Thụ tinh trong ống nghiệm là một bước tiến lớn trong điều trị vô sinh. Nếu bệnh nhân vô tinh bế tắc thất bại khi thực hiện thụ tinh ống nghiệm hoặc muốn có con lần thứ hai thì phải thực hiện tiểu phẫu để lấy tinh trùng từ mào tinh tinh hay tinh hoàn, đặt ra vấn đề cần lưu trữ tinh trùng.
Trang 1ĐẠI CƯƠNG VỀ TRỮ LẠNH TINH TRÙNG CỦA NGƯỜI
Mai Bá Tiến Dũng*
TÓM TẮT
Thụ tinh trong ống nghiệm là một bước tiến lớn trong điều trị vô sinh Nếu bệnh nhân vô tinh bế tắc thất bại khi thực hiện thụ tinh ống nghiệm hoặc muốn có con lần thứ hai thì phải thực hiện tiểu phẫu để lấy tinh trùng từ mào tinh tinh hay tinh hoàn, đặt ra vấn đề cần lưu trữ tinh trùng Các chỉ định trữ lạnh tinh trùng bao gồm những bệnh nhân mong muốn có con trước khi can thiệp hay xạ trị khối u vùng chậu, trước can thiệp phẫu thuật trên cổ bàng quang, ung thư tinh hoàn, các bệnh nội khoa diễn tiến ảnh hưởng đến quá trình sản xuất tinh trùng, trích tinh trùng khi thực hiện phẫu thuật đường dẫn tinh Lựa chọn và tối ưu hóa quy trình trữ lạnh sâu tinh trùng rất cần thiết để giảm những tổn thương của tinh trùng, cải thiện tỷ lệ có thai khi thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm Không có sự khác biệt về tỷ lệ có thai, chất lượng phôi, tỷ lệ có thai lâm sàng giữa hai nhóm bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm với tinh trùng tươi và tinh trùng trữ lạnh Cần thiết lập quy trình để hạn chế rủi ro và tăng tính an toàn trong quy trình trữ lạnh tinh trùng
Từ khóa: tinh trùng, trữ lạnh tinh trùng, quy trình trữ lạnh tinh trùng
ABSTRACT
CRYOPRESERVATION OF HUMAN SPERMATOZOA
In vitro fertilization is a big step in treatment male infertility In case, the patient with obstruction azoospermia fails to perform in vitro fertilization or wants to have a second child, then minor surgery to aspiration sperm from the epididymis or testicle, poses a problem of sperm storage Indications for cryopreservation of human
spermatozoa include patients wishing to have children before intervention or radiotherapy for pelvic tumors, prior
to surgical intervention on bladder neck, testicular cancer, internal medical conditions enjoy the process of sperm production, sperm extraction when performing a surgical procedure on the sperm Selection and optimization of cryopreservation of human spermatozoa procedures are essential to reduce sperm damage, improve pregnancy rates when in vitro fertilization is performed There was no difference in pregnancy rate, embryo quality, clinical pregnancy rate between two in vitro fertilized patients with fresh sperm and frozen sperm Procedures need to be established to limit risks and increase safety in sperm storage
Keywords: human sperm, cryopreservation of human spermatozoa, procedure of cryopreservation of human
spermatozoa
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO)(20) một
cặp vợ chồng sau 12 tháng có quan hệ tình dục
bình thường, không áp dụng bất kỳ biện pháp
tránh thai mà không có thai được xếp vào nhóm
vô sinh Vô sinh chiếm tỷ lệ trung bình 15%
trong cộng đồng Ước tính có khoảng 30% các
trường hợp vô sinh có nguyên nhân chính từ
người đàn ông và 30% - 40% có liên quan đến cả
vợ lẫn chồng
Năm 1998 tại Việt Nam, Khoa Hiếm muộn – Bệnh viện Từ Dũ đã thực hiện thành công thụ tinh trong ống nghiệm với tinh trùng trong tinh dịch(10) Tuy nhiên nếu bệnh nhân thất bại khi thực hiện thụ tinh ống nghiệm hoặc thực muốn
có con lần thứ hai thì phải thực hiện tiểu phẫu để lấy tinh trùng từ mào tinh tinh hay tinh hoàn Năm 1776, Lazaro Spallanzamin(9,16) đã báo cáo một trường hợp trữ lạnh tinh trùng bằng tuyết Tuy nhiên đến năm 1866, Montegazza(9) đã
* Khoa Nam học – BV Bình Dân Thành Phố Hồ Chí Minh
Trang 2đưa ra vấn đề bệnh nhân có thể có con với tinh
trùng của mình được lưu giữ Năm 1953, người
phụ nữ đầu tiên thụ thai với tinh trùng trữ lạnh,
điều này chứng minh tinh trùng sau khi rã đông
thì vẫn có khả năng thụ thai và mang thai tự
nhiên(1,9)
Phương pháp trữ lạnh tinh trùng bằng nitơ
lỏng ở nhiệt độ - 1960C được giới thiệu lần đầu
vào năm 1963 và được xem là phương pháp
chuẩn Vào năm 1970 việc thành lập ngân hàng
tinh trùng từ người hiến tặng tinh trùng và các
cặp vợ chồng vô sinh đã trở nên phổ biến(12)
Trữ lạnh tinh trùng để thực hiện thụ tinh
trong ống nghiệm là một hoạt động quan trọng
của nhiều trung tâm điều trị hiếm muộn(21)
CHỈ ĐỊNH THỰC HIỆN TRỮ LẠNH
TINH TRÙNG (7)
Trước khi hóa trị hay xạ trị vùng chậu Đối
với trường hợp trước dậy thì có thể thực hiện
phẫu thuật trích tinh trùng tinh hoàn để trữ
lạnh(11)
Trước các phẫu thuật có ảnh hưởng đến khả
năng sinh sản (phẫu thuật cổ bàng quang ở nam
giới trẻ, ung thư tinh hoàn, trước thủ thuật triệt
sản hay chuyển giới)
Bệnh nhân có chất lượng tinh trùng có thể
diễn tiến đến tình trạng vô tinh do bị ảnh hưởng
điều trị các bệnh lý như: u tuyến yên, ung thư
thanh quản, suy thận, tiểu đường không kiểm
soát, xơ cứng bì
Những trường hợp chỉ xuất tinh được khi sử
dụng thiết bị cấy điện cực
Sau khi điều trị suy sinh dục, bệnh nhân có
xuất tinh từng đợt
Bệnh nhân vô tinh không bế tắc, sau điều trị
có tinh trùng hoặc sau thủ thuật trích tinh trùng
tinh hoàn
Trong quá trình thực hiện phẫu thuật nối
ODT sau triệt sản hay nối ODT - MT có thể lấy
tinh trùng để trữ lạnh
Bệnh nhân hiến tặng tinh trùng
CÁC BIẾN ĐỔI CỦA TINH TRÙNG KHI THỰC HIỆN QUÁ TRÌNH TRỮ LẠNH TINH TRÙNG
Nguyên tắc của trữ lạnh tinh trùng là làm giảm nhiệt độ của môi trường chứa mẫu tế bào hay mẫu mô xuống nhiệt độ rất thấp, thường là 77K (độ Kelvin) hoặc -1960C (nitơ lỏng) Ở nhiệt
độ thấp này, hầu hết các hoạt động sinh học bên trong tế bào bao gồm các phản ứng sinh hóa và hoạt động trao đổi chất bị ngừng lại Nhờ đó, tế bào sống ở dạng tiềm sinh (không phát triển) và được bảo quản trong thời gian rất dài Trong quá trình trữ lạnh và rã đông tinh trùng, một số thay đổi trong môi trường chứa tế bào và cả trong bản thân tế bào có thể ảnh hưởng đến cấu trúc, chức năng, sự toàn vẹn và khả năng sống của tinh trùng sau rã đông
Tương tự những loại tế bào khác, tinh trùng cũng bị ảnh hưởng bởi ba dạng tổn thương chính xảy ra ở những khoảng nhiệt độ khác nhau trong suốt quá trình đông lạnh và rã đông Trong khoảng nhiệt độ 150C đến -50C, nhiệt độ lạnh là yếu tố chính gây tổn thương tế bào, do làm phá hủy những giọt lipid trong bào tương
và các cấu trúc vi ống (bao gồm thoi vô sắc) Từ
-50C đến -800C, sự hình thành tinh thể đá nội bào
và ngoại bào là nguyên nhân chính gây tổn thương tế bào Tổn thương này được xem là nguy hiểm nhất đối với các loại tế bào được trữ lạnh sâu nói chung, và đối với tinh trùng nói riêng Ở nhiệt độ từ -500C đến -1500C, sự phá vỡ màng bào tương là những tổn thương phải trải qua trong giai đoạn này
Tinh trùng người chịu được một biên độ làm lạnh và làm ấm nhất định Chúng không dễ dàng bị tổn hại bởi quá trình làm lạnh nhanh ban đầu (sốc lạnh) Nguyên nhân có thể là do màng
tế bào tinh trùng là màng lipid kép, cấu tạo từ các a-xít béo không bão hòa nên tính lỏng cao(3) Ngoài ra, chúng có sức chịu đựng cao hơn các loại tế bào khác đối với các thương tổn gây ra từ quá trình đông lạnh là do lượng nước trong nội bào ít hơn (khoảng 50%)
Trang 3Trong quá trình rã đông, những dạng tổn
thương đối với tế bào cũng xảy ra tương tự như
trong quá trình đông lạnh nhưng theo trình tự
ngược lại Trong đó, quan trọng nhất là khả năng
tái kết tinh (recrystallization), mà hậu quả là sự
xuất hiện trở lại của các tinh thể đá nội bào khi
nhiệt độ tăng trên -1200C Do đó, trong quá trình
rã đông, đa số các tác giả đều cho rằng cần phải
vượt qua giai đoạn này một cách nhanh chóng
để hạn chế việc gây thêm tổn thương cho tế bào
Các biện pháp để hạn chế tổn thương cho
phôi và làm tăng tỷ lệ sống của phôi sau rã đông
cũng dựa trên hai yếu tố chính là sử dụng chất
bảo quản đông lạnh (cryoprotectant agents -
CPA) và điều khiển tốc độ đông lạnh – rã đông
Sự hoạt động kết hợp của hai hay nhiều loại
CPA (có khả năng thẩm thấu và không có khả
năng thẩm thấu) giúp hạn chế được sự hình
thành tinh thể đá nội bào, ổn định cấu trúc tế bào
và màng tế bào trong quá trình hạ nhiệt độ(4)
CÁC PHƯƠNG PHÁP TRỮ LẠNH TINH
TRÙNG
Một chu trình đông lạnh sâu - rã đông bao
gồm các công đoạn chính như (1) tiếp xúc với
môi trường có chất bảo quản, (2) hạ nhiệt độ, (3)
lưu trữ, (4) rã đông và (5) loại bỏ chất bảo quản
để đưa tế bào về điều kiện sinh lý(12) Dựa vào
nồng độ chất bảo quản đựơc sử dụng và tốc độ
hạ nhiệt trong quá trình đông lạnh, về mặt kĩ
thuật, người ta thường chia trữ đông phôi làm
hai nhóm là hạ nhiệt độ chậm (slow – freezing)
và thủy tinh hóa (vitrification)
Hạ nhiệt độ chậm (slow – freezing)
Hạ nhiệt độ chậm còn được gọi là phương
pháp trữ đông có kiểm soát tốc độ làm lạnh
(controlled-rate freezing) Phương pháp này
được Whittingham giới thiệu đầu tiên vào
những năm đầu thập niên 70 trên mô trình
phôi chuột Em bé đầu tiên từ phôi người trữ
đông trên thế giới ra đời bằng phương pháp
này được ghi nhận và năm 1983 Trong
phương pháp hạ nhiệt độ chậm, mẫu tế bào
được làm lạnh với tốc độ hạ nhiệt độ chậm
(1-30C/phút) từ nhiệt độ sinh lý xuống nhiệt độ rất thấp (khoảng -800C) trước khi đưa mẫu vào lưu trữ trong ni-tơ lỏng(19)
Hạ nhiệt độ nhanh
Trong kỹ thuật hạ nhiệt độ nhanh hay còn gọi là thủy tinh hóa, mẫu tế bào được cho thẳng vào ni-tơ lỏng ngay sau khi được cho trao đổi với chất bảo quản mà không qua giai đoạn hạ nhiệt
độ từ từ Em bé đầu tiên trên thế giới ra đời bằng
kỹ thuật này được báo cáo vào năm 2002(8)
Nguyên lý của kỹ thuật này được dựa trên tốc độ làm lạnh cực nhanh, do đó thể tích môi trường còn lại xung quanh phôi trước khi đông lạnh phải ở mức tối thiểu để mẫu tế bào nhanh chóng đạt nhiệt độ mong muốn Khi cần sử
dụng phôi sẽ được rã đông
Lựa chọn phương pháp trữ lạnh sâu tinh trùng
Khảo sát cho thấy không có sự khác biệt về cấu trúc mô cũng như sức sống của tinh trùng người sau trữ lạnh – rã đông bằng hai phác đồ trữ lạnh chậm và thủy tinh hóa tối ưu cho áp dụng trữ lạnh sâu tinh trùng
Việc áp dụng phương pháp hạ nhiệt chậm hay thủy tinh hóa phụ thuộc vào điều kiện làm việc, môi trường cũng như kinh nghiệm của người thực hiện(7)
ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ SỐ VỀ MẬT ĐỘ VÀ CHẤT LƯỢNG TINH TRÙNG TRƯỚC TRỮ LẠNH SÂU TINH TRÙNG, SAU RÃ ĐÔNG TINH TRÙNG TRỮ LẠNH SÂU
Mật độ tinh trùng
Mật độ tinh trùng trong quá trình thực hiện trữ lạnh sâu tinh trùng cũng như quá trình rã đông cần thực hiện soi dưới kính hiển vi có độ phóng đại 100 và 400 lần với ánh sáng phản pha, theo hướng dẩn của Tổ Chức Y Thế Giới về đánh giá tinh dịch đồ của người(21)
Có thể đánh giá mật độ trên buồng đếm Neubauer hoặc buồng đếm Makler tùy vào điều kiện của từng cơ sở Khi sử dụng buồng đếm Neubauer cải tiến đã đưa ra cách pha loãng, tính
Trang 4toán hệ số pha loãng, đếm buồng đếm và tính
toán sai số một cách tỉ mỉ theo hướng dẫn
Độ di động của tinh trùng
Đánh giá độ di động bằng cách khảo sát sự
di động tự nhiên của tinh trùng, sau đó tính tỉ lệ
giữa tinh trùng trong cùng thể tích và được thể
hiện bằng phần trăm Hướng dẫn thực hiện xét
nghiệm tinh dịch đồ người của Tổ Chức Y Tế
Thế Giới đưa ra tiêu chuẩn đánh giá sự di động
của tinh trùng chỉ còn 03 loại: di động tiến tới
(PR), di động không tiến tới (NP), không di động
(IM) Điều đó sẽ dễ dàng phân loại tinh trùng
hơn, mang tính khách quan hơn(21)
Đánh giá tỷ lệ sống của tinh trùng
Sử dụng phương pháp nhuộm
Eosin-Nigrosin Tinh trùng chết bắt màu đỏ của eosin,
tinh trùng sống không bắt màu đỏ của eosin
Qua đánh giá tỷ lệ sống của tinh trùng, có
thể tìm ra mẫu đó có tinh trùng sống hay không
và tiến hành tác chọn lựa tinh trùng còn sống để
thực hiện tiêm tinh trùng vào bào tương trứng
thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm(20)
Sử dụng xét nghiệm đánh giá sự phân mảnh
của DNA tinh trùng
Phân mảnh DNA là một trong những bất
thường di truyền của tinh trùng, chiếm 20% các
trường hợp vô sinh nam Bất thường này ảnh
hưởng đến khả năng thụ tinh của tinh trùng Xét
nghiệm này có vai trò quan trọng trong việc
chẩn đoán và đưa ra hướng điều trị vô sinh nam
Mối liên quan giữa tổn thương DNA của
tinh trùng với khả năng thụ tinh của tinh trùng
với trứng đã được xác lập(14)
Nam giới có độ phân mảnh của DNA tinh
trùng (DFI) < 15% sẽ có khả năng thụ thai bình
thường, DFI từ 15 – 30% thì tỷ lệ thụ thai tự
nhiên giảm mạnh nhưng vẫn có tỉ lệ thành công
cao ở các biện pháp hỗ trợ sinh sản như IVF, IUI;
còn DFI > 30% thì ngay cả khi có các biện pháp
hỗ trợ sinh sản cũng có tỉ lệ thành công rất thấp
Tuy nhiên, tỷ lệ thụ thai thành công tăng lên
đáng kể ở nhóm bệnh nhân giảm được DFI từ
mức trên 30% xuống dưới mức 30%(14)
HIỆU QUẢ CỦA TRỮ LẠNH TINH TRÙNG
Friedler và cộng sự(5), Ben Rhouma và cộng
sự , Habermann và cộng sự(6) đã báo cáo không
có sự khác biệt về tỷ lệ có thai, chất lượng phôi,
tỷ lệ có thai lâm sàng giữa hai nhóm bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm với tinh trùng tinh hoàn tươi và tinh trùng tinh hoàn trữ lạnh Cayan và cộng sự(2), Sherman và cộng sự(12), Silber(13) đã báo cáo việc sử dụng tinh trùng mào tinh tươi và trữ lạnh để thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm, kết quả cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ có thai lâm sàng khi sử dụng tinh trùng trữ lạnh
Năm 2009, Trương Thị Thanh Bình và cs(17)
đã báo cáo kết quả trữ lạnh mô tinh hoàn ở bệnh nhân vô tinh bế tắc, nghiên cứu cho thấy không
có sự khác biệt về chất lượng tinh trùng tinh hoàn tươi và trữ lạnh
Năm 2015, Vũ Thị Bích Loan và cs(18) đã báo cáo tiêm tinh trùng trữ lạnh từ chọc hút mào tinh
để thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm và kết quả không có sự khác biệt sử dụng tinh trùng tươi hay tinh trùng đông lạnh
ĐÁNH GIÁ RỦI RO CỦA KỸ THUẬT TRỮ LẠNH VÀ BẢO QUẢN TINH TRÙNG CỦA NGƯỜI ĐƯỢC TRỮ LẠNH(15)
Khi đánh giá các rủi ro liên quan đến kỹ thuật trữ lạnh và bảo quản tinh trùng, các vấn đề sau đây cần được xem xét
Nguồn mẫu
Tình trạng vật lý của các ống lưu trữ, mẫu tinh dịch và phòng lưu trữ, để giảm nguy cơ mất mẫu do trộm cắp hoặc cháy nổ, hư hỏng các dụng cụ chứa mẫu hoặc cạn kiệt nguồn
ni-tơ lỏng
Sự phù hợp của thiết bị để sử dụng
Hệ thống thùng chứa và vận chuyển nitơ lỏng Thiết bị bảo hộ, an toàn đối với nhân viên Thiết bị bảo vệ cá nhân
Trang 5Hệ thống báo động phát hiện lượng nitơ
lỏng trong hệ thống trữ lạnh xuống thấp
Nguy cơ lây nhiễm chéo
KẾT LUẬN
Trữ lạnh sâu tinh trùng là một lĩnh vực rất
cần thiết trong điều trị vô sinh nam nhất là
những trường hợp vô tinh bế tắc khi can thiệp
ngoại khoa và việc trữ lạnh sâu tinh trùng được
thực hiện đồng thời khi phẫu thuật
Các chỉ định bao gồm những bệnh nhân
mong muốn có con trước khi can thiệp hay xạ trị
khối u vùng chậu, trước can thiệp phẫu thuật
trên cổ bàng quang, ung thư tinh hoàn, các bệnh
nội khoa diễn tiến ảnh hưởng đến quá trình sản
xuất tinh trùng, trích tinh trùng khi thực hiện
phẫu thuật đường dẫn tinh
Lựa chọn và tối ưu hóa quy trình trữ lạnh
sâu tinh trùng rất cần thiết để giảm những tổn
thương của tinh trùng, cải thiện tỷ lệ có thai khi
thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm Quy trình
hạ nhiệt độ trong trữ lạnh tinh trùng đựơc lựa
chọn tùy thuộc điều kiện về trang thiết bị cũng
như kinh nghiệm với tiêu chí ưu thế chất bảo
quản lạnh nồng độ thấp sẽ ít ảnh hưởng đến tế
bào Cần thiết lập quy trình để hạn chế rủi ro và
tính an toàn trong quy trình
TÀI LIỆU THAM KHẢO
frozen human spermatozoa” Nature, 172:767
2 Cayan S, Lee D, Conaghan J, et al (2001) “A comparison of ICSI
outcomes with fresh and cryopreserved epididymal
spermatozoa from the same couples” Human Reproduction,
16(3):495–499
3 Clarke GN; Liu Y; Baker HW (2006) “Recovery of human sperm
motility and ability to interact with the human zona pellucida
after more than 28 years of storage in liquid nitrogen” Fertil
Steril, 86:721-722
4 D'Angelo A and Amso N (2002) “Embryo freezing for
preventing Ovarian Hyperstimulation Syndrome” Cochrane
Database Syst Rev, 2:CD002806
5 Friedler S, Strassburger D, Raziel A, Komarovsky D, Soffer Y
and Ron-El R (1997) “Intracytoplasmic injection of fresh and
cryopreserved testicular spermatozoa in patients with
nonobstructive azoospermia—A comparative study” Fertility
and Sterility, 68(5):892–897
6 Habermann H, Seo R, Cieslak J, Niederberger C, Prins GS and
Ross L (2000) “In vitro fertilization outcomes after
intracytoplasmic sperm injection with fresh or frozenthawed
testicular spermatozoa” Fertility and Sterility, 73(5):955–960
7 Jungwirth A, Diemer T, Kopa T, Krausz C, Minhas S, Tournaye
H (2019) “EAU Guidelines on Male Infertility” European
Association of Urology, pp.31 – 33
8 Liebermann J, Nawroth F, Isachenko V et al (2002) Potential
importance of vitrification in reproductive medicine Biol Reprod,
67(6):1671-80
9 Mahony MC, Morshedi M, Scott RT, De Villiers A and Erasmus
E (1990) “Role of spermatozoa cryopreservation in assisted reproduction” Human Spermatozoa in Assisted Reproduc-tion:
Williams & Wilkins Co., chapt 10, pp.100
10 Nguyễn Thành Như, Phạm Hữu Đương, Nguyễn Ngọc Tiến, Vương Thị Ngọc Lan, Vũ Lê Chuyên, Nguyễn Văn Hiệp (2002)
“Bảy trường hợp trích tinh trùng từ mào tinh và ống dẫn tinh
bằng phẫu thuật để tiêm tinh trùng vào bào tương trứng” Thời
sự y dược học, bộ VII, 4:226-228
11 Picton HM, et al (2015) “A European perspective on testicular tissue cryopreservation for fertility preservation in prepubertal
and adolescent boys” Hum Reprod, 30:2463
12 Sherman JK (1990) “Cryopreservation of human semen” Handbook of the Laboratory Diagnosis and Treatment of In-
fertility Webster Boston: CRC Press, Inc., chapt 13, pp.229
13 Silber SJ, Devroey P, Tournaye H, Van Steirteghem AC (1999)
“Fertilizing capacity of epididymal and testicular sperm using
intracytoplasmic sperm injection (ICSI)” J Formos Med Assoc,
99(6):459-65
14 Smit M, Romijn JC, Wildhagen MF, et al (2010) Decreased Sperm DNA Fragmentation After Surgical Varicocelectomy is
Associated with Increased Pregnancy Rate The Journal of
Urology, 183(1):70 - 274
15 Tedder RS, Zuckerman MA, Goldstone AH, et al (1995)
“Hepatitis B transmission from contaminated cryopreservation
tank” Lancet, 346:137–140
16 Triana V (1980) Artificial insemination and semen banks in Italy In: Human Artificial Insemination and Semen
Preservation Edited by G David and W Price, pp.51, New York:
Plenum
17 Trương Thị Thanh Bình, Nguyễn Thành Như, Nguyễn Thị Mai, Mai Công Minh Tâm, Hồ Mạnh Tường, Nguyễn Ngọc Bích (2009) Trữ lạnh mô tinh hoàn ỡ những trường hợp vô tinh bế
tắc ở nam giới Thời sự Y học, 36:3-6
18 Vũ Thị Bích Loan, Nguyễn Viết Tiến, Vũ Văn Tâm (2015) “Kết quả bước đầu phương pháp tiêm tinh trùng trữ lạnh từ mào
tinh vào bào tương noãn trong điều trị vô sinh nam” Tạp chí
Nghiên Cứu Y Học, 93(1):1 – 7
19 Witt MA (1997) “Sperm banking” in Infertility in the Male, 3ed Edited by LI Lipshultz and SS Howards St Inc, chapt 32,
pp.501 Louis: Mosby- Year Book
20 World Health Organization (2000) WHO Manual for the Standardised Investigation, Diagnosis and Management of the Infertile Male Cambridge: Cambridge University Press
21 World Health Organization (2010) WHO laboratory manual for the examination and processing of human semen, Fifth edition