1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ kết hợp nội soi ngược dòng điều trị sỏi thận-niệu quản tư thế bệnh nhân nằm ngửa cải biên tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam

6 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 363,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày kỹ thuật và kinh nghiệm bước đầu thực hiện lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ kết hợp nội soi ngược dòng tư thế bệnh nhân nằm ngửa cải biên.

Trang 1

LẤY SỎI QUA DA ĐƯỜNG HẦM NHỎ KẾT HỢP NỘI SOI NGƯỢC DÒNG ĐIỀU TRỊ SỎI THẬN- NIỆU QUẢN TƯ THẾ BỆNH NHÂN NẰM NGỬA

CẢI BIÊN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH QUẢNG NAM

Trần Văn Thành*, Thủy Châu Quý*, Phan Thanh Tùng*, Lê Nhật Nam*,Nguyễn Quốc Việt*,

Lê Văn Thức *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Trình bày kỹ thuật và kinh nghiệm bước đầu thực hiện lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ kết hợp nội

soi ngược dòng tư thế bệnh nhân nằm ngửa cải biên

Đối tượng và phương pháp: Từ tháng 10 năm 2017đến tháng 4 năm 2018 thực hiện 9 trường hợp (TH)

Sỏi được đánh giá theo thang điểm Guy: I–1TH (11,1%), II–3TH (33.3%), III–5TH (55,6%) Chỉ số khối cơ thể: 24,1 ±14,2(20,4–30,6) Kích thước sỏi trung bình: 34,7 ±4,7(28-44) Phân loại nguy cơ bệnh nhân theo hiệp hội gây mê Hoa Kỳ ASA I, II, II lần lượt 5, 3 và 1 TH Tất cả được thực hiện ở tư thế nằm ngửa cải biên và chụp CT-scan hệ niệu trước mổ Đánh giá thành công là sạch sỏi hoặc còn sỏi kích thước <4mm trên CT-CT-scan Biến chứng phẫu thuật phân loại theo Clavien cải biên

Kết quả: Không có trường hợp nào thất bại Thời gian mổ trung bình: 138,5 ±22,4 phút (110-180) Kết quả

sớm ngay sau mổ thành công 77,8% Biến chứng 11,1% Clavien II Thời gian nằm viện trung bình: 5,7 ngày (5-7) Hai trường hợp (22,2%) được thực hiện lại lần 2 Sau 2 tháng, tỉ lệ thành công 100% Hạn chế của nghiên cứu là nghiên cứu mô tả và số lượng bệnh nhân còn hạn chế

Kết luận: Lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ kết hợp nội soi ngược dòng điều trị sỏi thận tư thế bệnh nhân nằm

ngửa cải biên là một lựa chọn hiệu quả để điều trị sỏi thận có hay không kết hợp sỏi niệu quản ở những bệnh nhân được lựa chọn cẩn thận

Từ khóa: tư thế nằm ngửa cải biên, lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ

ABSTRACT

MODIFIED SUPINE MINI-PERCUTANEOUS NEPHROLITHOTOMY COMBINATED

RETROGRADE ACCESS FOR KIDNEY AND URETERAL STONES IN QUẢNG NAM HOSPITAL

Tran Van Thanh, Thuy Chau Quy, Phan Thanh Tung, Le Nhat Nam, Nguyen Quoc Viet, Le Van Thuc

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 4- 2018: 281 – 286

Background and Objectives: Percutaneous nephrolithotomy (PCNL) is the standard treatment for large

kidney stones In this article, we aim to describe our modified technique with the patient in a modified supine position for mini-PCNL as well as presenting our realistic experience

Materials and methods: From October 2017 to April 2018, 9 consecutive patients were prospectively

evaluated in Quang Nam hospital Patients were positioned in modified supine position All patients underwent Computed tomography (CT) preoperatively, and the stones were classified according to the Guy score: I–11.1%, II–33.3%, III–55.6% The mean body mass index was 24.1 ± 14.2 (range: 20.1–30.6), the mean stone size was 34.7±4.7 mm (range: 28–44), and patients’ American Society of Anesthesiologists scores were I, II, and III in 5.3, and 1 cases, respectively Success was evaluated based on CT findings at the end of follow-up Success was defined

* Bệnh viện ĐK Tỉnh Quảng Nam

Tác giả liên lạc: BS Trần Văn Thành Email: tranthanh1175@gmail.com

Trang 2

as patients free of stones or with residual stone fragments <4 mm Complications were graded according to the modified Clavien classification

Results and limitations: There was no failure of access The median operative time was 138.5 ±22.4

(110-180) minutes The immediate success rate was 77.8% The complication rate was 11.1% (Clavien II) The median hospital stay was 5.7 (5-7) days Two patients (22.2%) had a secondary procedure At 2 mos, the success rate was 100% However, the limitation of this study is its design, which is descriptive rather than comparative

Conclusions: Modified supine mini-percutaneous nephrolithotomy combinated retrograde access is an

efficient method in treatment of kidney stone with or without combining ureteral stones in carefully selected patients

Keyword: modified supine position, mini-PCNL

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật lấy sỏi qua da là phương pháp

điều trị tiêu chuẩn cho sỏi thận kích thước lớn tư

thế kinh điển nằm sấp Tuy nhiên với sự phát

triển dụng cụ nội soi, máy tán sỏi, kỹ thuật máy

móc hổ trợ tạo đường vào, trình độ phẫu thuật

viênđã có nhiều báo cáo thành công cao với tư

thế nằm ngửa Tư thế bệnh nhân nằm ngửa cải

biên là một cải tiến đáng kể giúp cho việc kết

hợp nhiều phương pháp trên cùng một lần phẫu

thuật giúp nâng cao hiệu quả điều trị(4,11,16) Với

mục tiêu đem đến thêm một chọn lựa phương

pháp điều trị sỏi thận có hay không có kèm sỏi

niệu quản chúng tôi trình bày kỹ thuật, kinh

nghiệm thực tế bước đầu lấy sỏi qua da đường

hầm nhỏ kết hợp nội soi ngược dòng tư thế nằm

ngửa cải biên ở bệnh nhân được lựa chọn qua

chín trường hợp tại bệnh viện Đa khoa tỉnh

Quảng nam

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thời gian thực hiện từ tháng 10 năm 2017

đến tháng 04 năm 2018 tại bệnh viện Đa khoa

tỉnh Quảng nam

Nghiên cứu tiến cứu mô tả, không so sánh,

xử lí số liệu bằng phần mềm SPSS 22

Bệnh nhân có sỏi thận có chỉ định điều trị lấy

sỏi có hay không kết hợp sỏi niệu quản cùng

bên Khảo sát đặc điểm chung: tuổi, giới tính, chỉ

số khối cơ thể Khảo sát tiền sử bệnh sử nội khoa

ngoại khoa, đặc biệt tiền sử đã mổ sỏi đường tiết

niệu Bệnh nhân được làm các xét nghiệm tiền

phẩu, xét nghiệm chuyên biệt: urea, creatinine

máu, tổng phân tích nước tiểu, cấy nước tiểu, chức năng đông máu toàn bộ Chụp CT-scan hệ niệu có thuốc cản quang, phim KUB Phân loại mức độ khó của sỏi theo GUY(16) Loại trừ các trường hợp có chống chỉ định Tư vấn phương pháp điều trị, biến chứng cũng như chuyển đổi phương pháp điều trị Kháng sinh dự phòng trước mổ Đặc điểm bệnh nhân và các chỉ số đưa

vào nghiên cứu trình bày cụ thể bảng 1 và 2

Thông qua và được sự đồng ý hội đồng chuyên môn và y đức của bệnh viện

Đánh giá nguy cơ phẫu thuật theo hiệp hội gây mê phẫu thuật Hoa Kỳ (ASA)

Trang thiết bị

Máy tán sỏi Laser 40W, Ống soi niệu quản bán cứng Karl-storz và Olympus, ống soi mềm Olympus Bộ dụng cụ tạo đường hầm nhỏ Acutech

Bệnh nhân được kiểm tra phim KUB hoặc CTscan sau mổ, tiêu chuẩn thành công khi sạch sỏi hay còn sỏi kích thước <4mm Các trường hợp còn sỏi lớn chúng tôi can thiệp lại lần hai: lấy sỏi qua da, tán sỏi ngoài cơ thể, nội soi ngược dòng tùy từng trường hợp và thực hiện sau hai tuần Đánh giá kết quả sớm sau mổ và kết quả sau 6 đến 8 tuần điều trị Biến chứng đánh giá theo Clavien cải biên

Kỹ thuật

Bệnh nhân được gây mê nội khí quản, tư thế nằm ngửa nghiêng về phía đối diện một góc so mặt bàn khoảng 30-450 Kê dưới vai và mông gối vải để giữ tư thế nghiêng, đặt gối vải tròn ở hông

Trang 3

vị trí nâng eo hông của bàn mổ để khi cần nâng

eo hông làm rộng khoảng thao tác dụng cụ cũng

như trình diện thận cần can thiệp thuận lợi nhất

có thể Lưng bênh nhân chúng tôi đặt thẳng như

tư thế tán sỏi ngược dòng để thực hiện nôi soi

ngược dòng Tay để vòng ra trước ngực Hai

chân: chân phía bên sỏi hơi gấp đùi và dạng nhẹ,

chân đối diện dạng rộng và gấp gối đùi đủ để

đảm bảo phẫu thuật viên đứng giữa hai chân

bệnh nhân thực hiện nội soi ngược dòng Bệnh

nhân được nội soi bàng quang niệu quản ngược

dòng tán sỏi niệu quản khi có sỏi niệu quản đi

kèm, trong trường hợp thuận lợi chúng tôi tán

sỏi đường dưới nếu không nội soi lên xử lí các

bất thường kèm theo như hẹp cổ đài thận, hẹp

niệu quản-bể thận, để đặt sonde niệu quản Kết

hợp cùng thời điểm thực hiện chọc và tạo đường

hầm qua da dưới hướng dẫn siêu âm Điều này

đòi hỏi hai bác sĩ phẫu thuật viên thành thục

Thực hiện tán sỏi qua da trước hay ngược dòng

niệu quản tùy thuộc vào từng trường hợp bệnh

Nội soi ngược dòng tùy trường hợp mà dùng

ống soi bán cứng hay ống soi mềm Kết thúc

phẩu thuật bênh nhân được đặt sonde JJ niệu quản, dẩn lưu thận dùng ống nuôi ăn số 16F, nếu

có chảy máu chúng tôi đặt sonde foley hoặc kẹp ống dẫn lưu để giúp cầm máu Sonde tiểu theo dõi và rút sau 6-8 giờ nếu không có chảy máu Chăm sóc hậu phẫu nuôi dưỡng đường tỉnh mạch ngày đầu, ngày thứ hai kiểm tra urea, creatinine, công thức máu Kiểm tra phim KUB hay CT ngày thứ 3 Bệnh nhân còn sỏi cần can thiệp chúng tôi tư vấn và thực hiện lại sau hai tuần (mini-PCLN, nội soi ngược dòng hay tán ngoài cơ thể) Nếu thành công và không có chảy máu chúng tôi rút dẫn lưu thận ngày thứ 3, sonde JJ rút sau 2 đến 4 tuần

KẾT QUẢ

Từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 04 năm

2018, Chúng tôi thực hiện 9 trường hơp: 3 nữ 6 nam Tuổi từ 23–67 Ba trường hợp sỏi thận kết hợp sỏi niệu quản 1/3 trên, sáu trường hợp sỏi thận Cả 9 trường hợp đều thực hiện thành công với tư thế nằm ngửa cải biên dưới hướng dẫn siêu âm

Bảng 1 Đặc điểm tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể, độ ứ nước thận, mổ sỏi thận trước đây, sỏi niệu quản cùng bên kết hợp

Giới tính:

Nam

Nữ

6

3 BMI(chỉ số khối)

< 30

≥ 30

Trung bình 24,1±14,2(20,4–30,6)

8 88,89%

1 11,11%

Vết mổ củ

Có Không

7 77,78%

2 22,22%

Độ ứ nước

Độ I

Độ II

Độ III Sỏi thận Kết hợp sỏi nq

Đơn thuần Phân loại sỏi: Guy,s

ASA

3 th 33,33%

5 th 55,56%

1 th 11,11%

9

3 33,33%

6 66,67%

I: 1 (11,11%), II: 3 (33,33%), III: 5(55,56%) I: 5 (55,56%), II: 3 (33,33%), III: 1(11.11%) Trong quá trình thực hiện có 4 trường hợp

tạo đường hầm nhóm đài giữa, 3 vào nhóm đài

dưới, 1trường hợp tạo hai đường hầm nhóm đài

giữa và dưới ở bệnh nhân sỏi GUY III thận ứ

nước độ III Ở đây chúng tôi sử dụng hoàn toàn ống soi niệu quản bán cứng

Hai trường hợp thực hiện can thiệp lần hai sau hai tuần cũng với phương pháp lấy sỏi qua

Trang 4

da chúng tôi nhận thấy rất thuận lợi: phẫu

trường rỏ do không có chảy máu, thời gian mổ

ngắn, tìm sỏi các nhóm đài dể dàng Hai trường

hợp này chúng tôi không đưa vào lại số liệu nghiên cứu

Bảng 2 Kết quả thực hiện, biến chứng, can thiệp lần 2, tỉ lệ thành công.

Thời gian nằm viện

Trường hợp can thiệp lại

Biến chứng Kết quả sau mổ:

Thành công Còn sỏi ≥4

trung bình: 5,7 ngày (5-7) 2/9 (22,2%)

1/9 Clavien II (11,1%) truyền máu

7/9 77.78%

2/9 22,22%

Kết quả 6-8 tuần:

BÀN LUẬN

Lấy sỏi qua da được xem như tiêu chuẩn

vàng điều trị sỏi thận lớn(3,5,10,11) , ban đầu thực

hiện tư thế nằm sấp, sau này tư thế nằm ngửa cải

biên đã cho thấy một số lợi ích đáng kể cải thiện

được một số hạn chế ở tư thế nằm sấp: bệnh

nhân bị bênh tim mạch, béo phì, dể kiểm soát trong gây mê, thời gian phẫu thuật ngắn hơn nhờ không phải thay đổi tư thế và đặc biệt: có thể kết hợp được nội soi ngược dòng phối hợp,

tư thế đường hầm nằm ngang do đó quá trình rữa trôi làm sạch sỏi nhanh hơn(4,7,8,16)

Hình 1 Tư thế bệnh nhân, kết hợp soi đường dưới và tạo đường hầm qua da dưới hướng dẫn siêu âm

Các trường hợp chúng tôi chọn thực hiện kết

hợp lấy sỏi qua da kết hợp nội soi ngược dòng:

sỏi thận kèm sỏi niệu quản, sỏi thận tiên lượng

chỉ lấy sỏi qua da đơn thuần sẽ khó khăn Việc

chọn lựa này kết hợp trên CT-scan hệ niệu để

tiên lượng ống soi tiếp cận được sỏi niệu quản ở

cao hay tiếp cận lên thận để kết quả điều trị

được tốt nhất

Tư thế bệnh nhân: việc chọn lựa tiếp cận lấy

sỏi qua da với tư thế nằm bênh nhân quan trong

phụ thuộc kinh nghiệm phẫu thuật viên(9) Tư thế nằm ngửa cải tiến này cho phép kết hợp hai hướng tiếp cận sỏi, một đường tiếp cận qua ngã nội soi ngược dòng niệu quản tán sỏi niệu quản

đi kèm hay tán sỏi trên thận đặc biệt sỏi bể hay nhóm đài trên, một đường hầm qua da Trong quá trình thực hiện chúng tôi nhận thấy: khoảng không gian để thực hiện chọc và tạo đường hầm hẹp hơn nằm sấp do đó chúng tôi chủ động kê gối vải tròn ở dưới hông khi cần quay eo bàn mổ

Trang 5

lên bộc lộ vùng hông rộng, khi cần nội soi ngược

dòng niệu quản thận chúng tôi hạ eo bàn sẽ trả

lại vị trí bệnh nhân như thế tán sỏi niệu quản

thông thường do đó nhìn chung không gây khó

khăn gì đáng kể

Chúng tôi cũng chú trọng tư thế hai chân để

sao có khoảng thao tác tốt khi thực hiện nội soi

ngược dòng, ở đây chúng tôi nhấn mạnh việc

thực hiện thành thục nội soi niệu quản ngược

dòng bằng hai tay sẻ khắc phục được khoảng

không gian hơi chật khi đứng giữa hai chân

bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa có cải tiến để thực

hiện nội soi ngược dòng niệu quản thận

Khi thực hiện kết hợp lấy sỏi qua da và nội

soi ngược dòng ở tư thế nằm ngửa cải biên này

ngoài thuận lợi không phải thay đổi tư thế làm kéo dài thời gian phẫu thuật hay thuận lợi trong quá trình gây mê cũng như theo dõi trong suốt quá trình phẫu thuật(7,8,15,16) Với tư thế cải biên không phải thay đổi tư thế bênh nhân trong quá trình phẫu thuật nhiều tác giả báo cáo rút ngắn thời gian phẫu thuật 28 đến 30 phút(3,6) Chúng tôi nhận thấy rằng với tư thế nằm này đường hầm qua da nằm với phương gần ngang do đó

mà các mảnh sỏi trôi ra ngoài dể dàng nhất là khi thực hiện thì tán sỏi ngược dòng niệu quản và mảnh sỏi vở được trôi ra theo ngã đường hầm qua da(16)

Hình 2 Sheath với tư thế nằm ngang mảnh vụn sỏi dể trôi ra khi bơm rửa

Trong chuổi bệnh nhân được điều trị bằng

phương pháp này không có tổn thương tạng lân

cận, nhiều ý kiến cho rằng tư thế này dể tổn

thương ruột hay lách(1,2,14) Tư thế cải tiến nằm

ngửa ruột có xu hướng đổ về phía dối diện và sẽ

cách xa thận hơn, tuy nhiên đây là ý kiến giả

định Để kiểm soát tốt tránh biến chứng đó tất cả

bệnh nhân chúng tôi chụp CTscan để đánh giá

và tạo đường hầm có kiểm soát dưới siêu âm

Trong loạt trường hợp thực hiện có hai

trường hợp chúng tôi thực hiện lại lần hai

mini-PCLN, nhận thấy rằng quá trình thực hiện rất thuận lợi, phẫu trường sạch rỏ, tìm sỏi các vị trí đài rất thuận lợi, thời gian mổ ngắn Chúng tôi đặt ra vấn đề có cần lấy sạch sỏi hay đảm bảo thành công trong lần mổ đầu tiên ở một số trường hợp sỏi san hô toàn phần và phức tạp (Guy IV), các trường hạn chế thời gian gây mê, chảy máu cần hồi sức Sót sỏi chủ động sau đó can thiệp lần hai, chúng tôi hy vọng khi số liệu bệnh nhân đủ lớn sẻ giải quyết được vấn đề này

Hình 3 Lấy sỏi lại lần 2 qua đường hầm có sẵn

Nghiên cứu của chúng tôi cũng nhận thấy

có những hạn chế mà trong tương lai sẽ khắc

phục đó là số lượng bệnh nhân còn hạn chế và

là nghiên cứu mô tả Ngoài ra hạn chế của

Trang 6

chúng tôi còn ở trang thiết bị máy tán sỏi công

suất nhỏ, máy tưới rửa chưa có nên chúng tôi

bơm tưới rửa bằng xy ranh lớn, do đó kéo dài

thời gian mổ

KẾT LUẬN

Điều trị sỏi thận đơn thuần hay có phối hợp

sỏi niệu quản có nhiều phương pháp Bước đầu

thực hiện và những kết quả đạt được, chúng tôi

nhận thấy rằng lấy sỏi qua da đường hầm nhỏ

kết hợp nội soi ngược dòng điều trị sỏi thận tư

thế bệnh nhân nằm ngửa cải biên là một phương

pháp hiệu quả để điều trị sỏi thận có hay không

kết hợp sỏi niệu quản ở những bệnh nhân được

lựa chọn cẩn thận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cracco CM, Scoffone CM, Scarpa RM (2011) New

developments in percutaneous techniques for simple and

complex branched renal stones Curr Opin Urol; 21:154–60

2 Hopper KD, Sherman JL, Luethke JM, Ghaed N (1987) The

retrorenal colon in the supine and prone patient Radiology;

162:443–6.

3 Hoznek A, Rode J, Ouzaid I, Faraj B, Kimulib M, de la Taille A,

Salomon L, Abboua CC (2012) Modified Supine Percutaneous

Nephrolithotomy for Large Kidney and Ureteral Stones:

Technique and Results European urology, 61:164 – 70

4 Jones MN, Ranasinghe W, Cetti R, Newell B, Chu K, Harper M,

Kourambas J, McCahy P (2016) Modified supine versus prone

percutaneous nephrolithotomy: Surgical outcomes from

atertiary teaching hospital Investig Clin Urol; 57: 268-273.

5 Kumar P, Bach C, Kachrilas S et al (2012) Supine percutaneous

nephrolithotomy (PCNL): “in vogue” but in which position?

BJU Int 110: E1018–E1021.

6 Liu L, Zheng S, Xu Y, Wei Q (2010) Systematic review and

meta-analysis of percutaneous nephrolithotomy for patients in

the supine versus prone position J Endourol; 24:1941–6.

7 Manohar T, Jain P, Desai M (2007) Supine percutaneous nephrolithotomy: effective approach to high-risk and morbidly

obese patients J Endourol; 21:44–9.

8 Papatsoris A, Masood J, El-Husseiny T, Maan Z, Saunders P, Buchholz NP (2009) Improving patient positioning to reduce

complications in prone percutaneous nephrolithotomy J

Endourol; 23:831–2.

9 Patel RM, Okhunov Z, Clayman RV.& Landman J (2017) Prone Versus Supine Percutaneous Nephrolithotomy: What Is Your

Position? Curr Urol Rep, 18(4):26

10 Preminger GM, Assimos DG, Lingeman JE, et al (2005) Chapter 1: AUA guideline on management of staghorn calculi: Diagnosis

and treatment recommendations J Urol; 173:1991–2000.

11 Scoffone CM, Cracco CM (2017) Invited review: the tale of ECIRS (Endoscopic Combined IntraRenal Surgery) in the

Galdakao-modifed supine Valdivia position Urolithiasis

46(1):115-123

12 Tefekli A, Ali Karadag M, Tepeler K, Sari E, Berberoglu Y, Baykal M, Sarilar O, Muslumanoglu AY (2008) Classification of Percutaneous NephrolithotomyComplications Using the Modified ClavienGrading System: Looking for a Standard

European urology, 53(1): 184 – 90

13 Thomas K, Smith NC, Hegarty N, Glass GM (2011) The Guy’s stone score— the complexity of percutaneous nephrolithotomy

procedures Urology; 78:277–281.

14 Tuttle DN, Yeh BM, Meng MV, Breiman RS, Stoller ML, Coakley

FV (2005) Risk of injury to adjacent organs with lower-pole fluoroscopically guided percutaneous nephrostomy: evaluation

with prone, supine, and multiplanar reformatted CT J Vasc

Interv Radiol; 16: 1489–92.

15 Yuan D, Liu Y, Rao H, Cheng T, Sun Z, Wang Y, Liu J, Chen W,

Zhong W, Zhu J (2017) Supine versus prone position in

percutaneous nephrolithotomy for kidney calculi: a

meta-analysis Journal of Endourology, 30(7):754-63

16 Zhao Z, Fan J, Liu Y, Zeng G (2018). Percutaneous

nephrolithotomy: position, position, position! Urolithiasis, Volume 46, Issue 1 , pp 79–86

Ngày nhận bài báo: 10/05/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/06/2018 Ngày bài báo được đăng: 20/07/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w