Trong khi mục tiêu chính của điều trị nội khoa là giảm thiểu hay giải quyết tình trạng viêm trên niêm mạc mũi-xoang thì mục đích chính của điều trị phẫu thuật là lấy bỏ niêm mạc bị thoái hóa bệnh lý không hồi phục được, tái tạo hiện tượng thông khí trong xoang và phục hồi khả năng tái đáp ứng với điều trị nội khoa sau mổ.
Trang 1SINH LÝ BỆNH CỦA QUÁ TRÌNH VIÊM TRONG BỆNH VIÊM MŨI XOANG MẠN KHÔNG ĐÁP ỨNG VỚI ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT
Phạm Kiên Hữu* *
MỞ ĐẦU
Viêm mũi xoang mạn tính (Chronic rhino
sinusitis - CRS) có hay không có polyp là một
bệnh lý viêm ở mũi và các xoang cạnh mũi, đặc
trưng bởi những triệu chứng: nghẹt mũi, chảy
mũi (trước/sau), đau/nặng mặt, giảm hay mất
mùi(1) Điều trị luôn luôn theo phương pháp điều
trị nội tối ưu, nếu cần thiết có thể phải phẫu
thuật và sau đó luôn luôn theo sau bởi quá trình
điều trị nội (đôi khi phải kéo dài)
Trong khi mục tiêu chính của điều trị nội
khoa là giảm thiểu hay giải quyết tình trạng
viêm trên niêm mạc mũi-xoang thì mục đích
chính của điều trị phẫu thuật là lấy bỏ niêm mạc
bị thoái hoá bệnh lý không hồi phục được, tái tạo
hiện tượng thông khí trong xoang và phục hồi
khả năng tái đáp ứng với điều trị nội khoa sau
mổ Mặc dù hầu hết các phẫu thuật viên tai mũi
họng hiện nay đều sử dụng liệu pháp kết hợp
trên, nhưng vẫn có khoảng 10% bệnh nhân
không đáp ứng với phẫu thuật mũi xoang và
điều trị nội khoa, bệnh tiếp tục diễn tiến xấu dẫn
đến nguy cơ phải phẫu thuật lại(5) Bài viết sẽ tập
trung đánh giá vai trò của quá trình viêm ở
những bệnh nhân phẫu thuật mũi xoang thất
bại, bao gồm cả vai trò của những yếu tố nội tại
của bệnh nhân và những yếu tố ngoại lai ảnh
hưởng bất lợi đến kết quả sau mổ
YẾU TỐ NỘI TẠI
CRS có thể gồm những phân nhóm khác
nhau Những phân nhóm khác nhau của CRS
thường được xếp thành những thể bệnh đơn
độc, bởi vì hiện tại vẫn không thể phân biệt rõ
ràng giữa các phân nhóm khác nhau(9) CRS có
polyp (Nasal polyp - NP) là một trong những
phân nhóm có những đặc điểm khác biệt nhất, vài nghiên cứu đã cố gắng sử dụng những chỉ dấu viêm để phân biệt CRS có NP với những phân nhóm khác(1,3,11) Mặc dù vài trong số những nghiên cứu này cho thấy rõ ràng sự biểu hiện của eosinophil và interleukin-5 ở những bệnh nhân có NP cao hơn ở những bệnh nhân CRS, những nghiên cứu này cũng khuyến cáo rằng sự tồn tại của một chuỗi trong đó sự khác biệt có thể
rõ ràng hướng đến các đầu của chuỗi, nhưng không có điểm cắt rõ ràng tồn tại giữa CRS có
NP và những thể khác của CRS Trong chương này, chúng tôi sẽ đề cập đến CRS như là một bệnh lý đơn độc trừ khi có những khác biệt rõ ràng giữa những phân nhóm khác nhau được
mô tả trong tài liệu
Có vài yếu tố nội tại có thể là tăng hay ảnh hưởng đến biểu hiện lâm sàng của CRS Chúng cần phải được nhận ra và xem xét bởi vì chúng
có thể ảnh hưởng bất lợi kết quả phẫu thuật mũi xoang Vài trong số những yếu tố này có thể đòi hỏi những can thiệp điều trị đặc hiệu, bên cạnh phẫu thuật mũi xoang
Dị ứng và cơ địa dị ứng
Mặc dù vẫn chưa có bằng chứng rõ ràng về liên quan nhân quả giữa dị ứng và CRS, cơ hội cải thiện triệu chứng sau phẫu thuật nội soi mũi xoang (Endoscopic sinus surgery - ESS) có thể tối
ưu nếu bệnh lý dị ứng nền được quan tâm Việc suy đoán rất thú vị rằng tình trạng viêm dị ứng ở mũi dẫn đến sự phát triển của CRS ở các cá nhân có cơ địa dị ứng: Cả hai tình trạng này đều có xu hướng gia tăng tỷ lệ mắc bệnh(14) và thường xuyên cùng xảy ra trong cùng một cá thể Người ta đã công nhận rằng sự phù
nề niêm mạc mũi trong viêm mũi dị ứng tại vị trí
*Bộ môn Tai Mũi Họng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: GS.TS.BS Phạm Kiên Hữu ĐT: 0903851569 Email: drphuchuu4@gmail.com
Trang 2lỗ thông của xoang có thể ảnh hưởng đến sự
thông khí và thậm chí gây tắc nghẽn hoàn toàn,
dẫn đến ứ đọng dịch nhầy và nhiễm trùng Hơn
nữa, có một sự đồng thuận ngày càng lớn rằng
niêm mạc của đường hô hấp mũi liên tục với các
xoang cạnh mũi, cũng như việc sử dụng thuật
ngữ “viêm mũi xoang” thay vì “viêm xoang”
Tuy nhiên, phân tích cẩn thận các bài báo
trích dẫn cơ địa dị ứng là một yếu tố nguy cơ
viêm mũi xoang mạn tính cho thấy rằng trong
khi có tỷ lệ dị ứng cao hơn ở những bệnh nhân
có triệu chứng phù hợp với viêm xoang hơn
trong dân số chung, điều này có thể là kết quả
của sai số chọn mẫu, cũng như các bác sĩ liên
quan thường có quan tâm đến dị ứng(18,21) Trong
số các bệnh nhân CRS trải qua phẫu thuật xoang,
tỷ lệ nhạy cảm với dị nguyên dao động từ 30 đến
62%(8,20), trong đó đa số (60%) nhạy cảm với
nhiều dị nguyên(11) Cũng giống như trong bệnh
hen suyễn, có một số dấu hiệu cho thấy ở những
bệnh nhân CRS nặng hơn, thì dị ứng kém quan
trọng hơn(11) Mặc dù thiếu bằng chứng dịch tễ
học chắc chắn về mối quan hệ nhân quả rõ ràng
giữa dị ứng và CRS, rõ ràng là không giải quyết
được dị ứng như là một yếu tố góp phần gây ra
CRS sẽ làm giảm cơ hội can thiệp phẫu thuật
thành công(12) Một nửa số bệnh nhân đã phẫu
thuật xoang trước đây, tin rằng phẫu thuật đơn
thuần là không đủ để giải quyết hoàn toàn các
đợt nhiễm trùng tái phát(17) Tuy nhiên, tỷ lệ
phẫu thuật lại không khác biệt đáng kể giữa
bệnh nhân dị ứng và không dị ứng(1)
Bệnh hen
Bệnh hen thường liên quan với CRS và polyp
mũi Các bệnh nhân hen thường có xu hướng bị
bệnh xoang nghiêm trọng hơn(19) Ngoài ra, tỷ lệ
CRS tự báo cáo rất cao (70%) ở bệnh nhân bị hen
suyễn(7) Bệnh nhân hen đồng thời bị CRS có
nhiều đợt hen hơn, điểm hen nặng hơn, ho nặng
hơn và chất lượng giấc ngủ kém hơn so với
những người hen không có CRS
Ở cấp độ tế bào, sự khác biệt giữa bệnh nhân
hen và không hen bị CRS/NP trở nên rõ ràng:
Bệnh nhân có NP đồng thời bị hen có xu hướng xâm nhập bạch cầu ái toan nổi bật hơn Điều này cho thấy một phản ứng viêm mạnh hơn, đặc biệt
là ở phân nhóm hen không dung nạp aspirin(6,13,18,19)
Những dữ liệu này củng cố cho mối liên kết mạnh mẽ giữa đường hô hấp trên và dưới Điều trị nội khoa và/hoặc phẫu thuật của đường hô hấp trên ở bệnh nhân hen với CRS/NP, ảnh hưởng tích cực đến quá trình hen phế quản Một
số nghiên cứu báo cáo rằng triệu chứng hen cải thiện, ít cơn hen hơn, ít sử dụng steroid hơn (tại chỗ và toàn thân) và cải thiện lưu lượng đỉnh sau phẫu thuật và điều trị nội khoa đường hô hấp trên Không có bằng chứng rõ ràng rằng bệnh nhân CRS/NP bị hen có lợi ít hơn từ phẫu thuật xoang so với bệnh nhân không bị hen(12,20,19) Tuy nhiên, những triệu chứng sau phẫu thuật nội soi mũi xoang sẽ tồi tệ hơn ở bệnh nhân đồng thời bị hen(12,13,16), và bệnh nhân hen đòi hỏi số lần phẫu thuật xoang lại nhiều hơn(7)
Không dung nạp acid Acetylsalicylic
Bệnh nhân bị viêm xoang có polyp mũi, hen
và không dung nạp acid acetylsalicylic (ASA) (tam chứng Widal) có xu hướng kết quả sau phẫu thuật FESS tồi tệ hơn và đòi hỏi phẫu thuật lại nhiều lần hơn
Vào năm 1922, Widal đã mô tả một bộ ba triệu chứng, sau này được biết đến như tam chứng của Samter: (không dung nạp với các hợp chất aspirin và các NSAID, hen phế quản (thường là nặng) và polyp mũi) Cơ chế phản ứng quá mẫn với aspirin không phải là miễn dịch, nhưng có thể liên quan đến sự ức chế cyclo-oxygenase (COX-1 và COX-2), một loại enzyme chịu trách nhiệm tổng hợp prostaglandin, bằng aspirin
Các triệu chứng của bộ ba ASA này thường bắt đầu vào khoảng năm thứ 20 của cuộc đời Ban đầu, bệnh nhân có biểu hiện nghẹt mũi, chảy nước mũi và giảm ngửi sau đó vài năm do hình thành NP và (thường phụ thuộc steroid) hen Việc uống aspirin (hoặc thuốc kháng viêm
Trang 3không steroid khác, NSAID) dẫn đến đợt cấp của
viêm mũi và hen, nhưng độc lập với việc tiếp
xúc với NSAID, bệnh sẽ tiếp tục kéo dài suốt đời
Bệnh nhân bị CRS và/hoặc NP đồng thời không
dung nạp ASA có xu hướng bị bệnh xoang nặng
hơn Những bệnh nhân này có thể có lợi từ phẫu
thuật xoang, nhưng ở mức độ thấp hơn so với
bệnh nhân không bị không dung nạp ASA Tuy
nhiên, họ dễ bị tái phát bệnh hơn và thường
xuyên phải trải qua phẫu thuật lại hơn bệnh
nhân CRS/NP dung nạp ASA(6,18,19)
“Viêm xương” - Vai trò của xương
Vùng có mật độ xương tăng lên và dày đặc
xương không đều thường phát hiện trên CT ở
các vị trí viêm mạn tính ở bệnh nhân CRS và có
thể là chỉ dấu của quá trình viêm mạn tính nền(1)
Mặc dù cho đến nay, vi sinh vật chưa được
xác định trong xương của cả mô hình người hoặc
động vật bị CRS, người ta khuyến cáo rằng sự
tăng sinh xương bất thường này là một dấu hiệu
có liên quan đến viêm xương có vai trò trong
quá trình viêm niêm mạc các xoang liên
quan(1,2,3)
Bệnh xơ nang và rối loạn vận động lông chuyển
nguyên phát
Biểu hiện của cả xơ nang (CF) và rối loạn vận
động lông chuyển nguyên phát (PCD), trong số
những nhiễm trùng đường hô hấp trên và dưới
tái phát Bệnh nhân CF gần như luôn kèm theo
CRS, và phát triển NP trong khoảng 50% trường
hợp CRS cũng hầu như luôn luôn hiện diện ở
bệnh nhân PCD, nhưng tỷ lệ NP ở nhóm bệnh
nhân này chỉ khoảng 5% Cả CF và PCD đều là
các bệnh di truyền lặn tự phát và cần được xem
xét ở trẻ có CRS có hoặc không có NP
Khi nghi ngờ, CF có thể được chẩn đoán
bằng thử nghiệm đo Cl- trong mồ hôi bệnh nhân
hoặc tìm đột biến gien qua phân tích DNA Hoạt
động lông chuyển trong PCD có thể đánh giá
qua sinh thiết niêm mạc từ đường hô hấp trên
hoặc dưới, nếu cần sau khi nuôi cấy Ngoài ra,
thử nghiệm phết tế bào niêm mạc mũi cũng là
một xét nghiệm có giá trị trong chẩn đoán bệnh
Kháng sinh và steroid tại chỗ/toàn thân lâu dài là nền tảng của điều trị Phẫu thuật nhiều lần thường cần thiết để đạt được kiểm soát triệu chứng của đường hô hấp trên cũng như dưới
Do có bất thường trong hoạt động nhày lông chuyển bị rối loạn trong cả 2 nhóm bệnh này, phẫu thuật nội soi xoang đơn thuần thường không thể mang lại kết quả mong muốn Ngoài việc rửa mũi, phẫu thuật xoang triệt để thường không thể tránh khỏi(3,9) Bệnh lý chu phẫu được giả định là cao hơn ở bệnh nhân CF, do các bệnh
lý nền, chẳng hạn như bệnh lý đông máu mắc phải và bệnh phổi tiến triển
Rối loạn miễn dịch
Một số bệnh lý suy giảm miễn dịch mắc phải
và không mắc phải có thể gây ra CRS (có hoặc không có NP) Chúng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến diễn tiến lâm sàng của bệnh nhân và ảnh hưởng đến đáp ứng của CRS đối với điều trị nội khoa và phẫu thuật tiêu chuẩn Những bệnh
lý này luôn luôn được xem xét trong trường hợp bệnh xoang khó điều trị
Trong trường hợp bệnh khó điều trị, kháng với cả điều trị nội khoa và phẫu thuật, bệnh nhân phải được đánh giá về biểu hiện của suy giảm miễm dịch bẩm sinh Tuy nhiên, ngoại trừ
sự thiếu hụt dịch thể, mà có thể cần điều trị bằng immunoglobulin tĩnh mạch, ý nghĩa của sự thiếu hụt miễn dịch là chưa rõ
Rối loạn suy giảm miễn dịch
Một tỷ lệ cao bệnh nhân bị CRS nặng, kháng trị có liên quan đến hiện tượng suy giảm chức năng tế bào T, suy giảm chức năng bạch cầu hạt(10), một số dạng thiếu hụt immunoglobulin và suy giảm miễn dịch thông thường(3,4) Tuy nhiên, giá trị tiên lượng kết quả sau điều trị của những bệnh nhân trong nhóm này không cao(4,5,6) Suy giảm miễn dịch có thể do rối loạn đáp ứng miễn dịch dịch thể hay tế bào và thường là ảnh hưởng cả hai Những bệnh nhân trong nhóm này có nguy cơ cao phát triển thành viêm mũi xoang mạn(9-14) Một số ví dụ bao gồm suy giảm miễn dịch thông thường, chứng thất điều
Trang 4dãn mạch và thiếu gammaglobulin máu liên kết
với đột biến ở nhiễm sắc thể X Các kết quả
nghiên cứu hiện tại, không có đủ dữ liệu để
đánh giá vai trò của phẫu thuật xoang ở nhóm
bệnh nhân này Ở những bệnh nhân suy giảm
miễn dịch dịch thể, phẫu thuật xoang có thể có
hiệu quả khi kết hợp đồng thời với liệu pháp
truyền immunoglobulin tĩnh mạch
Các bệnh lý mô hạt đặc hiệu
Một vài tình trạng viêm toàn thân có liên
quan với CRS Ba trong số những bệnh thường
gặp nhất bao gồm u hạt Wegener (WG),
sarcoidosis và Hội chứng Churg-Straus Chúng
có thể gây ra các triệu chứng về mũi và xoang
nặng và cần phải được nhận biết, vì chúng cần
can thiệp trị liệu đặc hiệu
U hạt Wegener (WG)
Vai trò của phẫu thuật trong WG không
nhiều, chỉ được sử dụng giới hạn trong việc cung
cấp một mẫu niêm mạc bệnh cho thử nghiệm
chẩn đoán mô học
WG là một bệnh lý đa hệ thống với một nền
tảng di truyền phức tạp, đặc trưng bởi viêm
mạch liên quan nhiều cơ quan Các dạng phổ
biến nhất bao gồm viêm u hạt của đường hô hấp
trên và dưới và viêm cầu thận Nó thường xuất
hiện ở tuổi 30-50, và nam giới mắc bệnh cao gấp
1,5 lần so với nữ giới Trong 95% bệnh nhân,
vùng đầu và cổ là vùng đầu tiên bị ảnh hưởng
Triệu chứng ở mũi trong giai đoạn toàn phát
là: chảy mũi đục dai dẳng và loét niêm mạc mũi
và xoang Dấu hiệu ở mũi có thể thay đổi từ
nhiễm trùng có mủ mà không có bất thường
niêm mạc nào quan sát được (phá hủy/hoại tử)
tổn thương mô hạt của niêm mạc vách ngăn và
vách mũi xoang Phá hủy vách ngăn có thể dẫn
đến sụp sống mũi như yên ngựa đặc trưng
Xét nghiệm kháng thể bào tương bạch cầu
trung tính (c) dương tính và tăng tốc độ lắng
máu cùng với hình ảnh lâm sàng đặc trưng gợi ý
bệnh WG Tuy nhiên, chẩn đoán được xác định
bởi kết quả mô học và nếu mũi bị ảnh hưởng,
mẫu sinh thiết nên được lấy từ niêm mạc bị ảnh
hưởng khi bệnh nhân không sử dụng corticosteroid Nếu niêm mạc bình thường về mặt đại thể thì không cần sinh thiết
Bệnh nhân bị WG nếu không được điều trị thường sẽ diễn biến đến tử vong Bệnh nhân nên được điều trị với một chuyên gia miễn dịch lâm sàng Trong bệnh thông thường, điều trị khởi đầu là điều trị toàn thân và bao gồm các cytostatics (ví dụ cyclophosphamide) kết hợp với steroid(4,13) Sau khi thuyên giảm, điều trị duy trì thường bao gồm azathioprine (ức chế miễn dịch) 2 mg/kg mỗi ngày Khi WG chỉ khu trú ở mũi, việc điều trị có thể bao gồm cotrimoxazol 960 mg mỗi ngày và steroid nhỏ hay bôi vào niêm mạc mũi bằng gòn Hiệu quả của FESS trong những trường hợp này thường rất hạn chế và nên được hạn chế chỉ Phẫu thuật phục hình ái sống mũi lõm yên ngựa chỉ nên được xem xét nếu bệnh thuyên giảm hoàn toàn Dù đã điều trị ổn định trong một thời gian dài vẫn có nguy cơ bệnh tái phát(4)
Sarcoidosis
Sarcoidosis là một bệnh u hạt mạn tính không gây hoại tử, chưa rõ nguyên nhân, ảnh hưởng chủ yếu đến đường hô hấp (dưới) Tỷ lệ mắc chung là khoảng 6–10/100.000(14) Liên quan đến mũi xoang là rất hiếm, với tỷ lệ mắc là 0,7-6% trong tài liệu
Phàn nàn thường gặp nhất liên quan đến mũi là nghẹt mũi, chảy mũi, giảm khứu và vảy mũi Các triệu chứng thực thể tại mũi có thể gồm thay đổi niêm mạc nhẹ như quá phát cuốn mũi
và thoái hóa dạng trái dâu của niêm mạc mũi, vảy mũi nhiều, thủng vách ngăn và thậm chí là biến dạng mặt yên ngựa(6)
Chẩn đoán sarcoidosis dựa trên lâm sàng, X-quang ngực (cho thấy hạch rốn phổi 2 bên), tăng nồng độ men chuyển angiotensin trong huyết thanh và sinh thiết niêm mạc bị ảnh hưởng Bệnh nhân sarcoidosis có biểu hiện mũi xoang có xu hướng có tỷ lệ thuyên giảm thấp hơn và thường đòi hỏi điều trị toàn thân kéo dài(2) Điều trị tại mũi với steroid tại chỗ
Trang 5thường không hiệu quả, và điều trị toàn thân,
dưới dạng steroid uống, thuốc ức chế miễn
dịch như methotrexate (chất đối kháng acid
folic) hoặc azathioprine là cần thiết Phẫu
thuật đối với sarcoidosis thể mũi xoang còn
gây tranh cãi; mặc dù nó có thể làm giảm bớt
các triệu chứng trong thời gian ngắn, nhưng
phẫu thuật đơn thuần không loại trừ được
bệnh hoặc ngăn ngừa tái phát(5)
Hội chứng Churg-Strauss
Trong sarcoidosis, như trong hội chứng
Churg-Strauss, vai trò của phẫu thuật còn gây
tranh cãi: Đôi khi nó có thể được sử dụng đồng
thời với steroid và thuốc ức chế miễn dịch; tuy
nhiên, hiệu quả của nó dường như bị hạn chế
giúp cải thiện triệu chứng ngắn hạn
Hội chứng Churg-Strauss (CSS) là một loại
viêm mạch u hạt hoại tử hiếm gặp chưa rõ
nguyên nhân Nó ảnh hưởng đến các mạch máu
nhỏ đến vừa Thường liên quan các cơ quan như
mũi, xoang cạnh mũi, phổi và hệ thần kinh ngoại
biên Nhiều cơ quan khác cũng có thể liên quan,
chẳng hạn như tim, thận, da và đường tiêu hóa
Hội Thấp Khớp Hoa Kỳ (American College of
Rheumatology) đã đưa ra 6 tiêu chuẩn để chẩn
đoán CSS:
1 Tiền sử hen suyễn
2 Tăng bạch cầu ưa eosin> 10%
3 Bệnh lý đơn hay đa dây thần kinh
4 Thâm nhiễm phổi không cố định
5 Bất thường xoang
6 Sinh thiết cho thấy eosinophils ngoài mạch
Việc chẩn đoán CSS được xác định khi có từ
bốn tiêu chí trở lên
Về mặt lâm sàng, diễn tiến bệnh có thể
được chia thành ba giai đoạn: Giai đoạn tiền
triệu, bao gồm hen có thể liên quan đến viêm
mũi dị ứng và thường phức tạp do có polyp
mũi xoang và viêm mũi xoang tái phát Giai
đoạn thứ hai được đặc trưng bởi bạch cầu ái
toan qua phết máu ngoại vi và/hoặc xâm nhập
mô (tức là bạch cầu ưa eosin ở phổi hoặc viêm
dạ dày ruột) Giai đoạn thứ ba bị chi phối bởi các biểu hiện do viêm mạch hệ thống (tức là bệnh đa dây thần kinh)
Thể mũi gặp trong khoảng 69-75% bệnh nhân(5,7) Triệu chứng mũi là những triệu chứng liên quan đến viêm mũi dị ứng, viêm mũi xoang,
NP và tổn thương vảy mũi khắp mũi
Chẩn đoán có thể được xác nhận bằng xét nghiệm (tăng bạch cầu với hơn 10% bạch cầu ưa eosin) và sinh thiết mô (viêm mạch hoại tử, u hạt hoại tử ngoài mạch máu và eosinophil tại mô)
U hạt hoại tử và bạch cầu ưa eosin mô
Từ giai đoạn đầu của căn bệnh này hầu như không thể phân biệt với viêm mũi xoang mạn tính (dị ứng) thông thường và NP, bệnh nhân thường trải qua FESS Điều này không ảnh hưởng tiêu cực đến kết cục bệnh, nhưng thường cần phẫu thuật lại Một khi chẩn đoán được xác định, các lựa chọn điều trị nên được xác định lại với sự tham vấn chặt chẽ của nhà miễn dịch lâm sàng Nhiều người trong số những bệnh nhân này đòi hỏi steroid toàn thân và trong những trường hợp nặng, azathioprine hoặc cyclophosphamide trong một thời gian dài Một
số bệnh nhân có thể có hiệu quả với điều trị immunoglobulin hoặc interferon-α
YẾU TỐ NGOẠI LAI
Vi khuẩn học
Vi khuẩn và màng sinh học
Gần đây, người ta tập trung về các độc tố
ruột Staphylococcus aureus (SAEs) và màng sinh
học như là yếu tố trung tâm trong sinh bệnh học của CRS có thể đóng vai trò như một mô hình hữu ích trong giải thích một số trường hợp thất bại với điều trị nội khoa và phẫu thuật Các hình thức điều trị mới có khả năng nhắm trúng đích
là bắt buộc
Vai trò của vi khuẩn trong bệnh xoang mạn tính là đã rõ ràng Bhattacharyya cho thấy rằng các loài hiếu khí cũng như kỵ khí có dòng đa vi khuẩn thường được tìm thấy Các tác nhân gây bệnh thường gặp nhất trong CRS là các chủng
Trang 6Staphylococcus tan huyết âm tính (24–80%),
S.aureus (9–33%), Streptococcus pneumonia (0–7%)
và kỵ khí (0–8%) Pseudomonas aeruginosa cũng
được nuôi cấy trong một số trường hợp(12,13,14)
Vi khuẩn S aureus Gram dương có khả năng
giải phóng các nội độc tố có nguồn gốc từ biến
đổi gen, cho thấy hoạt động siêu kháng nguyên
và gây nên sự thay đổi trong chức năng của tế
bào T và B, bạch ái toan và các tế bào viêm khác
Sự kích thích có thể dẫn đến quá trình viêm theo
khuynh hướng tăng T-helper (TH) cũng như
tổng hợp immunoglobulin E (IgE) làm trầm
trọng thêm tình trạng bệnh ở cả bệnh đường hô
hấp trên và dưới
Một phát hiện thú vị khác trong CRS là sự
hình thành các màng sinh học vi khuẩn(7,8) Màng
sinh học được định nghĩa là một cộng đồng vi
khuẩn được tổ chức, bám dính vào một bề mặt
và chứa trong một chất polyme ngoại bào do
chính vi khuẩn tạo ra (chứa polysaccharide, axit
nucleic và protein) Do chức năng bảo vệ của
chất nền này và sự trao đổi chất thấp của chúng,
vi khuẩn trong màng sinh học ít nhạy cảm hơn
với cả cơ chế bảo vệ vật chủ bẩm sinh và mắc
phải, cũng như với kháng sinh Biofilms cho
phép vi khuẩn tiếp tục bám vào niêm mạc trong
nhiều tháng đến nhiều năm, với những đợt viêm
mũi xoang tái phát cấp tính Điểm nổi bật của
bệnh viêm mũi xoang mạn là một căn bệnh mạn
tính được đặc trưng bởi đợt cấp tính
Các vi sinh vật gây bệnh thường rất khó để
nuôi cấy và định danh và đề kháng với kháng
sinh liệu pháp, ngay cả với thuốc kháng sinh đưa
trực tiếp vào xoang Bendouah và cộng sự đánh
giá bán định lượng khả năng tạo thành biofilms
của vi khuẩn ở những bệnh nhân đã trải qua
phẫu thuật FESS điều trị CRS(7) