1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Những cập nhật mới về gốc tự do và hệ thống chống oxy hóa trong cơ thể

6 133 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 244,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gốc tự do được định nghĩa là các gốc hóa học có chứa một hoặc nhiều electron không bắt cặp trong nguyên tử hay trong các orbital của phân tử. Sơ đồ cấu tạo của phân tử oxygen cho thấy bản thân nó cũng chính là một gốc oxy hóa, bởi vì oxygen sở hữu 2 electron không bắt cặp.

Trang 1

NHỮNG CẬP NHẬT MỚI VỀ GỐC TỰ DO

VÀ HỆ THỐNG CHỐNG OXY HÓA TRONG CƠ THỂ

Lê Quốc Tuấn*, Nguyễn Thị Hiệp**, Nguyễn Thị Lệ*

MỞ ĐẦU

Gốc tự do được định nghĩa là các gốc hóa

học có chứa một hoặc nhiều electron không bắt

cặp trong nguyên tử hay trong các orbital của

phân tử Sơ đồ cấu tạo của phân tử oxygen cho

thấy bản thân nó cũng chính là một gốc oxy hóa,

bởi vì oxygen sở hữu 2 electron không bắt cặp

Sự hình thành các gốc có nguồn gốc oxy (hay

các gốc oxy phản ứng: reactive oxygen species)

do 2 cơ chế: phản ứng chuyển điện tử

(electron-transfer reaction), và phản ứng chuyển năng

lượng (electron-transfer reaction) Cả 2 nhóm

phản ứng này đều có vai trò quan trọng trong

môi trường sinh học, và tạo thành các típ khác

nhau của quá trình tổn thương và ngộ độc tế

bào

- Phản ứng chuyển điện tử: tạo ra các gốc

anion superoxide, gốc hydrogen peroxide, gốc

hydroxyl, gốc peroxyl và alkoxyl lipid

- Phản ứng chuyển năng lượng: tạo ra các

gốc oxy đơn (singlet oxygen), phức hợp bộ ba

carbonyl (riplet carbonyl compound)

SỰ TẠO THÀNH CÁC GỐC OXY PHẢN

ỨNG TRONG TẾ BÀO

Trong tế bào, có 2 nguồn chính của anion

superoxide và hydrogen peroxide, còn gốc

hydroxyl được tạo thành từ chính superoxide và

hydrogen peroxide(1,2)

Nguồn gốc của anion superoxide

Những phản ứng quan trọng nhất trong tế

bào tạo thành superoxide(1):

Phản ứng enzyme: xanthine oxidase, NADH

oxidase, NADPH-cytochrome P450 reductase

Nguồn gốc tế bào: bạch cầu và đại thực bào,

chuỗi truyền điện tử ti thể, microsomal

monooxygenase

Các yếu tố môi trường: tia cực tím, X-quang, hóa chất độc hại, hydroxyl-amine thơm, hợp chất nitro thơm, thuốc trừ sâu (như paraquat), hóa trị liệu

Ti thể là nguồn gốc chính của các gốc oxy phản ứng: Ti thể tiêu thụ oxygen kết hợp với quá trình phosphoryl hóa oxy hóa Ở điều kiện bình thường, gần 95-97% oxygen được khử thành nước, một phần nhỏ oxy tiêu thụ (3-5%) dùng để khử anion superoxide Ubiquinone hay Coenzym Q là một chất vận chuyển electron trong chuỗi hô hấp nội bào Coenzym Q hiện diện cả ở khoảng gian màng và chất nền ti thể Ubiquinone hay Coenzym Q được khử bởi phức hợp I và phức hợp II, sau đó chuyển electron sang phức hợp III Trong các quá trình oxy hóa khử, ubiquinone có thể tồn tại ở 3 dạng: quione (dạng oxy hóa hoàn toàn), semiquinone (gốc tự do), và hydroquinone (khử hoàn toàn): hình bên dưới Sự rò rỉ electron (electron leakage), chiếm khoảng 3-5% lượng oxy tiêu thụ trong ti thể, kết hợp với sự tạo thành gốc oxy phản ứng: Ubisemiquinone truyền một điện tử sang cho phân tử oxygen tạo thành anion superoxide và ubiquinone Phản ứng này gọi là sự tự oxy hóa của ubisemiquinone Phản ứng tự oxy hóa của ubisemiquinone là nguồn chính của anion superoxide trong ti thể Do ubiquinone tồn tại cả

ở khoảng gian màng và chất nền ti thể, vì vậy anion superoxide được giải phóng vào cả 2 khoang trên Anion superoxide giải phóng vào khoang gian màng ti thể có thể xuyên qua màng ngoài ti thể vào tế bào chất thông qua một kênh ion phụ thuộc điện thế (VDAC: voltage – dependent anion channel)

* Bộ môn Sinh lý học,Đại Học Y Dược TP HCM ** Đại Học Quốc Tế - Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: ThS Lê Quốc Tuấn ĐT: 01696929792 Email: tuan_lqc@yahoo.com

Trang 2

Nguồn gốc của hydrogen peroxide

Hydrogen peroxide (H2O2) được tạo ra trong

tế bào từ hai quá trình khác nhau: không tạo gốc

tự do (nonradical or enzymic generation), và có

tạo gốc tự do (radical generation or superoxide

anion disproportionation)(1)

Không tạo gốc tự do (Nonradical or enzymic

generation): Các enzym sau sinh ra hydrogen

peroxide (H2O2) khi khử đồng cơ chất của chúng

(phân tử oxy): glycolate oxidase, D-amino acid

oxidase, urate oxidase, acetyl-CoA oxidase,

NADH oxidase, monoamine oxidase Các

enzyme monoamine oxidase (MAO) hoạt động

trong hai dạng A và B, xúc tác sự khử amin oxy

hóa của các amin sinh học Chúng hiện diện ở

màng ngoài ti thể

Có tạo gốc tự do (Radical generation or from

superoxide anion dispropor-tionation): Điều này

xảy ra khi chuyển đổi gốc superoxide theo các

phản ứng đã đề cập:

Ti thể là nguồn cung cấp nhiều nhất các gốc

oxy phản ứng trong tế bào Anion superoxide

tạo ra từ sự tự oxy hóa của ubisemiquinone, phát

tán vào khoảng gian màng và chất nền ti thể

Trong chất nền ti thể, superoxide được chuyển

thành hydrogen peroxide Hydrogen peroxide

khuếch tán tự do qua màng tế bào Do đó, ti thể

có hai nguồn chính của H2O2: thứ nhất, từsự

chuyển đổi của anion superoxide trong màng ti

thể, và, thứ hai, từ sự khử amin oxy hóa của các

amin sinh học (do hoạt động của các MAO

monoamine oxidase gắn trên màng ngoài ti thể)

H2O2 tạo ra từ ti thể có liên quan đến sự điều

hòa oxy hóa khử trên các con đường tín hiệu nội

bào Nồng độ ổn định của H2O2 quyết định trạng

thái oxy hóa khử của tế bào, cũng như quá trình

chuyển đổi từ tang trưởng sang chết theo

chương trình hoặc hoại tử

Nguồn gốc của hydroxyl

Hầu hết các gốc hydroxyl (HO.) được tạo ra

trong invivo, ngoại trừ khi tiếp xúc quá nhiều

với bức xạ ion hóa(3) Gốc hydroxyl có nguồn gốc

từ sự phân hủy hydrogen peroxide (H2O2) thông

qua phản ứngFenton Phản ứng Fenton đòi hỏi phải có sự khử (phụ thuộc kim loại) của hydrogen peroxide (H2O2) tạo thành gốc hydroxyl (HO.) Các kim loại chuyển tiếp như: đồng (Cu), sắt (Fe), và coban (Co), khi ở trạng thái khử có thể là chất xúc tác cho phản ứng này

Sự khử của kim loại chuyển tiếp có thể được thực hiện bởi anion superoxide (O2.-) Phản ứng tổng quát liên quan cả đến 2 quá trình khử sắt bởi anion superoxide (O2-.), và quá trình oxy hóa sắt bởi hydrogen peroxide (H2O2), như sau: (O2

.-+ H2O2 → O2 + HO-+ HO.), được gọi là phản ứng Haber-Weiss Phản ứng xảy ra với tốc độ rất chậm Phản ứng Fenton do đó chiếm ưu thế trong môi trường sinh học Điều cần lưu ý ở đây

là không có sự tạo thành trực tiếp gốc hydroxyl trong tế bào, mà luôn luôn yêu cầu sự có mặt của

cả 2 gốc superoxide và hydrogen peroxide Nguồn gốc của oxy đơn (singlet oxygen) Oxy đơn (singlet oxygen) là gốc oxy phản ứng, không chỉ được tạo thành từ sự chuyển năng lượng (như đã đề cập bên trên), mà còn từ phản ứng chuyển điện tử(4)

