1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến tình trạng rút que cấy tránh thai Implanon sớm trước thời hạn tại bv Từ Dũ

7 97 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 342,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến tình trạng rút que cấy tránh thai Implanon sớm trước thời hạn tại bệnh viện Từ Dũ.

Trang 1

TỶ LỆ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG RÚT QUE CẤY TRÁNH THAI IMPLANON SỚM TRƯỚC THỜI HẠN TẠI BV TỪ DŨ

Cao Hữu Thịnh*, Võ Minh Tuấn**

TÓM TẮT

Mở đầu: Cấy Implanon một phương pháp ngừa thai mới được sử dụng tại Việt Nam từ năm 2005 Việc

phải rút que cấy tránh thai ra sớm trước hạn gây lãng phí thời gian và tài chính cho người sử dụng

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến tình trạng rút que cấy tránh thai Implanon

sớm trước thời hạn tại bệnh viện Từ Dũ

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang Từ tháng 06/2015 đến tháng 05/2016 có 386 phụ nữ đến

khoa Kế Hoạch Hóa Gia Đình bệnh viện Từ Dũ để rút que cấy Implanon, thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và đồng ý tham gia nghiên cứu Họ sẽ được phỏng vấn theo bảng câu hỏi soạn sẵn nhằm thu thập các thông tin và đặc điểm dịch tễ, kinh tế xã hội, tiền sử ngừa thai, tiền sử sản khoa, thời gian sử dụng que cấy, các tác dụng phụ và lý do rút que chính

Kết quả: Tỷ lệ rút que Implanon sớm trước thời hạn (2 năm) là 51,04% Các lý do rút que chính gồm: muốn

có thai 25,4%; đổi biện pháp ngừa thai khác 32,5%; rong kinh rong huyết 16,2%; vô kinh 7,1%; tăng cân 6,1% và nổi mụn 2% Phản ứng tại vùng, rong kinh rong huyết, muốn có thai, đau vú và thay đổi tính tình là các yếu tố liên quan đến rút que Implanon sớm trước thời hạn

Kết luận: Cần tư vấn kỹ cho bệnh nhân trước khi cấy que Implanon, theo dõi và điều chỉnh các tác dụng phụ

nhằm làm giảm tỷ lệ rút que sớm trước thời hạn

Từ khóa: que cấy ngừa thai, etonogestrel, Implanon, tỷ lệ rút que sớm

ABSTRACT

PREVALENCE AND ASSOCIATED FACTORS OF EARLY DISCONTINUATION IMPLANON

AT TUDU HOSPITAL

Cao Huu Thinh, Võ Minh Tuan * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 21 - No 1 - 2017: 21 - 27

Background: Implanon insertion was dedicated for family planning in Vietnam since 2005 Nevertheless,

early removing Implanon would be affected negatively on medical cost-effectiveness

Objectives: To determine prevalence of early discontinuation Implanon and to identify if any it’s associated

factors among women who wanted to remove Implanon

Methods: A cross – sectional study was conducted from June 2015 to May 2016 gathered 386 women who

wanted to remove Imp anon at the Family planning unit of Tu Du Hospital Face-to-face interviewing using a structured questionnaire applied for collecting data that including factors: demographic socioeconomic, history of contraception, history of obstetrics, age, and date of insertion and removal of the Imp anon, side effects and main reasons stop using Implanon

Results: The prevalence of early Imp anon discontinuation was 51.04% Some main reasons for the early

discontinuation were: desiring pregnancy again (25.4%); switching to another contraceptive method without reason (32.5%); irregular bleeding (16.2%); amenorrhea (7.1%); gain weight (6.1%) and acne (2%) Reaction at site of insertion, irregular bleeding, desiring pregnancy, breast pain and changing mood of clients were the

* BM Sản, Đại học Y Dược Tp HCM

Trang 2

associated factors with early Implanon discontinuation

Conclusions: Carefully counseling before Implanon insertion, monitoring closely and lightening user’s side

effects should be carried to decrease Implanon discontinuation rate

Key words: contraceptive implant, etonogestrel, Implanon, early discontinuation rate

ĐẶT VẤN ĐỀ

Implanon, que cấy dưới da chỉ chứa

progestogen là một phương pháp ngừa thai mới

có từ năm 2005 Mỗi que cấy Implanon chứa 68

miligram etonogestrel có tác dụng ngừa thai

trong 3 năm cho mỗi lần cấy Nhìn chung, các

biện pháp ngừa thai chỉ chứa progestin được

đánh giá không chỉ có tính dung nạp tốt vì tránh

được những tác dụng phụ của estrogen(10), mà

còn tiện dụng, hiệu quả và an toàn(3,7) Que cấy

Implanon có tác dụng ngừa thai sớm trong vòng

24 giờ sau khi cấy que, và tác dụng ngừa thai

mất đi gần như tức thì ngay sau khi rút que

Theo nhiều nghiên cứu, chỉ số Pearl của que cấy

Implanon xấp xỉ bằng 0 trên 100 phụ

nữ-năm(4,6,10) Cũng như những biện pháp ngừa thai

khác, que cấy Implanon gây ra một số tác dụng

phụ trên người sử dụng như: vô kinh, xuất

huyết dạng chấm, rong kinh rong huyết, tăng

cân, đau vú, nổi mụn, viêm âm đạo, đau vùng

cấy que (4,7,11) Trong các tác dụng phụ trên, ra

huyết âm đạo bất thường là nguyên nhân gây

rút que trước hạn thường gặp nhất, ngoài ra còn

các nguyên nhân khác như vô kinh, nổi mụn,

sạm da, tăng cân(4)

Que cấy Implanon được hãng Organon

giới thiệu ra thị trường vào năm 1998 Năm

1999, một thử nghiệm lâm sàng được thực

hiện trên 120 khách hàng ở Thanh Hóa và Hòa

Bình trong 3 năm để đánh giá hiệu quả của

Implanon Dựa vào kết quả lâm sàng này, Bộ

Y tế chấp thuận cho phép lưu hành biện pháp

ngừa thai này tại Việt Nam từ năm 2003 Ước

tính mỗi năm có khoảng 25000 que cấy

Implanon được sử dụng tại Việt Nam Tại

bệnh viện Từ Dũ, phương pháp ngừa thai

bằng que cấy Implanon được áp dụng từ năm

2008 Trong năm đầu tiên, có 88 trường hợp

cấy que, số trường hợp cấy que Implanon tăng

lên mỗi năm và đạt 1070 trường hợp cấy que trong năm 2014 Song song với việc cấy que, số

ca rút que cấy Implanon cũng tăng dần: 40 trường hợp (2008) và 315 trường hợp (2014), bao gồm rút que cấy đúng hạn và rút que cấy trước hạn Việc phải rút que cấy tránh thai ra sớm trước hạn vì các tác dụng phụ để chuyển qua một biện pháp ngừa thai khác sẽ gây lãng phí thời gian và tài chính cho người sử dụng Cho đến thời điểm này vẫn chưa có nghiên cứu nào về biện pháp ngừa thai này Nhằm đánh giá biện pháp ngừa thai bằng que cấy Implanon có phù hợp với người Việt Nam hay không, chúng tôi xin tiến hành nghiên cứu này

với câu hỏi nghiên cứu: “Trong số khách hàng

tới rút que cấy Implanon, tỷ lệ rút que cấy Implanon trước hạn là bao nhiêu?”

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính: Xác định tỷ lệ rút que cấy tránh thai Implanon sớm trước thời hạn trên tổng số khách hàng tới rút que cấy tránh thai tại bệnh viện Từ Dũ?

Mục tiêu phụ:Xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng rút que cấy tránh thai Implanon sớm trước thời hạn

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang

Dân số nghiên cứu

Dân số mục tiêu

Phụ nữ ngừa thai bằng que cấy Implanon tại thành phố Hồ Chí Minh

Dân số nghiên cứu

Phụ nữ ngừa thai bằng Implanon đến rút que tại khoa Kế Hoạch Hóa Gia Đình (KHHGĐ) bệnh viện (BV) Từ Dũ

