1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Dẫn lưu nang tụy xuyên dạ dày qua nội soi: Báo cáo một trường hợp

6 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 325,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh nhân nam, 49 tuổi, 6 tháng trước đã từng nhập viện với chẩn đoán nang giả tụy/ Viêm tụy cấp, đã dẫn lưu nang giả tụy và sinh thiết vách nang, xuất viện sau 9 ngày. Bệnh nhân nhập viện lần này với triệu chứng ăn không tiêu, qua lâm sàng và cận lâm sàng được chẩn đoán: Nang giả tụy gây chèn ép dạ dày. Bệnh nhân đã được dẫn lưu nang tụy xuyên dạ dày qua nội soi ổ bụng.

Trang 1

DẪN LƯU NANG TỤY XUYÊN DẠ DÀY QUA NỘI SOI: BÁO CÁO MỘT

TRƯỜNG HỢP

Nguyễn Văn Hải*, Trần Thị Hoàng Ngâu*

TÓM TẮT

Bệnh nhân nam, 49 tuổi, 6 tháng trước đã từng nhập viện với chẩn đoán nang giả tuỵ/ Viêm tuỵ cấp, đã dẫn luu nang giả tuỵ và sinh thiết vách nang, xuất viện sau 9 ngày Bệnh nhân nhập viện lần này với triệu chứng ăn không tiêu, qua lâm sàng và cận lâm sàng được chẩn đoán: Nang giả tuỵ gây chèn ép dạ dày Bệnh nhân đã được dẫn lưu nang tuỵ xuyên dạ dày qua nội soi ổ bụng Sau mổ bệnh nhân ổn, xuất viện sau 6 ngày Tái khám sau 10 tuần không còn triệu chứng và có dấu hiệu ly giải của nang giả tụy trên siêu âm bụng

Dẫn lưu nang giả tụy vào dạ dày qua nội soi ổ bụng là khả thi và hiệu quả cho những bệnh nhân nang giả tụy thích hợp

Từ khóa: Viêm tuỵ cấp, nang giả tuỵ, dẫn lưu qua nội soi xuyên dạ dày

ABSTRACT

LAPAROSCOPIC TRANSGASTRIC DRAINAGE FOR PANCREATIC PSEUDOCYST: A CASE REPORT

Nguyen Van Hai, Tran Thi Hoang Ngau

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 21 - No 2 - 2017: 105 - 110

A 49- year- old man with a prehistory of having pancreatic pseudocyst/acute pancreatitis, that was drained and biosied wall of the cyst by laparoscopy 6 months before He was discharged from hospital after 9 days.This time he readmitted because of dyspepsia symtoms He was diagnosed of having recurrent large pancreatic pseudocyst Laparoscopic transgastric drainage was performed The patient recovered rapidly and was discharged after 6 days At the 10-week follow- up examination, he was free of symptoms and had signs of resolution of pancreatic pseudocyst on his abdominal sonography

Laparoscopic transgastric drainage is feasible and effective for suitable patients who have pancreatic pseudocyst

Keywords: Pancreatic pseudocyst, Transgastric drainage, Laparoscopic surgery

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nang giả tuỵ là biến chứng thường gặp nhất

của viêm tuỵ cấp và mạn, gặp trong 6-18,5%

bệnh nhân viêm tuỵ cấp và 20-40% bệnh nhân

viêm tuỵ mạn(7) Dựa vào phân loại Atlanta 2012,

nang giả tuỵ được định nghĩa là ổ dịch được bao

bọc bởi mô viêm thành hoá, có rất ít hoặc không

có hoại tử, và cần hơn 4 tuần để thành nang

được vững chắc(3) Có nhiều cách điều trị nang

giả tuỵ Tùy vào đánh giá lâm sàng và hình ảnh

học mà phẫu thuật viên quyết định cách điều trị

thích hợp cho từng bệnh nhân Hầu hết những

nang có đường kính dưới 5cm sẽ tự khỏi hoặc ổn

định mà không có triệu chứng hay biến chứng

Những nang kích thước 5- 6cm có thể được theo dõi nếu nang không có triệu chứng hoặc ổn định qua theo dõi hình ảnh học Khoảng 50% các nang giả tuỵ có thể thoái lui (6), nhưng 10% bệnh nhân có biến chứng Nang giả tuỵ > 6cm và tồn tại sau hơn 6 tuần nên được điều trị bằng phương pháp can thiệp thủ thuật hoặc phẫu thuật Phẫu thuật mở để cắt bỏ hay thường nhất

là dẫn lưu nang giả vào trong ống tiêu hóa vốn

là cách điều trị phổ biến và hiệu quả cho nang giả tuỵ Về sau, nhờ tiến bộ của các kỹ thuật ít xâm hại, dẫn lưu nang giả tụy qua nội soi tiêu hóa trên và qua phẫu thuật nội soi ổ bụng cũng được nhiều tác giả giới thiệu và ứng dụng Ở

Trang 2

Việt nam chưa có nhiều báo cáo về vấn đề này

Chúng tôi báo cáo 1 ca lâm sàng bị nang giả tuỵ

lớn, chèn ép dạ dày được điều trị thành công

bằng dẫn lưu nang tuỵ xuyên dạ dày qua nội soi

BỆNH ÁN

Bệnh nhân nam, 49 tuổi, tiền sử khoẻ mạnh,

nhập viện vào 25/02/2016 vì đau thượng vị Bệnh

nhân đau âm ỉ vùng thượng vị từ 1 tháng trước

nhập viện, không lan, không tư thế giảm đau,

không sốt Bệnh nhân ăn uống bình và tiêu tiểu

bình thường Đau thượng vị kéo dài khiến bệnh

nhân đến khám và nhập viện Khám bụng

không thấy u rõ, chỉ thấy vùng dưới sườn trái

hơi đầy CT Scan bụng chậu cản quang ngày

25/02/2016 ghi nhận các tổn thương dạng dịch

vùng dưới hoành trái kích thước 47 x 37 x42 mm

(ngang x trước x sau), bắt thuốc tương phản

dạng viền, các tổn thương này thông thương với

nhau và lan xuống vùng đuôi tuỵ Tràn dịch

màng phổi trái lượng ít Công thức máu có bạch

cầu 13,79 K/µl, trong đó 71,7% bạch cầu đa nhân

trung tính Hb 109g/l, Hct 33%, Fibrinogen

5,95g/l, CA19-9 < 2 U/ml, Amylase máu 59,3U/l

Bệnh nhân được chẩn đoán bị nang giả vùng

đuôi tụy và được lên chương trình phẫu thuật

với dự kiến nội soi cắt phần xa tụỵ, bảo tồn lách

Ngày 07/3/2016, chúng tôi tiến hành nội soi thám

sát bằng 4 trocar: 1 trocar 10mm ở rốn, 1 trocar

12mm hông trái, 2 trocar hạ sườn phải, ghi nhận

có dịch đục khắp bụng Mở hậu cung mạc nối

vào mặt trước tuỵ, thấy mặt sau dạ dày dính chặt

mặt trước tuỵ tại vị trí nang, mô xung quanh

viêm dính nhiều Xẻ mặt trước nang sinh thiết,

vách nang dày 1cm, thấy dịch nâu đục, hút sạch

dịch Bơm rửa nang Kiểm tra không thấy chảy

máu Rửa sạch bụng, đặt 2 ống dẫn lưu vào nang

giả tuỵ Bệnh nhân sau mổ không sốt, bụng

mềm, 2 ống dẫn lưu ra ít dịch nâu lợn cợn, diễn

tiến không ra dịch ở những ngày sau Ống dẫn

lưu được rút sau 7 ngày Bệnh nhân xuất viện ngày thứ 9 sau mổ Kết quả giải phẫu bệnh vách nang: nang lành tính, viêm cấp tính, phù hợp nang giả tuỵ

Hình 1A Hình CT scan bụng chậu có cản quang lần

nhập viện đầu: nang giả đuôi tụy

Hình 1B Hình CT scan bụng chậu có cản quang: 6

tháng sau chụp lần 1 (: nang giả tuỵ; : tuỵ).

Sáu tháng sau lần mổ đầu, bệnh nhân đau liên tục vùng thượng vị lệch trái, thỉnh thoảng đau quặn bụng cùng vị trí, 2-3 cơn/ ngày, mỗi cơn kéo dài 3 phút Thường xuyên đầy bụng, cảm giác trướng vùng trên rốn, ăn uống kém, sụt cân không rõ nên bệnh nhân tái khám Khám lâm sàng ghi nhận: bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, sinh hiệu ổn, da niêm nhạt, suy dinh dưỡng nặng (BMI= 15,4), bụng mềm, sờ thấy khối vùng thượng vị lệch trái kích thước 10 x 12cm, bề mặt trơn láng, bờ rõ, di động kém, ấn căng tức, không đau, không âm thổi, các cơ quan khác chưa ghi nhận bất thường CT scan bụng chậu có

Trang 3

cản quang kiểm tra thấy tuỵ không to (đầu tuỵ

14mm, thân tuỵ 14mm, đuôi tuỵ 16mm) mật độ

nhu mô tuỵ đồng nhất Tổn thương dạng nang,

kích thước 95 x 103 x 144mm, mật độ không

đồng nhất (14HU), vỏ bao dày 4mm, không thấy

chồi, vách bên trong Kết luận: Nang giả tuỵ,

theo dõi xuất huyết cũ bên trong Bạch cầu 10,67

K/µl; 67,7% bạch cầu đa nhân trung tính; Hb

110g/l; Hct 34,6%; Amylase máu 116U/l;

Amylase niệu 1725 U/l Nội soi dạ dày tá tràng

ghi nhận viêm trợt sung huyết hang vị Hp (-)

Bệnh nhân được chẩn đoán nang giả tụy tái phát

và được chỉ định mổ nội soi dẫn lưu nang vào dạ

dày Vào bụng trocar 10mm ở rốn, 2 trocar 5mm

hạ sườn phải, ổ bụng dính ít mạc nối lớn lên

thành bụng trước Nang to vùng thân và đuôi

tuỵ, đẩy dạ dày ra trước áp sát thành bụng Mở

mặt trước dạ dày vùng hang vị phía bờ cong lớn

bằng dao Thunderbeat Vô lòng dạ dày thấy

nang tuỵ đội mặt sau dạ dày, chọn vị trí thấp của

nang, cắt 1 lỗ xuyên thành sau dạ dày vào lòng

nang, trào ra nhiều dịch nâu, hút khoảng 900 ml

Tiếp tục dùng dao Thunderbeat mở rộng lỗ

thông vào lòng nang, đưa camera vào lòng nang

quan sát, thấy có vài dãi dính mỏng, không có

mủ, vách nang và mô tuỵ còn lốm đốm hoại tử

Lấy một mảnh vách nang làm giải phẫu bệnh

Khâu mặt trước dạ dày bằng chỉ Vicryl 3.0 Rửa

bụng, đặt ống dẫn lưu cạnh chỗ mở dạ dày

Hậu phẫu ngày 1 và 2, bệnh nhân sốt nhẹ

37,5 độ, không lạnh run, chưa trung tiện, bụng

chướng nhẹ, vết mổ khô, ấn chẩn còn đau vết

mổ, ống dẫn lưu ra ít dịch nâu Hậu phẫu ngày 3

bệnh nhân sốt 38,5, trung tiện được, bụng mềm,

ấn chẩn không đau, ống dẫn lưu không ra thêm

dịch Duy trì dinh dưỡng tĩnh mạch trước và sau

mổ, kháng sinh điều trị sau mổ (Cephalosporin

thế hệ 3) Bệnh nhân hết sốt, ăn uống được qua

đường miệng, tiêu phân vàng, bụng mềm, vết

mổ khô, ống dẫn lưu được rút ngày 5 Bệnh

nhân xuất viện sau mổ 6 ngày

Tái khám sau 12 tuần, bệnh nhân ăn uống,

tiêu tiểu bình thường, không đau bụng, không

sốt, hết triệu chứng đầy bụng, lên 1kg Nội soi dạ

dày tá tràng kiểm tra thấy vùng thân vị mặt sau vùng thấp có mô viêm nhẹ, không thấy xuất huyết, không thấy rõ lỗ thông với nang (Hình 2) Siêu âm bụng thấy không còn hình ảnh nang tụỵ, ở thành sau dạ dày có chỗ gián đoạn nghĩ là chỗ thông với vùng nang tụy cũ (Hình 3)

Hình 2 Nội soi dạ dày kiểm tra, viêm sung huyết

thân vị, Hp (-)

Hình 3 Siêu âm bụng kiểm tra sau 12 tuần

BÀN LUẬN

Nang giả tuỵ được mô tả đầu tiên bởi Morgagni năm 1761(6,7,12) Đầu thế kỷ XX, chính Eugene Opie là người đầu tiên phân biệt nang