Phản ứng chuyển điện tử: Enzym myeloperoxidase trong bạch cầu đa nhân trung tính có thể xúc tác tạo thành hypochlorite từ Cl– và H2O2 Phản ứng sau đó giữa H2O2 với HOCl tạo thành oxy đơn (1O2: singlet oxygen)

Phản ứng chuyển năng lượng: Đây là con đường khác tạo thành oxy đơn, bao gồm sự nhạy cảm hóa photon của nhiều tác nhân hóa trị liệu khác nhau Tác nhân hóa trị liệu (chemotherapeuticagent, hay chất cảm ứng sensitizer = S) hấp thu năng lượng tia xạ, và chuyển năng lượng này đến phân tử oxygen để tạo thành oxy đơn

Như đã đề cập, oxy đơn là một gốc phản ứng với nhiều phân tử như: vitamin E, vitamin C, DNA, cholesterol, carotenoids, các acid béo không no trên màng, và một số các acid amin

Trang 3

STRESS OXY HÓA – CÁC CHẤT OXY

HÓA GÂY TỔN THƯƠNG TẾ BÀO

Do phổ hoạt động rộng cũa các chất oxy hóa,

được tạo thành cả trong tế bào, cũng như trong

hệ vi tuần hoàn (ví dụ: gây nên bởi neutrophil),

rõ rang rằng không có hợp chất nào trong cơ thể

là không chịu tác động của gốc tự do Có thể xem

như anion superoxide và hydrogen peroxide có

tính phản ứng yếu hơn so với gốc hydroxyl và

oxy đơn (singlet oxygen) Tuy nhiên, trong

những trường hợp cụ thể, 2 gốc này có thể tham

gia các phản ứng hóa học đưa đến tổn thương

nhiều phân tử sinh học khác nhau(5)

Sự peroxy hóa lipid

Màng sinh học và các bào quan trong tế bào

rất nhạy cảm với sự tấn công của các gốc oxy

hóa, do sự hiện diện của các acid béo không no

(PUFA: polyunsaturated fatty acids) trên màng

phospholipid của chúng Quá trình peroxy hóa

lipid bao gồm 3 giai đoạn: khởi đầu, kéo dài, và

kết thúc(5,6)

- Giai đoạn khởi đầu (initation): Quá trình

peroxy hóa màng sinh học có thể được khởi đầu

bằng sự tương tác giữa một gốc oxy hóa có tính

phản ứng mạnh (như gốc hydroxyl), với một

acid béo (RH) tạo thành gốc tự do alkyl béo

- Giai đoạn kéo dài (propagation): Gốc tự do

alkyl béo (R.) phản ứng rất nhanh với các phân

tử oxygen tạo thành gốc peroxyl béo (ROO.: fatty

peroxyl radical) Gốc này có khả năng oxy hóa

mạnh, tấn công vào các acid béo không bão hòa

lân cận trên màng (RH) tạo thành gốc

hydroperoxide và một gốc tự do alkyl béo mới

(R.) Theo cách này, các chu kỳ tự xúc tác từ

chuỗi phản ứng khởi đầu sẽ kéo dài cho đến khi

chuỗi gốc tự do được chấm dứt

- Giai đoạn kết thúc (termination): Chuỗi

phản ứng tự xúc tác trên sẽ kết thúc bởi sự va

chạm giữa 2 gốc tự do, tạo thành các sản phẩm

không phải là gốc tự do Phản ứng kết thúc xảy

ra tùy thuộc vào nồng độ oxy nội bào Sự giảm

oxy ở màng sinh học và lipoprotein có thể dẫn

đến khởi đầu một chuỗi phản ứng phức tạp, tạo

thành các sản phẩm phản ứng, oxy hóa không

ổn định, hay các sản phẩm độc hại có đời sống kéo dài; hoặc hoạt hóa các chất trung gian gây viêm Các gốc tự do tấn công các acid béo không

no trên màng hay trong lipoprotein sẽ đi kèm với những thay đổi đưa đến rối loạn chức năng

tế bào hoặc gây chết tế bào

Sự oxy hóa DNA Gốc hydroxyl là một gốc tự do độc biệt: kết hợp các tính chất ưa điện, sinh nhiệt cao, phản ứng xảy ra ở vùng lân cận của DNA (cơ chế vị trí đặc hiệu) Hydroxyl có thể chuyển hydrogen nguyên tử từ đường trong vòng xoắn DNA vào base của DNA dẫn đến bẻ gãy sợi đơn và oxy hóa nucleobase (8-hydroxydesoxy-guanosine) DNA là phân tử nhạy cảm với những thay đổi,

có thể đưa đến các đột biến Ví dụ, bae DNA bị thay đổi do tác động của gốc tự do và các hóa chất trong môi trường Gốc hydroxyl làm trung gian trong quá trình gây tổn thương phân tử đường (deoxyribose) là một phần trong cơ chế C’4, đưa đến phá vỡ sợi DNA(3)

Như vậy, các gốc oxy phản ứng có thể gây tổn thương DNA ở nhiều mức độ khác nhau: gốc hydroxyl thông qua phản ứng phụ gây thay đổi base trên chuỗi đơn (ví dụ: tạo thành 8-Hydroxydeoxyguanosine), hay thông qua phản ưng chuyển hydrogen nguyên tử làm mất liên tục chuỗi đơn (ssDNA nick: single strand DNA nick), hoặc phá vỡ sợi đôi DNA (dsDNA break: double strand DNA break) Sau khi sao chép, sự mất liên tục chuỗi đơn có thể gây phá vỡ cấu trúc sợi đôi DNA

HỆ THỐNG CHỐNG OXY HÓA TRONG

CƠ THỂ Các tế bào của động vật không có khả năng

tự chống lại tác động của các gốc oxy hóa, nhưng chúng có một hệ thống các cơ chế bảo vệ để ngăn chặn, hạn chế, và sửa chữa các tổn thương oxy hóa(4) Các tế bào còn được hổ trợ từ các enzym đặc hiệu chống lại sự tấn công của các gốc oxy hóa, có thể xem như là hệ thống chống oxy hóa phòng ngừa (preventive antioxidants)

Trang 4

Ngoài ra, trong tế bào còn hiện hữu các phân tử

chống oxy hóa nhỏ, phản ứng với hàng loạt các

gốc tự do, được biết như là chất chống oxy hóa

phá vỡ chuỗi (chain-breaking antioxidants)

Hệ thống các enzym chống oxy hóa

(preventive antioxidants)

Các tế bào động vật có vú sở hữu một hệ

thống các enzym đặc hiệu, giúp loại bỏ được cả

anion superoxide và hydrogen peroxide (là 2

tiền chất của gốc oxy hóa mạnh hydroxyl)

- Sự loại bỏ anion superoxide: Superoxide

dismuatases

Các gốc anion superoxide trong tế bào được

tạo thành từ nhiều phản ứng enzym và không

enzym khác nhau Enzym superoxide

dismutases (SOD: superoxide dismutases), xúc

tác sự chuyển đổi nhanh gốc superoxide thành

hydrogen peroxide và oxy phân tử Tốc độ của

phản ứng có enzym xúc tác gấp 1000 lần hơn

phản ứng tự phát không có enzyme(6)

Tất cả các enzym SOD (superoxide

dismutase) đều là các metalloprotein chứa Cu,

Zn, hoặc Mn Có 4 típ SOD ở người:

Cu, Zn-superoxide dismutase tế bào chất

Mn-superoxide dismutase chất nền ti thể

Cu, Zn-superoxide dismutase khoảng gian

màng ti thể

Cu, Zn-superoxide dismutase khoảng ngoại

bào

- Sự loại bỏ hydrogen peroxide: Catalase và

Glutathione Peroxidase

Sản phẩm của các phản ứng được xúc tác bởi

enzym SOD ở trên chính là các gốc hydrogen

peroxide (H2O2) Tuy tính phản ứng kém hơn

superoxide, nhưng gốc hydrogen peroxide vẫn

là một gốc oxy hóa, và là tiền thân của gốc

hydroxyl (HO) qua phản ứng Fenton Tế bào có

thể khử gốc hydrogen peroxide thành nước nhờ

enzym catalase và glutathione peroxide(4)

Glutathione peroxide là enzym hoạt động trong

tế bào chất và chất nền ti thể, đòi hỏi cần sự có

mặt của glutathione – một tripeptide có nồng độ

cao ở hầu hết các tế bào ở động vật có vú Trong phản ứng này, hydrogen peroxidase bị khử thành nước, và glutathione (GSH) bị oxy hóa thành glutathione disulfide (GSSG)

Như vậy, tế bào chỉ có các enzyme đặc hiệu

để chống lại gốc anion superoxide, và hydrogen peroxide, thiếu hoàn toàn hệ thống loại bỏ các gốc hydroxyl (HO) Nhưng do sự hình thành gốc hydroxyl đòi hỏi phải có cả 2 gốc superoxide, và hydrogen peroxide Do đó, các enzyme SOD, catalase/glutathione peroxide đã gián tiếp ngăn chặn việc hình thành các gốc hydroxyl

Các phân tử chống oxy hóa không đặc hiệu Ngăn chặn và sửa chữa các tổn thương gây nên bởi các gốc oxy phản ứng mạnh, như hydroxyl (HO.) là nhiệm vụ rất quan trọng đối với tế bào Vì vậy, tế bào còn bao gồm hệ thống thứ hai, gọi là các phân tử chống oxy hóa nhỏ (small antioxidant molecule) như: vitamin E, vitamin C, ubiquinone (hay Coenzym Q), carotenoid Một số trong nhóm này còn được xem như là chất chống oxy hóa phá vỡ chuỗi (chain-breaking antioxidants) do chúng có hiệu quả làm gián đoạn các phản ứng giai đoạn kéo dài trong quá trình gây tổn thương tế bào (xem lại sự peroxide hóa lipid ở trên)

- Vitamin E hay tocopherol: Vitamin E tự nhiên là một hỗn hợp các tocopherols (α, β, và γ)

và tocotrienols (α, β, và γ) Đây là một vitamin tan trong mỡ, tập trung chủ yếu ở vùng bên trong màng tế bào và protein huyết thanh Vitamin D là chất chống oxy hóa tan trong mỡ chủ yếu của huyết tương người Vitamin E phản ứng đáng kể với một loạt các gốc tự do, nhất là gốc peroxyl lipid hình thành trong quá trình peroxy hóa lipid Trong phản ứng này (tương tự như bất kỳ cơ chế chống oxy hóa nào khác), dạng gốc tự do của vitamin E được hình thành Gốc tự do mới, (gốc α-tocopheroxyl), có tính phản ứng thấp hơn so với các gốc tự do ban đầu Như vậy, kết quả phản ứng hướng tới việc tạo thành một gốc có đặc tính oxy hóa kém hơn, giảm gây nguy hại cho tế bào

Trang 5

- Vitamin C: Vitamin C hay acid ascorbic

(AH) là một vitamin tan trong nước, phản ứng

với các gốc tự do (như hydroxyl) tạo thành

acid semidehydroascorbic hay gốc ascorbyl

(A.–) Nhiều loài động vật chứa 2 enzym có

khả năng khử gốc ascorbyl hay acid

semidehydroascorbic thành lại acid ascorbic:

dehydroascorbate reductase, và

NADH-semidehydroascorbate reductase Các enzyme

dehydroascorbate reductase khử gốc ascorbyl

thành acid ascorbic, trong khi oxy hóa GSH

thành GSSG Enzym thứ hai,

NADH-semidehydroascorbate reductase, khử gốc

ascorbyl thành acid ascorbic, trong khi oxy

hóa NADH thành NAD+

Như vậy, phản ứng chuyển đổi gốc oxy hóa

của vitamin C hay acid ascorbic tạo thành một

sản phẩm không phải gốc tự do (nước), và một

gốc có nguồn gốc từ chất chống oxy hóa (gốc

ascorbyl) Gốc ascorbyl có thể chuyển ngược lại

thành vitamin C nhờ sự hoạt động của enzyme

GSH-dependent dehydroascorbate reductase

- Ubiquinone hay Coenzyme Q: Coenzym

Q hay Ubiquinone-10 là thành phần oxy hóa

khử có mặt trên màng tế bào của tất cả các loài

động vật có vú Tại màng trong ti thể,

ubiquinone đóng vai trò là thành phần dẫn

truyền điện tử từ phức hợp I và II sang phức

hợp III của chuỗi hô hấp nội bào Tại màng

ngoài ti thể, ubiquinone có chức năng như một

chất chống oxy hóa, ở dạng khử (ubiquinol)

bảo vệ acid béo không no không bị tổn thương

bởi sự peroxy hóa Giống như các quinone

khác, ubiquinone có những đặc tính hóa học

đặc trưng nhưkhả năng vận chuyển một điện

tử có thể đảo nghịch với trung gian của gốc

semiquinone Sự hiện diện của các nhóm thay

thế isoprenoids (R) trong ubiquinone cản trở

sự tấn công ái nhân lên các cầu nối đôi(5)

Khi ubiquinone phản ứng với các gốc tự

do, nó tạo thành một gốc mới Trên màng

ngoài ti thể, phần lớn ubiquinone ở trạng thái

khử Vậy cơ chế nào để duy trì điều này?

Enzym NADPH-ubiquinone reductase trong

tế bào chất gan chính là cơ chế duy trì ubiquinone ở dạng ubiquinol (trạng thái khử) trên màng ngoài ti thể Do đó, sau phản ứng giữa ubiquinol và gốc peroxyl lipid hoặc gốc tạo thành từ vitamin E, gốc tạo ra từ ubiquinol (ubiquinone) sẽ phục hồi lại thành dạng ubiquinol nhờ hoạt động của enzyme liên kết flavin (FPH2), NADPH-ubiquinone reductase

- Hoạt động hiệp đồng giữa vitamin E và vitamin C: Vitamine E là vitamin tan trong lipid, và là chất chống oxy hóa (nhóm chất chống oxy hóa phá vỡ chuỗi, phản ứng chính với các gốc peroxyl tạo thành trong quá trình peroxy hóa lipid) Vitamine E có mặt trên màng tế bào Phản ứng của vitamin E với các gốc tự do peroxyl lipid tại màng tế bào tạo thành các gốc có nguồn gốc vitamin E tương ứng (antioxidant-derived radical), hoặc gốc tocopheroxyl Vitamin C là vitamin tan trong nước, và là chất chống oxy hóa phản ứng với nhiều gốc tự do Gốc có nguồn gốc từ vitamin

C, hay gốc ascorbyl, tạo thành sẽ được phục hồi thành dạng vitamin C trở lại nhờ enzyme dehydroascorbate reductase Vitamin C có mặt trong tế bào chất Các đặc tính khác nhau giữa vitamin C và E cung cấp một cơ chế chống oxy hóa hiệp đồng, theo đó các gốc tự do sẽ được chuyển từ pha lipid (màng tế bào) sang pha tế bào chất(4,5)

KẾT LUẬN

Sự oxy hóa là một phản ứng hóa học trong

đó electron được chuyển từ chất này sang chất khác, sinh ra các gốc tự do làm phá hủy tế bào Chất chống oxy hóa là giúp ngăn chặn hoặc làm chậm quá trình oxy hóa các chất diễn ra trong tế bào, khử đi các gốc tự do bằng cách tự oxy hóa chính chúng Cơ thể có một hệ thống chống oxy hóa rất phong phú, điển hình như glutathione, vitamin C, vitamin

E, enzyme catalase, superoxide dismutase … giúp bảo vệ tế bào trước sự sản sinh liên tục các gốc tự do

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Afanas'ev I (2010) Signaling and Damaging Functions of Free

Radicals in Aging-Free Radical Theory, Hormesis, and TOR

Aging And Disease 1(2) 75-88

2 Brink TC, Demetrius L, Lehrach H, Adjaye J (2009)

Age-related transcriptional changes in gene expression in different

organs of mice support the metabolic stability theory of aging

Biogerontology 10(5) 549-64

3 Conte D, Narindrasorasak S, Sarkar B (1996) In vivo and in

vitro iron-replaced zinc finger generates free radicals and

causes DNA damage The Journal Of Biological Chemistry

1996;271(9) 5125-30

4 Miyazawa M, Ishii T, Yasuda K, Noda S, Onouchi H,

Hartman PS, et al (2009) The role of mitochondrial superoxide

anion (O2(-)) on physiological aging in C57BL/6J mice Journal

Of Radiation Research 50(1) 73-83

5 Sasaki T, Unno K, Tahara S, Shimada A, Chiba Y, Hoshino M,

et al (2008) Age-related increase of superoxide generation in the brains of mammals and birds Aging Cell 7(4) 459-69

6 Sohal R (2002) "Role of oxidative stress and protein oxidation

in the aging process" Free Radic Biol Med 33 (1): 37–44

Ngày nhận bài báo: 24/11/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 15/02/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 09:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w