Rối loạn cương dương (RLCD) là một bệnh chiếm tỷ lệ cao trong thời gian gần đây, tuy không gây tử vong, không cần chăm sóc khẩn cấp nhưng là bệnh ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống (CLCS). Bài viết trình bày việc khảo sát chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị rối loạn cương dương.
Trang 1CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN
RỐI LOẠN CƯƠNG DƯƠNG
Nguyễn Thị Ngọc Yến*, Carlo Parker **, Trần Thiện Trung ***
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Rối loạn cương dương (RLCD) là một bệnh chiếm tỷ lệ cao trong thời gian gần đây, tuy không
gây tử vong, không cần chăm sóc khẩn cấp nhưng là bệnh ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống (CLCS)
Mục tiêu: Khảo sát chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị rối loạn cương dương.
Phương pháp: Thiết kế cắt ngang mô tả có phân tích trên 104 bệnh nhân từ tháng 3 đến tháng 5/2016 Sử dụng thang đánh giá IIEF-5 và SF-36.
Kết quả: Có mối liên quan giữa RLCD với nhóm tuổi và tình trạng nghề nghiệp Đặc biệt, Bệnh mạn tính
đi kèm với RLCD nhiều nhất là bệnh tiểu đường 22,1% và cao huyết áp là 21,2% Điểm số CLCS trung bình là 46,23 ± 6,78, CLCS có liên quan có ý nghĩa thống kê với tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn CLCS liên quan với mức phân độ bệnh nhẹ, trung bình, nặng với giá trị p lần lượt là p < 0,001; p = 0,005 và p < 0,001 CLCS có mối liên quan với thời gian bị bệnh.
Kết luận: RLCD có tác động làm giảm CLCS của người bệnh, tăng dần theo số tuổi, đặc biệt tăng với những người có bệnh mạn tính như cao huyết áp, tiểu đường … RLCD không gây tử vong, không cần chăm sóc khẩn cấp nhưng ảnh hưởng không tốt đến CLCS nhất là với SKTT, do đó cần thiết phải điều trị, và cần một chương trình tư vấn giáo dục sức khỏe tình dục thích hợp
Từ khóa: Chất lượng cuộc sống, rối loạn cương dương.
ABSTRACT
QUALITY OF LIFE OF PATIENTS WITH ERECTILE DYSFUNCTION
Nguyen Thi Ngoc Yen, Carlo Parker, Tran Thien Trung
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 5 - 2016: 238 - 243
Background: Erectile dysfunction (ED)is a pathological condition that a high percentage of recent times, though not fatal, without emergency care but affect the quality of life (QOL).
Objective: Survey the quality of life of patients with erectile dysfunction.
Method: A cross sectional design was conducted in 104 patients from May 03-05 / 2016 Using the IIEF-5 rating scale - SF-36.
Result: There was an association of ED with age group and occupational status In particular, chronic diseases that the most come with ED are diabetes 22.1% and hypertension 21.2% The score average score of QOL
is 46.23 ± 6.78, QOL are concerned with statistical significance of age, occupation, education level QOL is relating to the classification of mild, moderate, severe to the value p, respectively, p <0.001; p = 0.005 and p
<0.001 QOL also has a relationship with the duration of illness.
Conclusion: ED reduces the impact of the QOL, increases with age, especially those with increased chronic
diseases such as hypertension, diabetes ED do not cause fatal, without emergency care but it has negative impact
on the QOL especially with mental health, so it is necessary to treat and need the counseling programs with an
Trang 2appropriate sexual health
Keywords: Quality of life, erectile dysfunction
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn cương dương (RLCD) là một bệnh
thường gặp Theo nghiên cứu của Feldman(5) về
nam lão hóa trên 1.290 nam giới độ tuổi 40-70
tuổi ở Massachusetts từ năm 1986-1989 ghi nhận
52% có rối loạn cương dương ở các mức độ khác
nhau: nhẹ 17,2%; trung bình 25,2% và nặng 9,6%
Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị
RLCD có hiệu quả tốt nhưng tương đối ít bệnh
nhân đến khám và điều trị dù không hài lòng
với chất lượng cuộc sống Do yếu tố tâm lý và
văn hóa, hầu hết bệnh nhân RLCD che giấu
bệnh của mình Rối loạn cương dương thường
đi kèm với các bệnh mạn tính như bệnh tim
mạch, tiểu đường, cao huyết áp, suy thận mạn
và bệnh thần kinh(15)
Với sự gia tăng của các bệnh mạn tính thì tỷ
lệ rối loạn cương dương ngày càng gia tăng, chất
lượng cuộc sống của nam giới cũng bị ảnh
hưởng và nhu cầu điều trị rối loạn cương dương
cũng tăng theo Dù không gây tử vong, không
cần chăm sóc khẩn cấp, nhưng rối loạn cương
dương dẫn đến sự mặc cảm tự ti của bệnh nhân,
sự nhàm chán trong công việc và hoạt động
hàng ngày, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình,
hậu quả nặng nề là ly thân hoặc ly dị
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định chất lượng cuộc sống và các yếu tố
liên quan đến chất lượng cuộc sống của nam giới
bị rối loạn cương dương đến khám tại phòng
khám Nam khoa bệnh viện Bình Dân – Thành
phố Hồ Chí Minh
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm và thời gian
Phòng khám Nam khoa Bệnh viện Bình Dân
TPHCM từ tháng 03 - 05/2016
Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang mô tả
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân đến khám tại Phòng khám Nam khoa Bệnh viện Bình Dân được chẩn đoán RLCD
Cỡ mẫu
Tính theo công thức
n = Z2(1- α /2) P(1-P)/d2
Trong đó
n = cỡ mẫu tối thiểu = số lượng đối tượng tham gia nghiên cứu
Z (1-/2) : hệ số tin cậy với α là xác suất sai lầm loại I, chọn trị số α là 0,05 ở mức tin cậy 95% Z (1-/2) = 1,96 d: Độ chính xác tương đối mong muốn = 0,1 p: tỷ lệ p ước đoán cho quần thể bệnh nhân nghiên cứu = 0,5
Cỡ mẫu n tính được 96 người và làm tròn là
100 đối tượng
Cách chọn mẫu
Tiêu chuẩn chọn vào
Nam giới tuổi từ 30 đến 70 được chẩn đoán rối loạn cương dương
Tiêu chuẩn lọai trừ
Bệnh nhân chuyển giới
Bệnh nhân đang trong tình trạng cấp cứu về nam khoa
Bệnh nhân có sử dụng ma túy
Bệnh nhân có bất thường cơ quan sinh dục
Phương pháp thu thập số liệu
Phỏng vấn do người thực hiện nghiên cứu
cho bệnh nhân trả lời và điền và bộ câu hỏi
Phương pháp phân tích số liệu
