1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu giải phẫu ứng dụng động mạch xuyên vách da xuất phát từ động mạch chày sau

5 65 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 273,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của nghiên cứu này nhằm xác định các đặc điểm giải phẫu hình thái các nhánh xuyên da xuất phát từ động mạch chày sau.

Trang 1

NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU ỨNG DỤNG ĐỘNG MẠCH XUYÊN VÁCH DA

XUẤT PHÁT TỪ ĐỘNG MẠCH CHÀY SAU

Nguyễn Văn Thạnh*, Đỗ Phước Hùng**, Bùi Hồng Thiên Khanh *,**

TÓM TẮT

Mở đầu: Vạt cuống mạch xuyên (VCMX) từ động mạch chày sau (ĐMCS) được sử dụng để che phủ các

khuyết hổng ở vùng cẳng chân, với nhiều ưu điểm như: không phải hy sinh động mạch lớn, chất liệu che phủ tốt, tin cậy và có thể che phủ diện lớn Nhưng các dữ liệu về cơ sở giải phẫu của các nhánh xuyên da từ ĐMCS chưa hoàn thiện Do vậy, đòi hỏi cần phải có một nghiên cứu giải phẫu để hướng dẫn lấy vạt hiệu quả và an toàn hơn

Mục tiêu: Mục đích của nghiên cứu này nhằm xác định các đặc điểm giải phẫu hình thái các nhánh xuyên

da xuất phát từ động mạch chày sau

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca Phẫu tích 30 cẳng chân từ 8 xác tươi đông lạnh

và 14 cẳng chân của chi cắt cụt đùi Cẳng chân được chia thành 3 vùng mạch máu Đo lường các thông số liên quan đến mốc giải phẫu Các dữ liệu liên quan đến số lượng, phân bố, loại, đường kính ngoài, chiều dài và khoảng cách các nhánh xuyên đến mắt cá trong, hướng xuyên cân được thu thập

Kết quả: Kết quả của chúng tôi ghi nhận có 161 nhánh xuyên (trung bình 5,4 nhánh/ cẳng chân; Đường

kính trung bình của các nhánh xuyên là 1,0 mm) Phần lớn là nhánh xuyên vách da (134/161), nhánh xuyên cơ

da (27/161) Hầu hết tập trung chủ yếu ở 1/3 giữa cẳng chân (82/161) và 1/3 xa cẳng chân (65/161) Không có nhánh xuyên cơ da ở phần ba cẳng chân, trong khi các nhánh xuyên vách da tìm thấy ở tất cả phần ba cẳng chân Trung bình có 2 tĩnh mạch đi kèm mỗi nhánh xuyên

Kết luận: Hiểu biết về các đặc điểm giải phẫu hình thái các nhánh xuyên da xuất phát từ động mạch chày

sau giúp phẫu thuật viên thiết kế, lấy vạt hiệu quả và an toàn hơn

Từ khóa: động mạch chày sau, nhánh xuyên vách da từ động mạch chày sau, vạt cuống mạch xuyên, vạt cánh quạt

ABSTRACT

THE ANATOMICAL STUDY OF POSTERIOR TIBIAL ARTERY PERFORATORS

Nguyen Van Thanh, Do Phuoc Hung, Bui Hong Thien Khanh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 191-195

Background: The posterior tibial artery perforator (PTAP) flap is used in soft-tissue reconstruction of the

lower leg because of its advantage: the posterior tibial artery preservation, good material, reliable, covering large area The systemic collection data of PTAP has not been done Therefore, an anatomical study is required to giude the effective and safe harvest of PTAP flap

Objectives: The aim of this study is to dertemine anatomical basic of PTAP

Materials and methods: A case series study design was used Dissections in thirty lower legs from eight

fresh human cadaver and 14 amputated lower extremities The lower leg was divided into 3 equal vascular zones Measurements were taken in reference to anatomical landmarks Data regarding the number, distribution, type, external diameter, length from posterior tibial artery, distance, and subfascial directionality were collected

Results: A total of 161 perforators were identified (average number 5,4 per lower leg; average diameter 1.0

* Khoa Chấn thương Chỉnh hình Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

** Bộ môn Chấn thương chỉnh hình – Phục hồi chức năng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

mm) Septocutaneous (134/161) perforators predominated, followed by musculocutaneous (27/161) Most was concentrated in the middle (82/161) and distal (65/161) tertile There were no musculocutaneous perforators at the distal third of the leg, whereas septocutaneous perforators were encountered into all vascular tertiles An average of 2 comitant veins accompanied each perforator

Conclusions: Knowledge of anatomical basic of PTAP help surgeon to design and harvest flap effeciently

and safely

Keyword: posterior tibial artery, posterior tibial artery septocutaneous perforator, perforator flaps,

propeller flaps

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khuyết hổng phần mềm vùng cẳng bàn chân

xuất hiện ngày càng nhiều và mức độ nặng ngày

càng tăng Việc che phủ sớm là chìa khóa thành

công và phục hồi chức năng

Trong nghiên cứu gần đây, nhiều phẫu thuật

che phủ dựa trên các vạt có nhánh xuyên da từ

động mạch chày sau (ĐMCS) Vạt có thể sử

dụng dưới dạng vạt cân mỡ, vạt cuống mạch

xuyên, vạt cánh quạt, hoặc vạt tự do(4) để che

phủ khuyết hổng mô mềm Yếu tố quyết định

thành công khi thiết kế vạt da là hiểu rõ giải

phẫu cuống mạch nuôi, trục của vạt da, diện tích

cấp máu

Trên thế giới các nghiên cứu mạch xuyên

xuất phát từ ĐMCS có nhiều sự khác nhau trong

mô tả về số lượng, kích thước nhánh xuyên,

cũng như vị trí nhánh xuyên ưu thế thay đổi

theo từng tác giả, thiếu các dữ liệu toàn diện của

nhánh xuyên (nguyên ủy, đường đi, hướng

xuyên cân, chiều dài, đường kính ngoài, vị trí so

với mốc giải phẫu) Ở Việt Nam chúng tôi chưa

thấy có nghiên cứu nào về mạch xuyên vách da

xuất phát từ ĐMCS ở người Việt Nam Do đó,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Với thiết kế nghiên cứu mô tả hàng loạt ca,

chúng tôi tiến hành phẫu tích 30 cẳng chân,

trong đó 16 cẳng chân từ 8 xác tươi người Việt

Nam trưởng thành tại Bộ môn Giải phẫu ĐHYD

TPHCM và 14 cẳng chân từ phần chi cắt cụt trên

gối tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Chia vùng cẳng chân thành ba đoạn bằng

nhau Các cẳng chân được phẫu tích dưới hỗ trợ

kính lúp độ phóng đại 3 lần, xác định sự hiện

diện, vị trí, phân bố, chiều dài, đường kính ngoài của các nhánh xuyên từ ĐMCS, đếm số tĩnh mạch tùy hành Sau đó xác định khoảng cách từ

vị trí xuyên cân của các nhánh xuyên đến mắt cá trong và bờ trong xương chày, góc xuyên cân

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Số lượng các nhánh xuyên

Phẫu tích 30 cẳng chân thấy có tổng số 161 nhánh xuyên da từ động mạch chày sau Số nhánh xuyên da từ động mạch chày sau trung bình là 5,4 ± 1,0 nhánh/ cẳng chân

Vị trí và loại nhánh xuyên

Hầu hết các nhánh xuyên tập trung ở 1/3 giữa cẳng chân (50,9%) và 1/3 xa cẳng chân (40,4%) Ở 1/3 giữa cẳng chân nhánh xuyên vách da gấp 3 lần nhánh xuyên cơ da Tất cả các nhánh xuyên ở 1/3 xa cẳng chân là nhánh xuyên vách da Phần lớn là nhánh xuyên vách

da (134/161), theo sau là nhánh xuyên cơ da (27/161)

Bảng 1: Phân bố số nhánh xuyên theo loại nhánh

xuyên và phần ba cẳng chân

Loại nhánh xuyên

N=161(100%)

Đặc điểm tĩnh mạch đi kèm các nhánh xuyên

Hầu hết các nhánh xuyên có 2 tĩnh mạch (TM) đi kèm chiếm 84,5%, có 4 (2,4%) nhánh xuyên có 3 TM đi kèm và 2 (1,24%) nhánh xuyên không có TM đi kèm ở phần ba dưới cẳng chân

Ở hai phần gần cẳng chân, các TM đi kèm nhánh

Trang 3

xuyên đổ vào TM hiển lớn và 02 TM đi kèm của

ĐMCS Ở phần ba xa cẳng chân, các TM đi kèm

nhánh xuyên đổ vào TM đi kèm của ĐMCS

Khoảng cách đến đỉnh mắt cá trong xương chày

Khoảng cách từ điểm xuyên cân của nhánh

xuyên đến đỉnh mắt cá trong ở mẫu nghiên cứu

trung bình là 13,7 ± 6,7 cm có độ phân tán rộng

Khoảng cách đến bờ trong xương chày

Khoảng cách trung bình từ điểm xuyên cân

của nhánh xuyên đến bờ trong xương chày

(BTXC) ở mẫu nghiên cứu là 1,30 ± 0,61 cm

Khoảng cách trung bình từ điểm xuyên cân của

nhánh xuyên đến BTXC ở phần ba gần cẳng

chân là 1,47 cm (0,3- 3,6 cm), phần ba giữa cẳng

chân là 1,24 cm (0,3- 3,1 cm), phần ba xa cẳng

chân là 1,33 cm

Chiều dài nhánh xuyên

Chiều dài trung bình của các nhánh xuyên

trong mẫu nghiên cứu là 2,4 ± 1,0 cm Trong mẫu

nghiên cứu của chúng tôi, chiều dài trung bình

của các nhánh xuyên có khuynh hướng giảm

dần khi đi từ đoạn gần đến đoạn xa của mặt

trong cẳng chân (trung bình từ 3,4 đến 1,4 cm)

Đường kính ngoài nhánh xuyên

Đường kính ngoài (ĐKN) trung bình của

các nhánh xuyên trong nghiên cứu là 1,0 ± 0,3

cm Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi,

ĐKN trung bình nhánh xuyên lớn nhất ở phần

ba giữa cẳng chân (1,2 mm) và giảm về 2 phía

đoạn gần (1,1 mm), đoạn xa của mặt trong

cẳng chân (0,7 mm)

Góc xuyên cân

Góc xuyên cân trong mẫu nghiên cứu trung bình là 85 độ (60-105 độ), có khuynh hướng tăng dần khi đi từ đoạn gần đến đoạn xa của mặt trong cẳng chân (trung bình từ 80 đến 90 độ)

BÀN LUẬN

Số lượng nhánh xuyên

Nghiên cứu chúng tôi có tất cả 161 nhánh xuyên được xác định qua quan sát trực tiếp khi phẫu tích Trung bình mỗi cẳng chân có 5,4 ± 1,0 nhánh xuyên, dao động từ 3 đến 8 nhánh Kết quả nghiên cứu của chúng tôi so sánh với các

nghiên cứu khác ghi nhận trong Bảng 2

Qua bảng so sánh, dễ thấy số nhánh xuyên trung bình được ghi nhận trong nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của các tác giả Drimouras G, Schaverien M, Hung LK Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi nhỏ hơn so với các nghiên cứu của Hupken P với số nhánh xuyên trung bình tương ứng 5,4 ± 1,0 (chúng tôi) so với 6,4 ±2,4 (Hupken P) Đó có thể

là sự khác biệt về chủng tộc Sự khác biệt cũng có thể do khác nhau ở cách chọn mẫu, hay khác ở cách thức đo đạc

Trong các nghiên cứu của Tanaka K(9), Yu

D(10) cho kết quả lần lượt 2,3 nhánh và 4,17 nhánh nhỏ hơn so với chúng tôi (5,4 nhánh) Tác giả này chỉ ghi nhận các nhánh xuyên có đường kính ngoài > 0,5mm, nghiên cứu của Tanaka K thực hiện trên xác ướp formalin

Bảng 2: Đặc điểm nhánh xuyên da từ động mạch chày sau từ các nghiên cứu

mẫu

ĐKN (mm)

Chiều dài (cm)

Đặc điểm tĩnh mạch đi kèm các nhánh xuyên

Mỗi nhánh xuyên thường có 2 hoặc thỉnh

thoảng 1 TM đi kèm, có 2 (1,24%) nhánh xuyên

không có TM đi kèm ở phần ba dưới cẳng chân Kết quả của chúng tôi tương tự kết quả nghiên cứu của Schaverien M(8), có 2 TM đi kèm mỗi

Trang 4

nhánh xuyên Tuy nhiên tác giả này không ghi

nhận trường hợp không có TM đi kèm

Nghiên cứu của Ghali S(3) phẫu tích trên 40

cẳng chân xác tươi, báo cáo có hơn 7% (3/40)

nhánh xuyên không có TM đi kèm

Khoảng cách đến đỉnh mắt cá trong xương chày

Kết quả của chúng tôi tương đồng với

nghiên cứu của Drimouras G(2), với khoảng

cách trung bình từ điểm xuyên cân của nhánh

xuyên đến đỉnh mắt cá trong (MCT) trung

bình là 13,8 ± 7,3 cm Khoảng cách đến đỉnh

MCT thay đổi qua các nghiên cứu Điều này có

thể giải thích bởi sự khác nhau về chủng tộc,

cách đo, cũng như nghiên cứu khác nhau về

loại nhánh xuyên và sự không hằng định về vị

trí của nhánh xuyên da từ ĐMCS

Nhóm nhánh xuyên cơ da có phân bố cách

xa đỉnh MCT hơn so với nhánh xuyên vách da

lần lượt là 21,2 cm (15,2-28) và 11,3 cm (2,4-24)

Nghiên cứu của Drimouras G(2) với kết luận

nhóm nhánh xuyên cơ da (21,3± 5,3 cm) có phân

bố cách xa đỉnh mắt cá trong hơn so với nhánh

xuyên vách da (12,3±6,9 cm)

Khoảng cách đến bờ trong xương chày

Trong nghiên cứu chúng tôi, khoảng cách

trung bình từ điểm xuyên cân của nhánh xuyên

đến bờ trong xương chày (BTXC) ở mẫu nghiên

cứu là 1,30 ± 0,61cm Xét theo phần ba cẳng chân,

khoảng cách ở phần ba gần, giữa, xa lần lượt là

1,47 cm (0,3- 3,6 cm), 1,24 cm (0,3- 3,1 cm), 1,33

cm (0,7-1,8 cm) Các nghiên cứu không thấy ghi

nhận khoảng cách trung bình từ điểm xuyên cân

của nhánh xuyên đến BTXC

Theo loại nhánh xuyên trong nghiên cứu

chúng tôi, khoảng cách của nhánh xuyên vách

da nhỏ hơn nhánh xuyên cơ da với giá trị trung

bình lần lượt là 1,25 cm và 2 cm Điều này cũng

không ghi nhận trong các nghiên cứu khác

Chiều dài nhánh xuyên

Kết quả của chúng tôi tương tự kết quả

nghiên cứu của Drimouras G(2), với chiều dài

nhánh xuyên trung bình là 2,3 cm (0,5-8,7)

Nhưng ngắn hơn so với các nghiên cứu của tác

giả Hupken P(6), Schaverien M(8) có chiều dài trung bình lần lượt là 4,9±3,6, 3,2±1,8

Chiều dài trung bình nhánh xuyên giảm dần

từ phần ba gần cẳng chân đến phần ba xa lần lượt 3,4 ± 0,5 cm, 3,0 ± 0,6 cm, 1,4 ± 0,6 cm Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Drimouras

G(2), tác giả ghi nhận: chiều dài trung bình các nhánh xuyên phần ba gần cẳng chân có lớn nhất

là 4,0 (3,0-6,2) cm và có khuynh hướng giảm dần khi đi từ phần ba gần đến phần ba xa cẳng chân (4,0 đến 1,3 cm)

Đường kính ngoài nhánh xuyên

ĐKN trung bình của các nhánh xuyên trong mẫu nghiên cứu là 1,0 ± 0,3 mm, nhánh lớn nhất

có kích thước 1,6 mm, nhánh nhỏ nhất có kích thước 0,3 mm Kết quả của chúng tôi so sánh với

các tác giả khác như Bảng 2

Kết quả của chúng tôi tương tự kết quả nghiên cứu của Hupken P(6) với ĐKN trung bình là 1,0±0,4mm (P> 0,05), cũng tương tự với kết quả của Tanaka K(9), Schaverien M(8), Drimouras G(2) Nhưng lớn hơn so với các nghiên cứu của tác giả Koshima I(7) có ĐKN trung bình là 0,8 ± 0,2 mm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P< 0,05)

Chúng tôi khảo sát ĐKN trung bình ở mỗi phần ba cẳng chân gần, giữa, xa lần lượt là: 1,1 ± 0,2 mm, 1,2 ± 0,3 mm, 0,7 ± 0,4 mm ĐKN trung bình nhánh xuyên lớn nhất ở phần ba giữa cẳng chân và giảm dần về 2 phía Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Carriquiry(1), Schaverien

M(8), Hung LK(5), Drimouras G(2) Trong khi nghiên cứu của Hupken P, tác giả ghi nhận: các nhánh xuyên ở phần ba gần cẳng chân có ĐKN trung bình lớn nhất 1,2±0,3mm và có khuynh hướng giảm dần khi đi về đầu xa cẳng chân (trung bình từ 1,2 đến 0,8 mm)

Góc xuyên cân

Góc xuyên cân trong mẫu nghiên cứu chúng tôi trung bình là 85 độ (dao động 60-105 độ) Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, góc xuyên cân các nhánh xuyên có khuynh hướng tăng dần khi đi từ đoạn gần đến đoạn xa của

Trang 5

mặt trong cẳng chân (tính trung bình từ 80 đến

90 độ) Kết quả của chúng tôi tương tự kết quả

nghiên cứu của Drimouras G(2), với góc xuyên

cân trung bình là 90 độ (dao động trong

khoảng 50-110 độ)

KẾT LUẬN

Các đặc điểm giải phẫu của nhánh xuyên da

từ ĐMCS là cơ sở cần thiết để thiết kế và lấy vạt

cuống mạch xuyên an toàn và hiệu quả Thiết

nghĩ, nên có thêm các nghiên cứu lâm sàng để

củng cố, bổ sung các kết quả có được từ nghiên

cứu giải phẫu, giúp việc lấy vạt thuận lợi và an

toàn hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Carriquiry C, Aparecida Costa M, Vasconez LO (1985) An

anatomic study of the septocutaneous vessels of the leg Plast

Reconstr Surg, 76(3): 354-63

2 Drimouras G, Kostopoulos E, Agiannidis C, Papadodima S,

Champsas G, et al (2016) Redefining Vascular Anatomy of

Posterior Tibial Artery Perforators: A Cadaveric Study and

Review of the Literature Ann Plast Surg, 76(6): 705-12

3 Ghali S, Bowman N, Khan U (2005) The distal medial

perforators of the lower leg and their accompanying veins Br

J Plast Surg, 58(8): 1086-9

4 Gir P, Cheng A, Oni G, Mojallal A, Saint-Cyr M (2012) Pedicled-perforator (propeller) flaps in lower extremity

defects: a systematic review J Reconstr Microsurg, 28(9): 595-601

5 Hung LK, Lao J, Ho PC (1996) Free posterior tibial perforator

flap: anatomy and a report of 6 cases Microsurgery, 17(9): 503-11

6 Hupkens P, Westland PB, Schijns W, van Abeelen MHA, Kloeters O, et al (2016) Medial lower leg perforators: An

anatomical study of their distribution and characteristics

Microsurgery, 37(4): 319-326

7 Koshima I, Soeda S (1991) Free posterior tibial

perforator-based flaps Annals of plastic surgery, 26(3): 284-288

8 Schaverien M, Saint-Cyr M (2008) Perforators of the lower leg: analysis of perforator locations and clinical application for

pedicled perforator flaps Plastic and Reconstructive Surgery, 122(1): 161-70

9 Tanaka K, Matsumura H, Miyaki T, Watanabe K (2014) An anatomic study of the intermuscular septum of the lower leg; branches from the posterior tibial artery and potential for

reconstruction of the lower leg and the heel Journal of Plastic,

Reconstructive & Aesthetic Surgery, 59(8): 835-838

10 Yu D, Hou Q, Liu A, Tang H (2016) Delineation the anatomy

of posterior tibial artery perforator flaps using human

cadavers with a modified technique Surg Radiol Anat, 38(9):

1075-1081

Ngày nhận bài báo: 08/11/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 09:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w