Trang 3

Dân số chọn mẫu

Phụ nữ ngừa thai bằng que cấy Implanon

đến rút que tại khoa KHHGĐ BV Từ Dũ từ

tháng 06/2015 đến 05/2016, đồng thuận tham gia

nghiên cứu

Tiêu chuẩn nhận vào

Những phụ nữ ngừa thai bằng phương pháp

cấy que Implanon muốn rút que Nghe và hiểu

tiếng Việt Người tham gia nghiên cứu có tinh

thần thoải mái, tình trạng sức khỏe tốt cho phép

tiến hành cuộc phỏng vấn, đồng ý ký vào: “Bảng

đồng thuận tham gia nghiên cứu”

Định nghĩa rút que trước hạn: phụ nữ ngừa thai

bằng que cấy Implanon muốn ngưng sử dụng biện

pháp này vì bất kỳ lý do nào bằng cách rút que (<2

năm) (3, 5, 8)

Tiêu chuẩn loại trừ

Không thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu

Những người muốn đến rút que bị tâm thần

Cỡ mẫu

2

2 2 / 1 d

p 1 p Z

α: xác suất sai lầm loại I, α = 0,05

p: tỷ lệ ước lượng rút que Implanon trước hạn Chúng tôi

chọn p = 0, 50 để có cỡ mẫu lớn nhất

d: độ chính xác tuyệt đối, d = 0,05 → n = 386

Phương pháp nhận bệnh và thu thập số liệu

Chọn mẫu toàn bộ cho đến khi đủ mẫu cần

thiết theo thiết kế nghiên cứu Theo đó, vào tất cả

các ngày trong tuần trừ chủ nhật & ngày lễ, tại

phòng khám ở khoa KHHGĐ BV Từ Dũ, chúng

tôi sẽ mời những phụ nữ muốn rút que cấy

Implanon thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu tham gia

nghiên cứu

Chúng tôi tập huấn cho 3 cộng tác viên đồng

thời cũng là nữ hộ sinh đang công tác tại khoa

KHHGĐ cùng tham gia phỏng vấn

Cách tiến hành và thu thập số liệu

Bước 1: Tiến hành phỏng vấn thử bảng câu hỏi (Pilot

study)

Đầu tiên, chúng tôi tiến hành phỏng vấn

thử 10 khách hàng muốn rút que Implanon, nhằm mục đích chỉnh sửa từ ngữ bảng câu hỏi phù hợp, dễ hiểu hơn Thông tin phỏng vấn thử 10 bảng câu hỏi không lấy vào số liệu

bảng câu hỏi, chúng tôi bổ sung thêm vào bảng câu hỏi các nguyên nhân rút que cấy Implanon trước thời hạn bao gồm thay đổi tính tình, có thai, que lạc chỗ, khô âm đạo, giảm ham muốn tình dục nhằm giúp bệnh nhân dễ hiểu, dễ đưa ra câu trả lời, tránh những sai sót do bệnh nhân quên hoặc sai sót

do không biết từ ngữ chuyên ngành y khoa

Bước 2: Sàng lọc và thu nhận đối tượng nghiên cứu

Tất cả những phụ nữ ngừa thai bằng que cấy Implanon muốn đến khoa KHHGĐ BV Từ Dũ

để rút que sẽ được lấy số thứ tự khám, khám, tư vấn và làm thủ thuật rút que theo đúng phác đồ tại BV Từ Dũ Tổng số phòng khám tại khoa KHGĐ có 3 phòng khám, 2 phòng tư vấn trên cùng một tầng lầu thứ 4 của tòa nhà M, hàng ngày, từ 7 giờ sáng đến 16 giờ 30 vào tất cả các ngày trong tuần (trừ chủ nhật và ngày lễ vì hai ngày này không có người đến rút que) Từ 01/06/2015 đến 31/05/2016, tại khoa KHHGĐ BV

Từ Dũ, khi có khách hàng đến khoa để rút que cấy, khách hàng sẽ đăng ký khám tại quầy tiếp tân, sau đó được chuyển vào phòng khám để bác

sỹ khám, nếu khách hàng có chỉ định rút que nữ

hộ sinh sẽ báo cho tác giả

Bước 3: Tư vấn về nghiên cứu và để bệnh nhân ký cam kết đồng thuận tham gia nghiên cứu

Chúng tôi sẽ mời bệnh nhân vào phòng tư vấn số 1 của khoa KHHGĐ, phòng này tách biệt với các phòng khám khác trong khoa, có kê sẵn bàn và ghế thuận tiện cho việc phỏng vấn Phòng có không gian riêng nên đảm bảo những thông tin trả lời phỏng vấn được bảo mật Tại đây, chúng tôi sẽ mời khách hàng muốn rút que Implanon tham gia nghiên cứu bằng cách giải thích về mục đích nghiên cứu cũng như các quyền lợi và nghĩa vụ của bệnh nhân khi tham gia nghiên cứu Quy trình khám, điều trị và chăm sóc bệnh nhân vẫn được tuân thủ theo

Trang 4

phác đồ điều trị hiện đang áp dụng tại bệnh viện

Từ Dũ Từ đó bệnh nhân có thể quyết định đồng

ý tham gia nghiên cứu hay không Trong quá

trình tư vấn nghiên cứu, để bệnh nhân ký cam

kết đồng thuận tham gia nghiên cứu và phỏng

vấn theo bảng câu hỏi

Bước 4: Tiến hành phỏng vấn, thu thập số liệu

Sau khi bệnh nhân ký vào bảng cam kết

đồng thuận tham gia nghiên cứu, tại phòng tư

vấn chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp

bệnh nhân theo bảng câu hỏi khảo sát các yếu tố

liên quan Người phỏng vấn sẽ hỏi trực tiếp, câu

trả lời của bệnh nhân sẽ được người phỏng vấn

viết vào bảng thu thập số liệu theo ý bệnh nhân

Với những bệnh nhân không biết đọc, tác giả sẽ

đọc cho bệnh nhân nghe từng câu và điền vào

bảng câu hỏi theo ý của bệnh nhân Thời gian

phỏng vấn dự kiến kéo dài 10-15 phút đối với

mỗi trường hợp

Bước 5

Sau khi đã tiến hành phỏng vấn thu thập số

liệu, bệnh nhân được hướng dẫn rút que tại

phòng kỹ thuật, khoa KHHGĐ Tác giả và các

bác sĩ khoa KHHGĐ trực tiếp rút que cấy

Implanon, thời gian thực hiện trung bình khoảng

15 phút Sau khi rút que Implanon xong, bệnh

nhân được cấp thuốc giảm đau và được dặn dò

tái khám một tháng sau

Bước 6: Nhập, làm sạch và phân tích số liệu

Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê Stata

10.0 Phân tích gồm 2 bước: Bước 1: mô tả và

phân tích đơn biến bằng hồi quy Logistic Bước

2: phân tích đa biến bằng hồi quy Logistic nhằm

kiểm soát các yếu tố gây nhiễu Sử dụng khoảng

tin cậy 95%

KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Tỷ lệ rút que Implanonon sớm trước thời

hạn là 51,04% (KTC 95% = 46,05 – 56,03), hơi

cao hơn so với tỷ lệ rút que Implanon đúng

thời hạn Tỷ lệ rút que cấy Implanon ở từng

thời điểm 6 tháng, 12 tháng, 18 tháng, 24

tháng, 36 tháng và sau 36 tháng lần lượt là

9,84%; 19,2%; 12,2%; 9,8%; 43,8% và 5,2% Tại

thời điểm 6 tháng, kết quả nghiên cứu của

chúng tôi giống với kết quả nghiên cứu của Croxatto(3) và Amanda(2) nhưng cao hơn tỷ lệ rút que của Caroline(8)

Bảng 1: Tỷ lệ rút que Implanon trước thời hạn theo

thời gian

Thời gian cấy que Tần số Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ rút que cộng dồn

Tại thời điểm 12 tháng, tỷ lệ rút que Implanon sớm của chúng tôi tương đương với kết quả của Anjali(1) nhưng cao hơn kết quả báo cáo của Croxatto(3), Amanda(2) và Caroline(8) Tại thời điểm 24 tháng, trong đa số các nghiên cứu,

tỷ lệ rút que cấy Implanon sớm đều trên 50%, chỉ

có trong nghiên cứu của Croxatto, tỷ lệ rút que cấy Implanon sớm thấp hơn 31%(3) Như vậy, chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt lớn về

tỷ lệ rút que cấy Implanon trước thời hạn trong nghiên cứu của chúng tôi so với kết quả của các nghiên cứu khác trên thế giới Hơn 50% phụ nữ ngừa thai bằng que cấy Implanon đã rút que cấy sớm trước 24 tháng Đây là một tỷ lệ khá cao Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành phân tích tìm mối liên quan giữa thời điểm rút que với các đặc điểm của dân số nghiên cứu nhằm xác định nguyên nhân gây rút que Implanon trước hạn

Bảng 2 Lý do chính gây rút que trước hạn

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tác dụng phụ tăng cân, nổi mụn và thay đổi tính tình chiếm tỷ lệ lần lượt là 22,3%; 19,9%; và 23,6% Trong ba tác dụng phụ này, chỉ có những đối tượng bị thay đổi tính tình có nguy cơ rút que cấy Implanon sớm gấp 2,3 lần (p=0,009) Tuy nhiên thay đổi tính tình lại không phải là lý do chính khiến người sử dụng quyết định rút que

Trang 5

Implanon trước hạn Và tỷ lệ phụ nữ rút que

cấy Implanon trước hạn vì tăng cân hay nổi

mụn khá thấp, chỉ 0,3% và 0,1% Có thể là do

trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, mức độ

tăng cân và nổi mụn diễn ra không trầm trọng,

nên người sử dụng chấp nhận hoặc dung nạp

được những tác dụng phụ này sau một thời

gian cấy que Implanon

Theo kết quả nghiên cứu, chúng tôi tìm thấy

có 6 nguyên nhân là lý do chính gây rút que

trước thời hạn bao gồm: muốn đổi biện pháp

ngừa thai khác, muốn sinh thêm con, rong kinh

rong huyết, vô kinh, tăng cân và nổi mụn; trong

đó muốn đổi biện pháp ngừa thai khác chiếm tỷ

lệ cao nhất 32,5% Kết quả nghiên cứu của chúng

tôi không mâu thuẫn so với các kết quả nghiên

cứu khác trên thế giới Vì trong các nghiên cứu

về ảnh hưởng của que cấy Implanon lên người

sử dụng, đa số các tác giả tập trung vào việc xác

định những tác dụng phụ nào là lý do rút que

chính gây rút que trước thời hạn

Ngừa thai bằng que cấy Implanon là một

biện pháp ngừa thai đắt tiền, rong kinh rong

huyết mặc dù là tác dụng phụ chiếm tỷ lệ nhiều

nhất nhưng tác dụng phụ xảy ra không trầm

trọng và có thể điều trị được nên đa số phụ nữ

chấp nhận tiếp tục sử dụng thay vì phải rút que

cấy sớm và đổi biện pháp ngừa thai khác Thêm

vào đó là có thể vào thời điểm cấy que Implanon,

đối tượng có lẽ chưa được tư vấn kỹ về hiệu quả

tránh thai, các tác dụng phụ có thể xảy ra trong

thời gian sử dụng que cấy Vì vậy, sau khi được

cấy que Implanon, việc xuất hiện nhiều tác dụng

phụ khiến người sử dụng cảm thấy không thuận

tiện, không an tâm nên muốn đổi sang biện pháp

ngừa thai khác

Phân tích yếu tố liên quan

Đa số các nghiên cứu về tác dụng và hiệu

quả của que cấy Implanon đều báo cáo ra huyết

âm đạo bất thường bao gồm vô kinh, rong kinh,

rong huyết là tác dụng phụ thường gặp nhất và

cũng là nguyên nhân gây rút que cấy trước hạn

nhiều nhất Người dùng que cấy Implanon

dụng vì ra huyết âm đạo bất thường Tần suất ra huyết âm đạo bất thường do cấy que Implanon

là 45%, tỷ lệ rút que trước hạn vì nguyên nhân này là 14%(12) Theo báo cáo của Croxatto(4), tỷ lệ người sử dụng que cấy rút que cấy Implanon trong 2 năm đầu sử dụng vì rong kinh rong huyết là 17%

Bảng 2 Phân tích đa biến giữa các đặc điểm và rút

que trước hạn

Đặc điểm

Rút que đúng hạn (N = 189)

Rút que trước hạn (N = 197) PR* P* Muốn sinh thêm con

Khô âm đạo

Rong huyết

Giao hợp đau

Phản ứng tại chổ

Vô kinh

Đau đầu

Đau vú

Nổi mụn

Thay đổi tính tình

Theo nghiên cứu của chúng tôi, rối loạn kinh nguyệt sau cấy que chiếm tỷ lệ khá cao 86%, trong đó rong kinh rong huyết 39,9% và vô kinh 46,1% Những phụ nữ ngừa thai bằng que cấy Implanon bị rong kinh rong huyết có nguy cơ rút que trước hạn cao gấp 1,65 lần so với những phụ

nữ cấy que Implanon không bị tác dụng phụ này (p=0,041) Tỷ lệ đối tượng rút que cấy trước hạn

Trang 6

vì rong kinh rong huyết, và vô kinh lần lượt là

23,3% và 21,8%

Trong 171/386 người bị tăng cân trong thời

gian cấy que, có 86 đối tượng rút que sớm vì

tăng cân, chiếm tỷ lệ 2,2% Tuy nhiên chúng tôi

không tìm thấy mối liên quan giữa tăng cân và

rút que trước hạn (OR=0,95, p=0,794) Kết quả

nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với kết

quả của nhiều nghiên cứu trên thế giới Theo các

nghiên cứu khác, tỷ lệ rút que Implanon trước

hạn vì lý do tăng cân dao động trong khoảng từ

3% đến 7% trong các dân số không phải người

châu Á(9)

Theo báo cáo của các nghiên cứu thử nghiệm

lâm sàng, các rối loạn tâm lý bao gồm trầm cảm,

thay đổi tính tình, lo âu gặp ở 3%-14% phụ nữ

cấy que Implanon Trong đó, thay đổi tính tình là

rối loạn tâm lý thường gặp nhất(7,5) Trong nghiên

cứu của chúng tôi, tỷ lệ thay đổi tính tình sau khi

cấy que là 23,6% Trong đó, phụ nữ dùng que

cấy Implanon bị thay đổi tính tình có nguy cơ rút

que cấy trước hạn gấp 2,3 lần so với đối tượng

không bị thay đổi tính tình (p=0,009) Như vậy,

que cấy Implanon gây ảnh hưởng tâm lý đến

dân số nghiên cứu của chúng tôi nhiều hơn so

với các dân số nghiên cứu khác Cần có thêm

nghiên cứu trong tương lai về diễn tiến và mức

độ ảnh hưởng tâm lý của que cấy Implanon đến

người sử dụng; cũng như cần tư vấn kỹ hơn cho

khách hàng về những tác dụng phụ này trước

khi cấy que Implanon

Bên cạnh rong kinh rong huyết, tăng cân, nổi

mụn, ảnh hưởng tâm lý và đau đầu, các tác dụng

phụ khác gồm ngứa, giao hợp đau, đau vú và

viêm âm đạo cũng là những tác dụng phụ

thường gặp trong nghiên cứu của chúng tôi Tỷ

lệ ngứa, giao hợp đau, đau vú và viêm âm đạo

lần lượt là 20,7%; 26,4%; 29,8%; và 24,9% Người

sử dụng que cấy Implanon bị ngứa, hoặc giao

hợp đau đều có nguy cơ rút que sớm với PR lần

lượt là 2,28; 2,28 (p<0,05), ngược lại những phụ

nữ cấy que Implanon gặp tác dụng phụ đau vú

hoặc viêm âm đạo ít nguy cơ rút que sớm hơn

với PR lần lượt là 0,37; 0,43 (p<0,05) Trong một

nghiên cứu đa trung tâm đánh giá hiệu quả và

độ an toàn của biện pháp ngừa thai bằng Implanon ở các nước châu Âu, tỷ lệ ngứa, giao hợp đau, đau vú và viêm âm đạo lần lượt là 3,5%, 5,5%, 14,8%, và 15%(3) Theo báo cáo của Darney, các tác dụng phụ ngứa, giao hợp đau, đau vú chiếm tỷ lệ lần lượt là 2,1%, 0,4%, 0,3%(5)

KẾT LUẬN -KIẾN NGHỊ

1 Tỉ lệ rút que cấy tránh thai Implanon trước thời hạn (2 năm) là 51,04% (KTC 95%

=46,05 – 56,03)

2 Số liệu nghiên cứu chỉ ra một số yếu tố liên quan sau

Nhóm có phản ứng tại vùng cấy tăng nguy

cơ rút que cấy tránh thai trước hạn gấp 1,63 lần (1,03-2,58) so với nhóm không có phản ứng tại vùng cấy, (P< 0,05) Nhóm có rong huyết tăng nguy cơ rút que cấy tránh thai trước hạn gấp 1,65 lần (1,02-2,66) so với nhóm không rong huyết, (P< 0,05) Nhóm muốn sinh thêm con tăng nguy

cơ rút que cấy tránh thai trước hạn gấp 2,1 lần (1,35-3,26) so với nhóm không muốn sanh thêm con, (P< 0,05) Nhóm có đau vú giảm nguy cơ rút que cấy tránh thai trước hạn gấp 1,56 lần (0,13-0,50) so với nhóm không đau vú, (P<0,05) Nhóm

có thay đổi tính tình tăng nguy cơ rút que cấy tránh thai trước hạn gấp 2,3 lần (1,23-4,36) so với nhóm không thay đổi tính tình, (P< 0,05)

Nhằm hạ thấp tỷ lệ rút que cấy tránh thai trước thời hạn vì các tác dụng ngoại ý chúng tôi

đề xuất một số ý kiến sau:

- Cần dành nhiều thời gian tư vấn giúp người sử dụng hiểu rõ về những ưu khuyết điểm , hiệu quả ngừa thai và tác dụng ngoại ý

Từ đó giúp họ có thể theo dõi tốt hơn, điều trị các tác dụng ngoại ý trong thời gian cấy que nhằm giảm tình trạng rút que trước hạn

- Tiến hành thêm những nghiên cứu tiền cứu sâu hơn trong thời gian cấy que về tác dụng ngoại ý như: rong kinh, rong huyết, vô kinh, tăng cân, nổi mụn, thay đổi tính tình, những phản ứng phụ tại nơi que cấy để đánh giá chính

Trang 7

xác hơn mối liên hệ giữa các yếu tố này và tình

trạng rút que sớm

- Cán bộ y tế cũng cần quan tâm và theo dõi

sát những bệnh nhân cấy que Implanon nhằm

phát hiện, điều trị sớm những tác dụng ngoại ý

TÀI LIỆU THAM KHẢO

3 years’ use of Implanon® in Luton" J Fam Plann Reprod

Health Care, 31 (4)

Implanon in thress community services" The Journal of

Family Planning and Reproductive Health Care, 28 (4), pp

193-196

study of the single contraceptive implant Implanon"

Human Reproduction, 14 (4), pp 976-981

rod etonogestrel contraceptive implant" Eur J Contracept

Reprod Health Care, 2 (2), pp 21-28

5 Darney P, Patel A, Rosen K, Shapiro LS, Kaunitz AM (2009),

"Safety and efficacy of a single-rod etonogestrel implant

(Implanon): results from 11 international clinical trials"

Fertility and Sterility, 91 (5), pp 1646-1653

a new century" International Journal of Gynecology and

Obstetrics, 48 (3), pp 349

NJ: Organon USA, Inc

8 Harvey C, Seib C, Lucke J (2009), "Continuation rates and reasons for removal among Implanon® users accessing

two family planning clinics in Queensland, Australia"

Contraception, 80 (6), pp 527-532

Implant" Clinical Obstetrics and Gynecology, 50 (4), pp

907-917

contraception" Semin Reprod Med, 19 (4), pp 338-354

implanon on menstrual bleeding pattern" Eur J Contracept

Reprod Health Care, 13(1), pp 13-28

al (2006), "Abortion Surveillance - United States, 2003"

Centers for Disease Control and Prevention MMWR Surveill Summ, 55 (11), pp 1-32

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/12/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm