khoa Hô hấp, Bệnh viện Nhi Đồng 2

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu bán thực nghiệm đánh giá trước sau can thiệp

Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu

Cỡ mẫu được tính theo công thức

n = Z2(α ß)

2pq (p1 - p2)2 Trong đó:

n: là số lượng mẫu nghiên cứu ước lượng α: Sai lầm loại 1, tính bằng 5%

β: Sai lầm loại 2 tính bằng 10%

q =

(p1 + p2)2

2 p: Giá trị phụ thuộc q, p = 1- q

p1: Tỷ lệ thân nhân bệnh nhi có nhận thức đúng sau tư vấn (p1 = 0,76)

p2: Tỷ lệ thân nhân bệnh nhi có nhận thức đúng trước tư vấn (p2 = 0,57)

Trang 3

n= 61,4 → n= 61 + (30% thân nhân bệnh nhi

không tham gia trả lời bộ câu hỏi sau khi tư vấn)

 n=80

Kỹ thuật chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện

Công cụ thu thập số liệu

Bộ câu hỏi có kết cấu 4 phần: 10 câu hỏi về

đặc điểm bệnh nhi, 10 câu hỏi về đặc điểm thân

nhân, 28 câu hỏi về nhận thức của thân nhân

bệnh nhi về dự phòng hen phế quản Đánh giá

thực hành về sử dụng thuốc điều trị và dự

phòng hen phế quản bằng bình xịt định liều có

buồng đệm cho trẻ của các thân nhân bệnh nhi,

là bảng kiểm gồm các câu hỏi “có “ hoặc

“không”, nghiên cứu viên đánh giá bằng cách

quan sát

Dữ liệu từ bộ câu hỏi sau khi được thu thập

sẽ được kiểm tra và sử dụng phần mềm SPSS

23.0 để phân tích

KẾT QUẢ

Trong số 80 bệnh nhi có thân nhân tham

gia nghiên cứu, bệnh nhi nam chiếm tỷ lệ gấp

1,6 lần bệnh nhi nữ, tuổi trung bình của bệnh

nhi là 3,5 tuổi, 81,3% bệnh nhi sinh đủ tháng

Tuổi khởi phát hen phế quản (đi khám và bác

sĩ chẩn đoán có hen phế quản) trong nhóm

bệnh nhi là khá sớm (1,8 tuổi), 95% bệnh nhi

đủ cân nặng lúc sinh

Bảng 1 Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhi

Cân nặng lúc

sinh

TB: Trung bình, ĐLC: Độ lệch chuẩn

Trong 80 thân nhân tham gia nghiên cứu, độ

tuồi trung bình là 34,5 tuổi Đa số thân nhân

bệnh nhi có trình độ từ trung cấp trở lên Các

thân nhân bệnh nhi phân bố đồng đều ở các

ngành nghề Đa số thân nhân bệnh nhi có thu nhập gia đình hàng tháng trên 3,5 triệu đồng Số thân nhân bệnh nhi đến từ TP HCM khá cao Đa

số thân nhân bệnh nhi có từ 2 con và hầu hết trong có 1 con có chẩn đoán hen phế quản

Bảng 2 Đặc điểm nhân khẩu học của thân nhân bệnh nhi (n = 80)

Đặc điểm nhân

Trình độ học vấn:

≤ Tiểu học 3 3,8

> THPT 35 43,6

Nghề nghiệp chính

Công nhân 17 21,3 Buôn bán 11 13.8 Nội trợ 26 32,6 Thu nhập hàng

tháng:

≤ 3.500.000đ 9 11,3

> 3.500.000đ 71 88,7

Tình trạng hôn nhân

Đã kết hôn 77 96,3

Số con hiện có

3 con trở lên 9 11,2

Số con hen phế

2 con trở lên 12 15,0

TB: Trung bình, ĐLC: Độ lệch chuẩn

Hình 1 Điểm nhận thức của thân nhân bệnh nhi về

dự phòng hen phế quản trước và sau tư vấn

Trang 4

Bảng 3 Điểm trung bình nhận thức về dự phòng hen phế quản của các thân nhân bệnh nhi trước và sau tư vấn (n=80)

Nhận thức về biểu hiện, các yếu tố khởi phát

Nhận thức về sự trầm trọng (C1→C7) 20,0-35,0 27,0 2,3 26,0-35,0 30,0 2,5 < 0,01 Nhận thức về lợi ích (D1.1→D10) 40,0-75,0 58,9 5,3 60,0-75,0 61,7 3,6 < 0,01

Nhận thức chung (A1→E6) 112,0-216,0 171,4 16,6 174,0-226,0 195,7 10,9 < 0,01

TB: Trung bình, ĐLC: Độ lệch chuẩn

BÀN LUẬN

Nhận thức đúng đắn về hen phế quản và các

biện pháp dự phòng sẽ giúp thân nhân bệnh nhi

chăm sóc trẻ tốt hơn, kiểm soát cơn hen cho trẻ

tốt hơn đồng thời sẽ giảm tỷ lệ tái nhập viện cho

trẻ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh

nhi và người thân(2)

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có sự cải

thiện về điểm trung bình nhận thức cơ bản của

thân nhân bệnh nhi sau khi được tư vấn giáo

dục sức khỏe Điểm trung bình nhận thức tăng

từ 16,7 ± 1,3 lên 19,4 ± 2,7 (hình 1) Kết quả này

tương tự kết quả của tác giả Nguyễn Thị Thúy

tại bệnh viện Xanh Pôn, kết quả cho thấy có

nhiều bố, mẹ bệnh nhi cho rằng HPQ là bệnh di

truyền, bệnh viêm cấp tính đường thở, chỉ có 42

(45,7%) bố, mẹ bệnh nhi cho rằng hen là một

bệnh viêm mạn tính đường thở và sau khi tư vấn

tỷ lệ bố, mẹ bệnh nhi có nhận thức đúng về hen

phế quản đã tăng lên rõ rệt (74,9%) Nhận thức

về phòng ngừa hen phế quản, trước tư vấn có

90,2% bố mẹ bệnh nhi biết được hen phế quản có

thể phòng ngừa được, sau tư vấn tỷ lệ đó tăng

lên 94,6%(5) Còn theo tác giả Noha Abdullah

điểm kiến thức cơ bản về hen phế quản tăng từ

4±1 điểm trước tư vấn lên 6 ± 1 điểm sau tư

vấn(6) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

điểm trung bình nhận thức về các biểu hiện và

các yếu tố gây khởi phát cơn hen tăng từ 53,6 ±

7,6 lên 62,6 ± 4,7 điểm (hình 1).

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thúy

cho thấy tỷ lệ bố, mẹ bệnh nhi HPQ biết được

các biểu hiện của hen là ho, khò khè, khó thở và tức ngực trước tư vấn là 59,8%, sau tư vấn là 85,9%, tỷ lệ bố mẹ bệnh nhi biết được các yếu tố gây khởi phát cơn hen trước tư vấn là 13% và sau tư vấn là 21,7%(5) Tỷ lệ biết các triệu chứng bệnh HPQ trước tư vấn của Prabhakaran L là 72,5% và sau tư vấn là 97,0%(7) Điểm số kiến thức về các biểu hiện của hen phế quản theo nghiên cứu của tác giả Noha Abdullah tăng từ 2,1 ± 1 điểm trước tư vấn lên 2,8 ± 1 điểm sau tư vấn Điểm số kiến thức về các yếu tố gây khởi phát cơn hen tăng từ 2,4±1 điểm trước tư vấn lên 2,7 ± 1 điểm sau tư vấn(6) Về nhận thức được sự trầm trọng nếu hen phế quản không được điều trị và kiểm soát tốt, điểm trung bình nhận thức tăng từ 27,0 ± 2,3 lên 30,0 ± 2,5 sau khi được tư

vấn giáo dục sức khỏe (hình 1)

Theo tác giả Claudia, có 79% thân nhân bệnh nhi cho rằng hen phế quản là bệnh nghiêm trọng(2) Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung bình nhận thức về lợi ích tăng từ 58,9 ± 5,3 lên 61,7 ± 3,6 sau khi được tư vấn giáo dục sức khỏe

(hình 1) Theo tác giả Claudia có 86% thân nhân

bệnh nhi biết rằng hen phế quản có thể kiểm soát được và 88% thân nhân bệnh nhi biết được rằng nếu kiểm soát hen phế quản tốt, trẻ có thể

có các hoạt động bình thường và 85% thân nhân cho rằng trẻ có thể chơi các môn thể thao(2) Theo tác giả Nguyễn Thị Thúy trước tư vấn chỉ có 56,5% bố, mẹ bệnh nhân hen phế quản biết hen có thể kiểm soát được, sau tư vấn tỷ lệ này đã tăng lên 76,1% Trước tư vấn chỉ có 15,2%

bố, mẹ bệnh nhi biết được các biện pháp phòng

Trang 5

hen cho trẻ, sau tư vấn tỷ lệ này là 57,6%, trước

tư vấn chỉ có 60,8% bố, mẹ bệnh nhi biết thời

gian điều trị hen cần phải theo lời khuyên của

thầy thuốc, sau tư vấn tỷ lệ này đạt 84,8% Có

22,8% bố, mẹ bệnh nhi biết trong cơn hen trẻ cần

được điều trị bằng thuốc giãn phế quản, sau tư

vấn tỷ lệ bố, mẹ bệnh nhi biết trẻ cần được dùng

thuốc giãn phế quản hoặc thuốc giãn phế quản

và corticoide đã được nâng lên là 83,7%(5) Điểm

trung bình nhận thức về những cản trở trong

quá trình chăm sóc bệnh nhi hen phế quản tăng

lên đáng kể sau tư vấn giáo dục sức khỏe, từ 16,3

± 4,3 lên 21,3 ± 4,3 (hình 1) Điểm trung bình cho

nhận thức chung về dự phòng hen phế quản

tăng từ 171,4 ± 16,6 lên 195,7 ± 10,9 (hình 1)

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự

như kết quả của nghiên cứu tác giả Nguyễn Thị

Thúy tại bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội, điểm kiến

thức chung của thân nhân bệnh nhi về hen dự

phòng hen phế quản đạt từ trung bình trở lên

chiếm 56,5% trước tư vấn và sau tư vấn tỷ lệ này

là 82,6%(5)

Nghiên cứu của tác giả Yien Yien Soo và

các cộng sự, có sự cải thiện về điểm kiến thức

chung về hen phế quản giữa trước và sau can

thiệp tư vấn giáo dục sức khỏe Điểm trung

bình về kiến thức từ 11 (79%) trước tư vấn

tăng lên 12 (86%) sau tư vấn(12) Tổng điểm

kiến thức chung về hen phế quản theo tác giả

Noha Abdullah cũng tăng từ 10±2 điểm trước

tư vấn lên 14 ± 2 điểm sau tư vấn(6)

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự thay đổi

về điểm nhận thức về dự phòng hen phế quản

của thân nhân bệnh nhi sau khi được tư vấn giáo

dục sức khỏe Từ đó cho thấy hiệu quả ban đầu

của chương trình giáo dục sức khỏe về dự phòng

hen phế quản đang áp dụng tại khoa hô hấp, bệnh viện Nhi Đồng 2

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Canadian Paediatric Society A (2014), "Mannaging the

paediatric patient with an acute asthma exacerbation", Paediatr

Child Health, 17 (5), pp 251–255

2 Cla´udia MS, Luı´sa Barros M (2013), "Asthma knowledge, subjective assessment of severity and symptom perception in parents of children with asthma", J Asthma, 50 (9), pp 1002 -

1009

3 Huỳnh Anh Kiệt, Lê Thị Tuyết Lan (2013), "Sự tương quan giữa mức độ kiểm soát hen phế quản theo ACT và chất lượng cuộc

sống liên quan sức khỏe theo AQLQ(S)", Y học TP Hồ Chí Minh,

17 (1), tr 137-139

4 Kathrin B (2016), "Evaluation of a standardized patient

education program for inpatient asthma rehabilitation", J

Asthma, pp 38-89

5 Nguyễn Thị Thúy (2009), "Đánh giá kiến thức, thực hành của bố

mẹ bệnh nhi bị hen trong điều trị dự phòng hen phế quản ở trẻ

em", Nhà xuất bản Y học, tr.23-25

6 Noha Abdullah A, Maya S, Lisa N (2015), "Development and

Evaluation of a School-Based Asthma Educational Program", J

Asthma, pp 2-40

7 Prabhakaran L, Lim G, Abisheganaden J (2006), "Impact of an asthma education programe on parent’s knowledge, inhaler

technique and compliance to treatment", Singapore Med J, 47 (3),

pp 225

8 Trần Quỵ (2009), "Những hiểu biết mới về hen trẻ em và vấn đề

kiểm soát hen tại cộng đồng", Y học Việt Nam, 356 (2), tr 5 -21

9 Trần Thanh Hải, Tạ Văn Trầm (2011), "Ứng dụng chiến lược hen

toàn cầu (GINA) vào quản lý hen tại Tiền Giang", Y học TP Hồ

Chí Minh, 16 (1), tr 149-152

10 The Global Strategy for asthma management and prevention global innitiative for asthma (GINA) (2016), "Pocket guide for Asthma Management and Prevention (for Adults and children older than 5 years", pp 1-32

11 Yee Hyung K, Kwang Ha Y, Jee-Hong Y (2017), "The Need for a Well-Organized, Video Assisted Asthma Education Program at

Korean Primary Care Clinics", The Korean Academy of Tuberculosis

and Respiratory Diseases 80 (2), pp 169-178

12 Yien Yien S (2015), "Improving Childcare staff management of

acute asthma exacerbation", J Asthma, pp 1-30

13 WHO (2016), "10 facts on asthma, Failure to recongnize and avoid

triggers asthma attack, respiratory distress and even death"", pp 1-10

Ngày nhận bài báo: 10/11/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/11/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/12/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 10:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w