Nhập dữ liệu bằng phần mềm Excel và phần mềm Optum Tính điểm số CLCS bằng phần mềm do Optum cung cấp Xử lý và phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS
KẾT QUẢ
Từ tháng 03/2016 đến tháng 05/2016 tại Bệnh
Trang 3viện Bình Dân mỗi ngày các Bác sĩ khoa Nam
học của Bệnh viện khám trung bình khoảng 240
bệnh nhân, số bệnh nhân được chẩn đoán là
RLCD (thất bại trong quan hệ tình dục) có trung
bình khoảng 41 bệnh nhân chiếm khoảng 17% số
người đến khám
Trong số này có 104 bệnh nhân đồng ý tham
gia nghiên cứu và trả lời các phiếu khảo sát hợp
lệ Chúng tôi đã ghi nhận kết quả như sau
Bảng 1 Các liên quan đến rối loạn cương
Đặc điểm
lâm sàng
Phân độ bệnh
Giá trị p*
Nhẹ,
n (%)
Trung bình,
n (%)
Nặng,
n (%)
Tuổi
≤ 30 – 39 8 (36,4) 11 (17,7) 1 (5)
<0,001
40 – 49 7 (31,8) 18 (29) 3 (15)
50 – 59 7 (31,8) 21 (33,9) 7 (35)
≥ 60 0 12 (19,4) 9 (45)
Nơi cư
trú
Nông thôn 7 (31,8) 27 (43,5) 2 (10)
0,172 Thành thị 15 (68,2) 35 (56,5) 18 (90)
Dân
tộc
Kinh 18 (81,8) 57 (91,9) 19 (95)
0,143 Khác 4 (18,2) 5 (8,1) 1 (5)
Nghề
nghiệp
Thất nghiệp/
Nội trợ 3 (13,6) 6 (9,7) 4 (20)
0,018 Đang làm
việc 17 (77,3) 44 (71) 4 (20)
Già/nghỉ
hưu 2 (9,1) 12 (19,4) 12 (60)
Tình
trạng
hôn
nhân
Độc thân 2 (9,1) 5 (8,1) 3 (15)
0,267 Đang có vợ 20 (90,9) 56 (90,3) 13 (65)
Ly dị/Góa vợ 0 1 (1,6) 4 (20)
Trình
độ học
vấn
Tiểu học 2 (9,1) 5 (8,1) 4 (20)
0,281
Trung học
cơ sở 9 (40,9) 21 (33,9) 6 (30)
Trung học
phổ thông 4 (18,2) 17 (27,4) 9 (45)
>Trung học
phổ thông 7 (31,8) 19 (30,6) 1 (5)
Bệnh
mạn
tính
Tiểu đường 1 (4,3) 9 (39,1) 13 (56,5) <0,001
Hen suyễn 0 1 (100) 0 0,709
Cao huyết
áp 1 (4,5) 10 (45,5) 11 (50) <0,001
Bệnh tim 0 0 1 (100) 0,120
Bệnh gan
mãn 3 (37,5) 5 (65,5) 0 0,250
*Phép kiểm chi bình phương
Bảng 2 Điểm số 8 lĩnh vực CLCS của bệnh nhân
theo SF – 36
Lĩnh vực
sức khoẻ
Trung bình
(Độ lệch chuẩn) Min
Trung vị
Tứ phân vị Max
HĐCN 88,41 ± 15,21 20 95 100
Lĩnh vực sức khoẻ
Trung bình (Độ lệch chuẩn) Min
Trung vị
Tứ phân vị Max
CNĐĐ 63,01 ± 23,70 12 62 100 ĐGSK 45,69 ± 18,29 5 47 92 CNSS 59,38 ± 16,78 12.5 63 94 HĐXH 56,49 ± 17,93 12,5 56 100 GHTL 63,46 ± 26,56 8,33 58 100 TTTQ 52,74 ± 15,96 5 55 85
CLCS: Chất lượng cuộc sống; HĐCN: Hoạt động chức năng; GHCN: Giới hạn chức năng ; CNĐĐ: Cảm nhận đau đớn; ĐGSK: Đánh giá sức khỏe; CNSS: Cảm nhận sức sống; HĐXH: Hoạt động xã hội; GHTL: Giới hạn tâm lý; TTTQ: Tâm thần tổng quát
Bảng 3 Điểm số 2 thành phần SKTC và SKTT của
bệnh nhân theo SF – 36
Thành phần sức khoẻ
Trung bình (Độ lệch chuẩn) Min
Trung vị
Tứ phân vị Max
SKTC 52,98 ± 7,85 31,03 54 91,25 SKTT 39,48 ± 8,18 18,13 40 63 CLCS 46,23 ± 6,78 18,13 46 63
SKTC: sức khỏe thể chất; SKTT: sức khỏe tinh thần; CLCS: chất lượng cuộc sống
Bảng 4 Mối liên quan giữa SKTC, SKTT và CLCS
với đặc điểm lâm sàng của người bệnh
Đặc điểm lâm sàng
Điểm số SKTC (TB ± ĐLC)
Điểm số SKTT (TB ± ĐLC)
Điểm số CLCS (TB ± ĐLC)
Phân
độ rối loạn cương dương
Nhẹ 57,07 ± 10,09 41,72 ± 7,51 48,39 ± 7,43 Trung bình 53,38 ± 6,09 40,33 ± 8,28 47,29 ± 6,11 Nặng 47,24 ± 6,93 34,37 ± 6,68 40,54 ± 5,04 Giá trị p* <0,001 0,005 <0,001 Thời
gian bị rối loạn cương dương
3 tháng 52,98 ± 7,85 52,98 ± 7,85 52,98 ± 7,85
6 tháng 39,48 ± 8,18 39,48 ± 8,18 39,48 ± 8,18
1 năm 4,23 ± 6,78 46,23 ± 6,78 46,23 ± 6,78 Giá trị p* 0,001 0,259 0,037
*Phép kiểm Anova
BÀN LUẬN Các liên quan đến rối loạn cương dương
Có mối liên quan giữa tuổi của bệnh nhân
và mức độ bệnh RLCD với p = 0,001, độ tuổi bị RLCD nhiều nhất là 40 đến 60 và mức độ bệnh tăng dần theo số tuổi (tỷ lệ thuận) phù hợp với những báo cáo về RLCD trên thế giới(10,11) và tương tự với những báo cáo về RLCD của người Châu Á(2,5) Tuy nhiên, những nghiên cứu trước đây thường nghiên cứu tỷ lệ RLCD
ở độ tuổi 40 trở lên, trong nghiên cứu của
Trang 4đưới 40 là 19,2% (20/104) với phân độ nhẹ và
trung bình (Bảng 1) Có thể nhận định rằng
RLCD vẫn xảy ra ở nam giới trẻ tuổi nguyên
nhân có thể do yếu tố tâm lý hoặc do các yếu
tố nguy cơ như hút thuốc lá, uống rượu …(4,18)
Liên quan giữa phân độ bệnh rối loạn cương
và nghề nghiệp, nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy những người già/ nghỉ hưu có tỷ lệ cao
trong số những người rối loạn cương nặng,
trong khi những người đang có việc làm có tỷ lệ
rối loạn cương nặng ít hơn (p < 0,05)
Tuy không tìm thấy mối liên quan giữa nơi
cư trú và dân tộc với RLCD và CLCS nhưng
không thể kết luận vì số người đến khám ở nông
thôn là 36/104 và dân tộc khác là 10/104, tuy
nhiên có thể kết luận rằng những người ở xa
thành phố hoặc dân tộc khác ít quan tâm đến
RLCD hay CLCS hoặc có quan tâm nhưng
không có điều kiện để kiểm tra (xa cơ sở y tế, cơ sở
y tế không có phòng khám Nam khoa hoặc không đủ
khả năng về tài chính …), đặc biệt là với những
phong tục còn duy trì truyền thống phong kiến
của phần lớn dân tộc Việt Nam khiến người
bệnh không đi khám về RLCD, tương tự với một
số dân tộc vùng Châu Á như nghiên cứu của
Low ở Malaisia(13)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có mối liên
quan RLCD với bệnh mạn tính, đặc biệt là cao
huyết áp và tiểu đường giá trị p < 0,001 Mối liên
quan này và trong một số nghiên cứu trước đây
được xác định là những yếu tố nguy cơ cao gây
RLCD(7,16,17,18) Vì thế để điều trị RLCD có hiệu
quả cần phối hợp điều trị ổn định tình trạng
huyết áp và tiểu đường(3,14)
Chất lượng cuộc sống của người có rối loạn
cương dương
Kết quả (Bảng 3) cho thấy người bệnh RLCD
có điểm số CLCS không cao, mặc dù điểm số
HĐCN, GHCN, CNĐĐ trên trung bình nhưng
ĐGSK lại dưới trung bình vì đối với người bệnh
RLCD là một bệnh rất khó chấp nhận, tuy không
ảnh hưởng sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến tâm
sinh lý và hạnh phúc gia đình Đó cũng là lý do
khiến tất cả các điểm số HDXH, TTTQ, GHTL
của các lĩnh vực SKTT đều chỉ ở mức trung bình Nghiên cứu của Kirana(9) ở Mỹ cũng cho kết quả tương tự
Điểm số trung bình CLCS của đối tượng nghiên cứu tương đối thấp 46,23 ± 6,78, với điểm
số trung bình SKTT thấp nhất 39,48 ± 8,18 Nhận định rằng RLCD có thể do nguyên nhân SKTC nhưng RLCD không ảnh hưởng nhiều đến SKTC mà ảnh hưởng rất nhiều đến SKTT dù bệnh nhân tham gia và làm các hoạt động khác giống như người khỏe mạnh bình thường Theo nghiên cứu của Litwin(12) về CLCS của Nam giới RLCD ở Mỹ năm 1998 có số liệu tương
tự, thậm chí còn thấp hơn, cho thấy rằng cho đến nay dù đã có phương pháp điều trị tích cực cho căn bệnh này nhưng RLCD vẫn luôn là vấn đề ảnh hưởng đến CLCS, đặc biệt là ở Việt Nam khi đời sống kinh tế ngày càng nâng cao, thì ngày càng nhiều người quan tâm đến vấn đề tình dục Điều này trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy cho chuyên khoa Nam khoa ngày càng phát triển mạnh đặc biệt là ở Bệnh viện Bình Dân
Liên quan giữa SKTC, SKTT và CLCS với đặc điểm chung của người bệnh
Tuổi
Tuổi càng cao thì SKTC, SKTT và CLCS càng giảm, điều này phù hợp với đặc điểm tâm sinh
lý của con người, không chỉ với RLCD mà còn với tất cả các bệnh khác như bệnh tim mạch, bệnh cao huyết áp, bệnh tiểu đường, trước và sau phẫu thuật … đã được chứng minh của nhiều nghiên cứu trước đây
Nghề nghiệp
Những người già/nghỉ hưu và những người thất nghiệp/nội trợ có điểm CLCS ở 4 lĩnh vực thuộc SKTT thấp hơn những người đang làm việc Có thể thấy mối liên quan giữa nghề nghiệp và CLCS trong nghiên cứu của Ferrie (6)
Trình độ học vấn
Kết quả phân tích cho thấy trình độ học vấn cao là yếu tố ảnh hưởng tích cực đến CLCS của bệnh nhân ở lĩnh vực SKTC, có thể được giải thích là những người có trình độ học vấn cao sẽ
Trang 5có sự nhận thức và hiểu biết về bệnh tật tốt hơn
nên họ có tâm lý dễ thích nghi với bệnh hơn so
với những người có trình độ học vấn thấp
Tương tự như trong nghiên cứu của Karen(8)
nhận thấy những người có trình độ học vấn cao
có điểm CLCS cao hơn ở 2 lĩnh vực HĐCN và
CNĐĐ Nghiên cứu của Tan ở Singapore(20), và
của Quan Bai(1) ở 3 tỉnh của Trung quốc cho thấy
học vấn cao hơn có tỷ lệ RLCD ít hơn nên CLCS
cao hơn
Tình trạng hôn nhân
Có liên quan giữa tình trạng hôn nhân và
chất lượng cuộc sống, những bệnh nhân đã kết
hôn có điểm CLCS cao hơn các nhóm còn lại
(độc thân, góa, ly dị) trong đó các bệnh nhân góa
vợ/chồng có điểm CLCS thấp nhất Điều này đã
được chứng minh qua các nghiên cứu về CLCS
với nhiều loại bệnh khác nhau trên thế giới(2,19),
tuy nhiên, qua nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân và
chất lượng cuộc sống của bệnh nhân có RLCD rõ
ràng hơn
Liên quan giữa SKTC, SKTT và CLCS với đặc
điểm lâm sàng
Nghiên cứu của chúng tôi (Bảng 4) cho thấy
có mối liên quan giữa mức độ RLCD với SKTC,
SKTT và CLCS với giá trị p lần lượt là p < 0,001;
p = 0,005 và p < 0,001, trong đó mức độ bệnh
nhân bị RLCD nặng có điểm số trung bình
SKTC, SKTT, CLCS thấp nhất lần lượt là 47,24 ±
6,93, 34,37 ± 6,68 và 40,54 ± 5,04 Điều này cho
thấy bệnh nhân có mức độ RLCD càng nặng thì
ảnh hưởng đến SKTC, SKTT và CLCS càng
nhiều và có CLCS càng thấp Điểm số SKTT luôn
luôn thấp hơn điểm số SKTT ở cả 3 mức độ
bệnh, chứng tỏ đối với bệnh nhân RLCD thì sức
khỏe tinh thần bị ảnh hưởng nhiều nhất, và ảnh
hưởng lớn làm giảm chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu về rối loạn cương dương tại
phòng khám Nam khoa Bệnh viện Bình Dân
Thành phố Hồ Chí Minh, trong thời gian từ
nhận như sau: trong 104 người bệnh nam được chẩn đoán là rối loạn cương dương tham gia vào nghiên cứu phần lớn là dân tộc Kinh, có tuổi trung bình là 49,88 ± 10,13, đa số bệnh nhân đang sống chung với vợ chiếm tỷ lệ 86,5%, đang có việc làm 62,5%, có phân độ bệnh nhẹ 21,2%, trung bình 59,6% và nặng là 19,2%
Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị rối loạn cương dương giảm đáng kể Điểm số chất lượng cuộc sống trung bình là 46,23 ± 6,78 với điểm số sức khỏe thể chất trung bình là 52,98 ± 7,85 và điểm số sức khỏe tinh thần trung bình là 39,48 ± 8,18 Đặc biệt, bệnh mạn tính đi kèm với rối loạn cương dương nhiều nhất là bệnh đái tháo đường 22,1% và cao huyết áp 21,2%
Chất lượng cuộc sống của những bệnh nhân
có rối loạn cương dương liên quan có ý nghĩa thống kê với tuổi, tuổi càng cao thì chất lượng cuộc sống càng giảm, độ tuổi bị rối loạn cương dương nhiều nhất là 40 đến 60, và số bệnh nhân
bị rối loạn cương dương ở độ tuổi đưới 40 là 19,2% (20/104) với phân độ nhẹ và trung bình Những người già/ nghỉ hưu và những người thất nghiệp/ nội trợ rối loạn cương dương có điểm số chất lượng cuộc sống ở bốn lĩnh vực thuộc sức khỏe tinh thần thấp hơn những người đang làm việc Những người có trình độ học vấn cao có chất Chất Chất lượng cuộc sống có liên quan với mức phân độ bệnh nhẹ, trung bình, nặng, mức
độ bệnh càng tăng thì chất lượng cuộc sống càng giảm với giá trị p lần lượt là p < 0,001; p = 0,005
và p < 0,001 Chất lượng cuộc sống còn có mối liên quan với thời gian bị bệnh
Như vậy rối loạn cương dương có tác động làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh, tăng dần theo số tuổi, đặc biệt tăng với những người có bệnh mạn tính như cao huyết
áp, tiểu đường
Rối loạn cương dương không gây tử vong, không cần chăm sóc khẩn cấp nhưng ảnh hưởng không tốt đến chất lượng cuộc sống nhất là sức khỏe tinh thần, do đó cần thiết phải điều trị và cần một chương trình tư vấn giáo dục sức khỏe tình dục thích hợp Rối loạn cương dương xảy ra
Trang 6cả ở những nam giới trẻ, chưa kết hôn cho nên
cũng cần có một chương trình giáo dục sức khỏe
giới tính và tình dục an toàn cho lứa tuổi này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bai QX, Wei-Li W, Jiang H Z et al (2004) "Prevalence and risk
factors of erectile dysfunction in three cities of China: a
community-based study" Asian J Androl, 6, 343-348
2 Bradford SH, Randal HH, Romaine CN et al (2012) "Erectile
Function, Incontinence, and Other Quality of Life Outcomes
Following Proton Therapy for Prostate Cancer in Men 60
Years Old and Younger" Original Article, the American
Society for Radiation Oncology (ASTRO) Cancer, 1-8
3 Dean RC, Lue TF (2005) "Physiology of Penile Erection and
Pathophysiology of Erectile Dysfunction" Pubmed, Urology
Clinical North America, 32, (4), 379-v
4 Derby AC, Goldstein I, Mohr AB et al (2000) "Modifiable risk
factors and Erectile Dysfunction: Can lifestyle changes modify
risk" Adult Urol J, 56, 302–306
5 Feldman HA, Hatzichristou DG, Goldstein I et al (1994)
"Impotence and its medical and psychosocial correlates:
results of the Massachusetts Male Aging Study" J Urol, 151,
54-61
6 Ferrie JE, Davey Smith G, Shipley MJ et al (2002) "Change in
health inequalities among British civil servants: the Whitehall
II study " J Epi Commu Health, 56, 922–926
7 Huỳnh Ngọc Hớn (2006) "Nghiên cứu rối loạn cương dương
ở bệnh nhân nam tăng huyết áp" Luận án chuyên khoa cấp 2 nội
tổng quát
8 Karen LS, Ida A, Sue MP et al (2007) "Health-related quality of
life of patients following selected types of lumbar spinal
surgery: a pilot study" Pubmed, Health Quality of Life
Outcomes, 5, (71)
9 Kirana A, Hengky, Meitty M et al (2011) "Erectile dysfunction
and health-related quality of life in elderly males" Universa
Medicina, 30, (3), 135-207
10 Laumann EO, Glasser D, West S et al (2007) "Prevalence and
Correlates of Erectile Dysfunction by Race and Ethnicity
Among Men Aged 40 or Older in the United States: From the
Male Attitudes Regarding Sexual Health Survey" J Sex Med, 4,
(1), 57–65
11 Lawrence AA, Modupe ML, Olubunmi EO et al (2012)
"Prevalence and Correlates of Erectile Dysfunction among
Primary Care Clinic Attendees in Nigeria" Glob J Health Sci, 4,
(4)
12 Litwin SM, Dhanani N, Nied JR (1998) "Health-Related
Quality of Life in Men with Erectile Dysfunction" Pubmed,
Journal of General Internal Medicine, 13, (3), 159-166
13 Low WY, Zulkifl SN, Wong YL, Tan HM (2002) "Malaysian cultural differences in knowledge, attitudes and practices
related to erectile dysfunction: focus group discussions" Int J
Impot Resh, 14, (6), 440-445
14 Montague DK, Broderick GA, Jarow JP et al (2005) The
management of Erectile, UAU University, American
Urological Association Education and Research
15 Nguyễn Thành Như (2013) Nam khoa Lâm sàng, Nhà Xuất bản
Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí minh, 70-95
16 Peter J, Layne B, Riley CK et al (2012) "Prevalence and risk factors associated with erectile dysfunction in diabetic men
attending clinics in Kingston, Jamaica" J Diabet, 2, (2)
17 Phạm Nam Việt, Vũ Hồng Thịnh (2011) "Khảo sát tần suất và nhu cầu điều trị rối loạn cương trên bệnh nhân đái tháo
đường típ 2" Y học TPHCM, 15, (3)
18 Ponholzer A, Mock K, Temml C et al (2005) "Prevalence and Risk Factors for Erectile Dysfunction in 2869 Men Using a
Validated Questionnaire" Euro Urol, 47, 80-86
19 Tan HM, Chen KK, Low WY et al (2007) "Prevalence and correlates of erectile dysfunction (ED) and treatment seeking for ED in Asian Men: the Asian Men's Attitudes to Life Events
and Sexuality (MALES) study" J Sex Med, International
Society for Sexual Medicine, 4, (6), 1582–1592
20 Tan JK, Liew LCH, Hong CY et al (2003) "Erectile Dysfunction
in Singapore: Prevalence and Its Associated Factors – A
Population-Based Study " Singapore Med 44, (3), 020-026
Ngày nhận bài báo: 02/8/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/8/2016 Ngày bài báo được đăng: 05/10/2016