Trang 4

thật của tụy - với vách nang được lót bằng lớp

tế bào biểu mô – với nang giả tụy mà vách

nang chỉ là collagen và mô hạt Nang giả tuỵ

thường xuất hiện như một biến chứng của

viêm tuỵ cấp hoặc viêm tụy mạn, đôi khi sau

một chấn thương bụng Nang giả tuỵ có thể ở

trong hoặc ngoài tuỵ, đơn độc hoặc đa nang,

kích thước nang đa dạng, nhưng đa số các

bệnh nhân không có triệu chứng(7) Khi bệnh

nhân nang giả tuỵ có triệu chứng thì các triệu

chứng này dễ gây nhầm lẫn với các bệnh lý

khác Những triệu chứng của bệnh này gồm:

đau bụng, no sớm, buồn nôn, nôn, đầy bụng,

và một số bệnh nhân có sụt cân; khi khám

thường thấy bụng căng, sờ được khối u rõ Sốt,

vàng da, tràn dịch màng phổi có thể gặp ở

những nang giả tụy có biến chứng Chẩn đoán

dựa vào hỏi bệnh sử (có cơn đau cấp trước đó,

hay đau tái đi tái lại), khám lâm sàng và hình

ảnh học (siêu âm hoặc CT scan bụng chậu)

CT scan có độ nhạy 82-100%, độ đặc hiệu 98%

trong chẩn đoán nang giả tụy; ngoài ra, còn

giúp xác định số nang, vị trí, kích thước, độ

dày vách nang, mức độ tiệm cận của nang với

cấu trúc kế bên, mức độ mô hoại tử trong

nang,…để chọn lựa cách điều trị

Nang giả tuỵ thường bắt đầu thành hoá

với vách nang trưởng thành sau khoảng 4- 6

tuần viêm tuỵ cấp, và khoảng 50% có thể tự

thoái lui dần sau 6 tuần, nhất là những nang

nhỏ < 5cm(6) Về điều trị, những bệnh nhân

không có triệu chứng cần được theo dõi lâm

sàng và kiểm tra bằng siêu âm hay CT scan

định kỳ Nang giả tuỵ tồn tại hơn 6 tuần và

lớn hơn 5cm thường dễ bị biến chứng (nhiễm

trùng, xuất huyết, vỡ nang, chèn ép gây tắc

nghẽn đường tiêu hóa trên hay đường mật,

tạo giả phình mạch), do đó, những trường hợp

này nên xét chỉ định can thiệp thủ thuật hoặc

phẫu thuật để điều trị(9)

Dẫn lưu nang giả tuỵ là phương pháp

điều trị hiệu quả, gồm dẫn lưu ra ngoài hoặc

dẫn lưu vào trong đường tiêu hoá Phương

pháp dẫn lưu ra ngoài (bằng chọc dẫn lưu qua

da dưới hướng dẫn của siêu âm hay CT scan, hay thậm chí bằng phẫu thuật) có tỉ lệ thành công 50% nhưng tỉ lệ nhiễm trùng, tắc ống dẫn lưu, rò tụy hay tái phát cao; vả lại thường không dễ chịu cho bệnh nhân nên hiện nay chỉ được thực hiện trong tình huống cấp cứu nhằm giảm tạm thời tình trạng chèn ép hay nhiễm trùng Phương pháp hiệu quả hơn là dẫn lưu vào trong - tùy vị trí của nang, có thể

là nối nang giả-dạ dày, nối nang giả-tá tràng hay nối nang giả-hỗng tràng - trước đây thường được thực hiện qua mổ mở, gần đây nhiều tác giả thực hiện qua phẫu thuật nội soi

ổ bụng Mở thông nang giả vào dạ dày qua nội soi tiêu hóa trên cũng là phương pháp được nhiều tác giả trên thế giới chứng minh hiệu quả, áp dụng rộng rãi, nhưng tất nhiên là đòi hỏi phải có trang thiết bị chuyên dụng và chuyên gia nội soi giỏi

Nối nang với mặt sau dạ dày qua nội soi (laparoscopic cystogastrostomy, laparoscopic pseudocystogastrostomy) được mô tả lần đầu tiên năm 1994 Cho đến nay có 3 cách thực hiện: (1) Qua nội soi ổ bụng, đưa trocar vào lòng dạ dày, bơm hơi tạo phẫu trường, thao tác mở thông mặt sau dạ dày với lòng nang (laparoscopic intraluminal cystogastrostomy), (2) Nội soi ổ bụng, mở mạc chằng vị-đại tràng vào hậu cung mạc nối, bộc lộ và nối mặt sau

dạ dày với nang giả (laparoscopic posterior cystogastrostomy), (3) Qua nội soi ổ bụng, mở mặt trước vào lòng dạ dày, mở thông mặt sau

dạ dày với lòng nang giả rồi khâu đóng lỗ mở mặt trước dạ dày (laparoscopic anterior cystogastrostomy, laparoscopic transgastric cystogastrostomy)

Bệnh nhân của chúng tôi lần đầu bị nang giả tụy phần đuôi, chỉ khoảng 4cm, nhưng có triệu chứng nên chúng tôi dự định mổ nội soi cắt đuôi tụy Đáng tiếc là vì viêm dính quá nhiều nên chỉ dẫn lưu ra ngoài Lần nhập viện sau chẩn đoán đã rõ, khối nang khá lớn nhưng

vì chúng tôi chưa có kinh nghiệm và chưa đủ trang bị để can thiệp qua nội soi tiêu hóa trên

Trang 5

nên chọn phẫu thuật nội soi ổ bụng Cuộc mổ

diễn tiến thuận lợi với 3 trocar (2 troar 5mm

và 1 trocar 10mm) và các dụng cụ mổ nội soi

thông thường, chỉ khác là dùng dao mổ có

chức năng vừa hàn vừa cắt (Thunderbeat),

không cần phải khâu tăng cường miệng nối

Bệnh nhân hồi phục nhanh sau mổ, không có

biến chứng sớm, ra viện sau mổ 6 ngày, theo

dõi đến nay chưa có biểu hiện tái phát

Y văn thế giới gần đây liên tục có những

báo cáo trường hợp, nghiên cứu, tổng quan về

áp dụng ngả xâm hại tối thiểu để điều trị nang

giả tụy, trong đó có mổ nội soi nối nang giả

tụy vào mặt sau dạ dày (2,4,5,6,8,9,11)…Palanivelu ở

Ấn độ, năm 2007, báo cáo 108 bệnh nhân nang

giả tụy được điều trị bằng phẫu thuật nội soi:

90/108 (83,4%) nối nang với mặt sau dạ dày,

thời gian mổ trung bình 95 phút, nằm viện 5,6

ngày, thành công 100%, không có tai biến

đáng kể trong mổ, không có tử vong, có 2 bị

biến chứng sớm phải mổ lại (chảy máu, hẹp

môn vị) và 1 tái phát do hẹp lỗ thông(10)

Nghiên cứu tổng quan của Aljarabar

(năm 2007) trên 118 và 569 bệnh nhân ở 19 và

25 báo cáo, trong đó được bệnh nhân được

chia làm 2 nhóm: nhóm 1 gồm bệnh nhân điều

trị bằng dẫn lưu nang qua mổ nội soi và nhóm

2 gồm bệnh nhân điều trị bằng nội soi đường

tiêu hoá trên Theo đó, tỉ lệ điều trị thành công

nhóm 1 là 98,3% và nhóm 2 là 80,8%, với tỉ lệ

biến chứng lần lượt là 4,2% và 12%, tỉ lệ tử

vong là 0% và 0,4% Trong quá trình theo dõi

bệnh trung bình ở nhóm 1 là 13 tháng và

nhóm 2 là 24 tháng ghi nhận: 2,5% nhóm mổ

nội soi và 14,4% nhóm nội soi đường tiêu hoá

có nang tái phát, tỉ lệ phải can thiệp lại lần

lượt là 0,9% và 11,8% Nghiên cứu này kết

luận dẫn lưu nang vào đường tiêu hoá là an

toàn, ít biến chứng và ít tái phát, đặc biệt

phương pháp mổ nội soi nối nang- dạ dày

được các tác giả đánh giá cao(1)

Nghiên cứu của Sileikis và cs (2016) so

sánh 14 bệnh nhân được mổ nối nang giả - dạ

dày qua nội soi (nhóm 1) với 49 bệnh nhân

được mở thông nang giả-dạ dày qua nội soi tiêu hóa (nhóm 2) ghi nhận: không có tai biến trong thủ thuật ở cả 2 nhóm; tỉ lệ biến chứng nhỏ - chảy máu phải nội soi cầm máu và truyền máu- không khác (21,4% so với 20,4%); biến chứng sớm lớn – viêm phúc mạc hay tụ

mủ trong nang cần phải mổ - ở nhóm 1 là 0% trong khi ở nhóm 2 là 12,2%; biến chứng muộn – nhiễm trùng chất trong lòng nang, có thêm nang mới - ở nhóm 1 là 0% trong khi ở nhóm 2

là 2%; theo dõi 12 tháng không có tái phát ở nhóm 1 trong khi tái phát ở nhóm 2 là 12,2% Tuy vậy, các khác biệt đều chưa có ý nghĩa thống kê Các tác giả cho rằng, dẫn lưu nang vào dạ dày qua nội soi tiêu hóa nên thực hiện trước, nếu thất bại thì nên mổ nội soi nối nang giả với dạ dày(12)

Trong điều kiện chưa có đủ trang bị, chưa có chuyên gia nội soi có kinh nghiệm thực hiện thủ thuật dẫn lưu nang vào dạ dày qua nội soi tiêu hóa trong khi lại có đủ trang bị

mổ nội soi và phẫu thuật viên nội soi như bệnh viện chúng tôi, thiết nghĩ, mổ nội soi dẫn lưu nang giả tụy xuyên dạ dày là lựa chọn khả thi và nên được áp dụng để điều trị những nang giả tụy thích hợp

KẾT LUẬN

Có nhiều phương pháp điều trị nang giả tuỵ Phương pháp điều trị bằng cách dẫn lưu nang giả tụy vào dạ dày qua nội soi ổ bụng tỏ ra là cách khả thi, hiệu quả và tận dụng được lợi thế của phẫu thuật xâm hại tối thiểu Có thể áp dụng cách này để điều trị những nang giả tụy lớn, tiếp xúc và có biểu hiện chèn ép vào dạ dày Kết quả sớm khá thuận lợi, tuy vậy, kết quả lâu dài cần được tiếp tục theo dõi và đánh giá

TÀI LIỆU THAM KHẢO

endoscopic approaches for drainage of pancreatic pseudocysts: a systematic review of published series

Surgical endoscopy; 21 (11): 1936-1944

2 Andrén-Sandberg A, Ansorge C, Eiriksson K, et al (2005)

Treatment of pancreatic pseudocysts Scand J Surg; 94:

165-175

Trang 6

3 Banks P A., Bollen T L., Dervenis C., et al (2013)

Classification of acute pancreatitis—2012: revision of the

Atlanta classification and definitions by international

consensus Gut; 62 (1): 102-111

4 Beuran M, Negoi I, Catena F, et al (2016) Laparoscopic

transgastric versus endoscopic drainage of a large

http://www.jgld.ro/wp/archive/y2016/n2/a19 DOI:

http://dx.doi.org/10.15403/jgld.2014.1121.252.lap

5 Crisanto-Campos BA, Arce-Liévano E, Cárdenas-Lailson

LE, et al (2015) Laparoscopic management of pancreatic

pseudocysts: experience at a general hospital in Mexico

city Revista de Gastroenterología de México; 80(3): 198-204

Ardisson-Zamora FJ, et al (2014) Pancreatic pseudocyst: Case report

and literature review Cir Cir; 82: 3754-379

7 Khanna AK, Tiwary SK, Kumar P (2012) Pancreatic

pseudocysts: Therapeutic dilemma Inter J Inflam, article

ID 279476, 7 pages, doi: 10.1155/2012/279476

8 Miskic D, Pitlovic V, Latic F, et al (2011) Laparoscopic

transgastric gastrocystostomy pancreatic pseudocyst

MED ARH; 65(6): 371-372

9 Nema A (2009) Laparoscopic drainage procedures for pancreatic pseudocyst: A review article World J Laparo Surg; 2(2): 37-41

10 Palanivelu C, Senthilkumar K, Madhankumar MV, et al (2007) Management of pancreatic pseudocyst in the era of laparoscopic surgery – Experience from a tertiary centre

Surg Endosc; 21: 2262-2267

11 Saribeyoglu K, Pekmezci S, Kol E, et al (2008) Laparoscopic cystogastrostomy for the management of

pancreatic pseudocysts Turk J Med Sci; 38(4): 311-317

12 Sileikis A, Beisa A, Kvietkauskas M, et al (2016) Minimally invasive approach in the management of

pancreatic pseudocysts JOP J Pancreas (Online); 17(2):

222-225

Ngày nhận bài báo: 01/12/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 23/12/2016 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 09:44

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm