1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát việc sử dụng thuốc hạ glucose máu và sự tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh Đắk Lắk

6 204 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 280,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát tình hình sử dụng các thuốc hạ glucose máu. Đánh giá sự tuân thủ dùng thuốc và các yếu tố liên quan. Xác định mối liên quan giữa mức độ tuân thủ dùng thuốc và mục tiêu điều trị.

Trang 1

KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG THUỐC HẠ GLUCOSE MÁU

VÀ SỰ TUÂN THỦ DÙNG THUỐC Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

TYPE 2 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THIỆN HẠNH ĐẮK LẮK

Trần Thị Thu Hiền * , Nguyễn Hoài Phong ** , Nguyễn Tuấn Dũng ***

TÓM TẮT

Mở đầu: Điều trị đái tháo đường type 2 hiệu quả cần có sự kết hợp giữa chế độ dinh dưỡng, chế

độ tập luyện và dùng thuốc Trong đó tuân thủ dùng thuốc có vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát glucose máu

Mục tiêu: Khảo sát tình hình sử dụng các thuốc hạ glucose máu Đánh giá sự tuân thủ dùng thuốc và

các yếu tố liên quan Xác định mối liên quan giữa mức độ tuân thủ dùng thuốc và mục tiêu điều trị

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả cắt ngang được thực hiện để đánh giá sự tuân thủ

dùng thuốc ở các bệnh nhân ĐTĐ type 2 đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đa Khoa Thiện Hạnh Đắk Lắk

từ tháng 7/2017 đến tháng 6/2018 Sự tuân thủ thuốc được đánh giá bằng cách phỏng vấn bệnh nhân với bộ

câu hỏi Morisky Medication Adherence Scale Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 17.0

Kết quả nghiên cứu: Phác đồ 2 thuốc là phác đồ được sử dụng nhiều nhất (66%) Thuốc uống được sử

dụng nhiều nhất là metformin và gliclazid với tỷ lệ lần lượt là 88,1% và 50,1% Tỷ lệ bệnh nhân có sử dụng insulin trong phác đồ là 28,1% Tỷ lệ tuân thủ tốt, trung bình, kém lần lượt là 48,6%; 27,5%; 23,9% Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến sự tuân thủ thuốc là dân tộc, địa dư, thời gian mắc bệnh, số thuốc hạ glucose máu, tổng số thuốc điều trị, số lần dùng thuốc, sử dụng insulin trong phác đồ Có mối liên

quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ tuân thủ dùng thuốc và kiểm soát glucose máu, HbA1c với p < 0,05

Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân đái tháo đường tương đối cao Một số yếu tố về cơ

địa, bệnh và điều trị có liên quan đến sự tuân thủ dùng thuốc Có mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc

và kiểm soát mục tiêu điều trị đái tháo đường

Từ khoá: tuân thủ dùng thuốc, đái tháo đường type 2, thuốc đái tháo đường

ABSTRACT

INVESTIGATION OF ANTIHYPERGLYCEMIC DRUGS USE AND MEDICATION ADHERENCE

IN PATIENTS WITH TYPE 2 DIABETES MELLITUS

AT THIEN HANH GENERAL HOSPITAL DAK LAK

Tran Thi Thu Hien, Nguyen Hoai Phong, Nguyen Tuan Dung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 197 – 202

Background: Effective treatment of type 2 diabetes requires a combination between of diet, exercise and

medication use Medication adherence plays a very important role in blood glucose control

Aims: to investigate the antihyperglycemic drugs use, to Evaluate the medication adherence and factors

related to medication adherence and to determine the relationship between medication adherence and the treatment outcomes of type 2 diabetes mellitus

* Khoa Dược, Trường Cao Đẳng Y tế Đăk Lăk

** Khoa Nội-nhi, Bệnh viện Đa Khoa Thiện Hạnh Đăk Lăk

** Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

Methods: Cross-sectional observation was designed to evaluate the medication adherence in patients

with type 2 diabetes, at Thien Hanh General Hospital Dak Lak from July 2017 to June 2018 Medication adherence was evaluated by interview patients with the Morisky Medication Adherence Scale Data was

analysed using SPSS 17.0 software

Results: Dual therapy was the most commonly used regimen (66%) Metformin and gliclazide were

most commonly used (88.1% and 50.1%, respectively) The proportion of patients using insulin in the regimen was 28.1% The adherence rate was good, average, poor at 48.6%; 27.5%; 23.9% respectively Factors related to medication adherence were ethnicity, geography, duration of treatment, numbers of antihyperglycemic drugs, number of all medication used, insulin use in regimen There was significant

relationship between medication adherence and blood glucose, HbA1c control with p < 0.05

Conclusion: Adherence rate in patients with diabetes was relatively high Characteristics of patients,

disease and treatment were related to medication adherence There was a relationship between medication

adherence and treatment outcomes

Key words: medication adherence, type 2 diabetes mellitus, anti-hyperglycemic drugs

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường là bệnh nội tiết và rối loạn

chuyển hóa phổ biến ở các nước đang phát

triển(3) Tần suất đái tháo đường type 2 đã và

đang có khuynh hướng gia tăng trên toàn thế

giới và ở Việt Nam Kiểm soát kém bệnh đái

tháo đường sẽ dẫn đến sự tiến triển các bệnh

mạch máu lớn, gây mù mắt, suy thận, bệnh

thần kinh và cắt cụt chi Do đó việc kiểm soát

glucose máu và các yếu tố nguy cơ giúp làm

giảm các biến chứng của bệnh đái tháo đường

và hạn chế tử vong(2) Tuy nhiên, nhiều nghiên

cứu cho thấy đa số bệnh nhân không kiểm

soát được glucose máu(1)

Điều trị đái tháo đường type 2 hiệu quả,

cần có sự kết hợp bộ ba giữa chế độ dinh

dưỡng, chế độ tập luyện và dùng thuốc

Trong đó việc dùng thuốc có vai trò rất quan

trọng trong việc kiểm soát glucose máu Do

đó việc tìm hiểu nguyên nhân và các yếu tố

ảnh hưởng đến vấn đề kiểm soát glucose

máu kém giúp tìm ra giải pháp nhằm nâng

cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân đái tháo

đường type 2 Mà trong đó quan trọng nhất

vẫn là vấn đề hiểu biết về thuốc và sự tuân

thủ dùng thuốc của bệnh nhân

Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát việc sử dụng thuốc hạ glucose máu và sự tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Đa Khoa Thiện Hạnh Đắk Lắk”, nhằm 3 mục tiêu

sau: (1) Khảo sát tình hình sử dụng các thuốc

hạ glucose máu, các kiểu phối hợp thuốc, (2) Đánh giá sự tuân thủ thuốc và các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ thuốc và (3) Xác định mối liên quan giữa mức độ tuân thủ thuốc và glucose máu, HbA1c

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân ĐTĐ type 2 đến khám và điều trị tại phòng khám ngoại trú và điều trị nội trú tại bệnh viện Đa Khoa Thiện Hạnh Đắk Lắk từ tháng 7/2017 đến tháng 6/2018 Bệnh nhân hội

đủ các tiêu chuẩn sau: đã được chẩn đoán ĐTĐ type 2, được điều trị ít nhất 3 tháng và có thông tin glucose máu đói, HbA1c tại thời điểm lấy mẫu và 3 tháng trước đó

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương

pháp mô tả cắt ngang với cỡ mẫu 335 bệnh

nhân, được xác định dựa trên công thức tính

cỡ mẫu để xác định một tỷ lệ

Trang 3

Đánh giá sự tuân thủ thuốc dựa vào thang

điểm Morisky Medication Adherence Scale

(MMAS-8-Items) Mỗi câu trả lời có cho 0

điểm, trả lời không cho 1 điểm Riêng câu hỏi

số 5 nếu trả lời có cho 1 điểm, không cho 0

điểm Tổng số điểm nếu: 8 là tuân thủ tốt, 6-7

là tuân thủ trung bình, < 6 tuân thủ kém

Các yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng

thuốc được khảo sát gồm: Các yếu tố liên

quan đến bệnh nhân (tuổi, giới…), Các yếu

tố liên quan đến bệnh và điều trị (thời gian

điều trị, tiền sử gia đình…) Mối liên quan

giữa mức độ tuân thủ thuốc và glucose máu,

HbA1c được đánh giá bằng phép kiểm chi

bình phương, phân tích tương quan Pearson

test: Trong đó glucose máu chia thành 2

nhóm: ≤ 7 và > 7 mmol/l; HbA1c được chia

thành 2 nhóm: < 7 và ≥ 7%

Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS

17.0 Giá trị p < 0,05 được xem là có ý nghĩa

thống kê

KẾT QUẢ

Qua nghiên cứu 335 trường hợp bệnh

nhân đái tháo đường type 2 từ tháng 7/2017

đến tháng 6/2018, chúng tôi có những kết quả

sau đây:

Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Các đối tượng trong nghiên cứu này chủ

yếu là nữ giới, nhóm tuổi chiếm tỉ lệ cao là

45-59 và 60-74, dân tộc kinh chiếm đa số và chủ

yếu sống ở thành thị, có bảo hiểm y tế, sống

cùng người thân

Tình hình sử dụng các thuốc hạ glucose máu

Qua khảo sát tình hình sử dụng các thuốc

hạ glucose máu, chúng tôi nhận thấy thuốc

được sử dụng chủ yếu là metformin (88,1%)

và gliclazid (50,1%) Các nhóm thuốc mới

linagliptin và vildagliptin ít được sử dụng

(6%) Có 28,1% trường hợp có sử dụng insulin

trong phác đồ Trong các loại insulin được sử

dụng thì insulin nền được sử dụng nhiều nhất

chiếm 18,8% tổng số bệnh nhân Liều insulin

thấp nhất là 6UI/ ngày thuộc insulin nền Liều insulin sử dụng cao nhất lên đến 55 UI/ ngày thuộc insulin hỗn hợp Đa số các bệnh nhân sử dụng kiểu kết hợp insulin và và thuốc uống là kết hợp với metfomin chiếm 67,1% Kế đến là phối hợp Insulin + metfomin + sulfonylurea hoặc ức chế Dipeptidyl peptidase-4 chiếm 30,1% Số thuốc hạ glucose máu đang sử dụng, được trình bày trong bảng 2

Bảng 1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Thông tin Tần suất (n) Tỷ lệ (%)

Trình độ học vấn

Tiểu học và dưới tiểu học

Tình trạng bản thân

Với người thân

Thời gian điều trị

Bảng 2 : Số thuốc hạ glucose máu đang sử dụng

Số thuốc Tần suất (n) Tỷ lệ (%)

Trang 4

Đánh giá sự tuân thủ thuốc và các yếu tố liên

quan đến sự tuân thủ dùng thuốc

Khi sử dụng thang điểm MMAS-8 để đánh

giá sự tuân thủ dùng thuốc, chúng tôi nhận

thấy tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc ở bệnh nhân

đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Thiện

Hạnh tương đối cao (bảng 3)

Bảng 3: Tỷ lệ tuân thủ thuốc

Mức độ tuân thủ Tần suất (n) Tỷ lệ (%)

Các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ thuốc

Các yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống

kê, đến sự tuân thủ thuốc là dân tộc (χ2=21,3;

p<0,001), địa dư (p<0,001), thời gian mắc bệnh

(p=0,006), số thuốc hạ glucose máu (p=0,034),

tổng số thuốc điều trị (p= 0,004), số lần dùng

thuốc (p=0,005, sử dụng insulin trong phác đồ,

tác dụng phụ (p=0,011), có hay không có sử dụng

insulin trong phác đồ (p<0,001)

Các yếu tố không có mối liên quan với

tuân thủ dùng thuốc như tuổi (p=0,724), giới

tính (p=0,566), nghề nghiệp (χ2 =7,57, p=0,271),

có/ không có bảo hiểm y tế (p=0,099), trình độ

học vấn (p=0,254, tình trạng bản thân (p=0,974)

và một số yếu tố khác

Mối liên quan giữa mức độ tuân thủ dùng

thuốc và kiểm soát glucose máu, HbA1c

Khi xét mối liên quan giữa mức độ tuân

thủ dùng thuốc và việc kiểm soát các mục tiêu

điều trị chúng tôi nhận thấy có mối liên quan

giữa mức độ tuân thủ dùng thuốc và kiểm soát

glucose máu, HbA1c

Bảng 4: Mối liên quan giữa mức độ tuân thủ thuốc

và kiểm soát glucose máu

Mức độ

tuân thủ

Kiểm soát glucose máu Tổng

n/%

p

≤ 7 mmol/l

n (%)

> 7 mmol/l

n (%)

Tốt 89 (54,6) 74 (45,4) 163 (100)

< 0,001 Trung bình 33 (35,9) 59 (64,1) 92 (100)

Kém 14 (17,5) 66 (82,5) 80 (100)

Tổng 136 (40,6) 199 (59,4) 335 (100)

Bảng 5: Mối liên quan giữa tuân thủ thuốc và

kiểm soát HbA1c

Mức độ tuân thủ

Kiểm soát HbA1c Tổng

n (%)

p

<7 %

n (%)

≥ 7 %

n (%)

Tốt 66 (40,5) 97 (59,5) 163 (100)

< 0,001 Trung bình 18 (19,6) 74 (80,4) 92 (100)

Kém 10 (12,5) 70 (87,5) 80 (100) Tổng 94 (28,1) 241 (71,9) 335 (100)

BÀN LUẬN

Mục tiêu chính của điều trị ĐTĐ là kiểm

soát glucose máu gần với mức sinh lý, đạt được mức HbA1c mục tiêu, nhằm giảm các biến chứng có liên quan, giảm tỷ lệ tử vong do đái tháo đường(3) Điều trị đái tháo đường type

2 cần có sự kết hợp giữa bộ ba: chế độ ăn uống, chế độ tập luyện và dùng thuốc Trong

đó việc dùng thuốc có vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát glucose máu

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phác

đồ 2 thuốc là phác đồ được sử dụng nhiều nhất ở các đối tượng bệnh nhân Thuốc được

sử dụng chủ yếu là metformin và gliclazid Có 28,1% trường hợp có sử dụng insulin trong phác đồ Metformin, gliclazid được sử dụng nhiều trong điều trị Điều này phù hợp với hướng dẫn của Hiệp Hội Đái Tháo Đường Hoa Kỳ (ADA), thuốc tương đối rẻ tiền, ít tác dụng phụ, dễ sử dụng và thông dụng ở nhiều

cơ sở y tế, ngay cả tuyến cơ sở Nghiên cứu của Bayisa B năm 2017 tại Ethiopia cho thấy tỷ

lệ sử dụng các thuốc metformin, glibenclamide, insulin lần lượt là 19,5%, 2,3%, 21,3%; phác đồ phối hợp insulin + metformin chiếm 8,6% trong tổng số bệnh nhân(2) Qua đó cũng cho thấy tình hình sử dụng các thuốc ở mỗi vùng, quốc gia cũng khác nhau

Tuân thủ thuốc là vấn đề thiết yếu trong chăm sóc bệnh nhân và không thể thiếu để đạt mục tiêu điều trị Đo lường sự tuân thủ thuốc

Trang 5

có tầm quan trọng cho các nhà nghiên cứu

cũng như thầy thuốc lâm sàng, giúp cung cấp

những bằng chứng tốt hơn về kết quả điều trị,

các yếu tố tiên đoán cũng như nguy cơ và có

chiến lược cải thiện sự tuân thủ Phương pháp

đo lường dựa vào đánh giá chủ quan của bệnh

nhân thông qua bảng câu hỏi nghiên cứu

thường được sử dụng nhất vì tương đối đơn

giản, dễ thực hiện và chi phí không cao Trong

đó, đánh giá sự tuân thủ thuốc theo bảng câu

hỏi gồm 8 mục của Morisky (MMAS-8) được

sử dụng nhiều nhất(6)

Khi sử dụng bảng câu hỏi MMAS-8 để

khảo sát sự tuân thủ dùng thuốc chúng tôi thu

được kết quả như sau: tỷ lệ tuân thủ tốt và

trung bình chiếm tỷ lệ cao 48,6% và 27,5% Kết

quả nghiên cứu của chúng tôi cũng gần tương

đồng với kết quả nghiên cứu của các nghiên

cứu khác Theo tác giả Tefera Kassahun và

cộng sự tại Ethiopia, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ

thấp, trung bình, cao lần lượt là 24,9%, 37,9%

và 37,2%(4) Một nghiên cứu của tác giả Abebe

Solomon Mekonnen và cộng sự tại Ethiopia

cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ thấp, trung

bình, cao lần lượt là 25,4%, 28,7% và 45,9%; kết

quả này gần với kết quả nghiên cứu của chúng

tôi(1) Theo nghiên cứu của Waari G và cộng sự

năm 2018 tại Kenya, cho thấy tỷ lệ tuân thủ

kém 28,3%; tuân thủ trung bình 26,2% và tuân

thủ tốt 45,5%(7)

Như vậy tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc ở bệnh

nhân ĐTĐ tương đối cao Tuy nhiên, các thầy

thuốc thường quan tâm đến các yếu tố ảnh

hưởng đến sự tuân thủ thuốc, đặc biệt các yếu

tố làm bệnh nhân kém tuân thủ để từ đó có

các biện pháp can thiệp nhằm cải thiện sự

tuân thủ điều trị của bệnh nhân Nghiên cứu

của chúng tôi cho thấy các yếu tố có mối liên

quan đến sự tuân thủ dùng thuốc là dân tộc, địa dư, thời gian mắc bệnh/thời gian điều trị,

số thuốc điều trị ĐTĐ, tổng số thuốc dùng trong ngày và có/ không sử dụng insulin Có

sự khác biệt về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuốc giữa các nghiên cứu Điều này

có lẽ do sự khác biệt trong phương pháp nghiên cứu, đặc điểm về văn hoá xã hội của các đối tượng trong mỗi nghiên cứu

Gần đây có nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa tuân thủ thuốc và kiểm soát glucose máu Theo một nghiên cứu mới đây năm 2017 của David M Mosen và cộng sự cho thấy đối với những người tuân thủ thuốc tốt có tỷ lệ kiểm soát glucose máu kém ít hơn 46% so với người tuân thủ thuốc kém sau khi đã điều chỉnh các yếu tố về nhân khẩu học, hành vi (5) Nghiên cứu của Gordon

J và cộng sự cho thấy gia tăng tuân thủ thuốc

có thể mang lại sự cải thiện trong kiểm soát HbA1c Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa mức độ tuân thủ và kiểm soát glucose máu đói và HbA1c với p < 0,001

KẾT LUẬN

Đề tài đã mô tả được tình hình sử dụng các thuốc hạ glucose máu và các kiểu phối hợp thuốc hạ glucose máu trong phác đồ Trong đó các thuốc mới ít được sử dụng Tỷ lệ tuân thủ tốt, trung bình, kém lần lượt là 48,6% và 27,5%; 23,9% Một số yếu tố về bệnh nhân, bệnh và điều trị có liên quan đến tuân thủ thuốc Có mối liên quan giữa tuân thủ thuốc

và kiểm soát glucose máu, HbA1c Qua kết quả trên chúng tôi đề xuất cần tăng cường các biện pháp nhằm cải thiện các yếu tố có liên quan đến tuân thủ thuốc, từ đó làm gia tăng tỷ

lệ kiểm soát glucose máu và HbA1c

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Abebe SM, Berhane Y, Worku A (2014) Barriers to diabetes

Springerplus, 3:195

2 Bayisa B, Bekele M (2017) Glycemic control and associated

factors among type 2 diabetic patients on chronic follow up

at southwest Ethiopia RRJMHS, 6(3): pp.13-18

3 Bộ y tế (2017) Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo

đường típ 2 Quyết định số 3319/QĐ-BYT ngày 19 tháng 7

năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế

associated with glycemic control among adult patients

with type 2 diabetes mellitus: a cross-sectional survey in

Ethiopia BMC Res Notes, 9: pp.78

5 Mosen DM, Glauber H, Stoneburer AB (2017) Assessing

the association between medication adherence and

glycemic control Am J Pharm Benefit, 9(3): pp.82-88

6 Tan X, Patel I, Chang J, et al (2014) Review of the four item Mosrisky Medication adherence scale (MMAS-4) and eight

item Mosrisky Medication adherence scale (MMAS-8) Inov

Pharm, 5(3): pp.165

7 Waari G, Mutai J, Gikunju J (2018) Medication adherence and factors associated with poor adherence among type 2 diabetes mellitus patients on follow-up at Kenyatta

National Hospital, Kenya Pan Afr Med J, 29: pp.82

Ngày nhận bài báo: 18/10/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/11/2018 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 10:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w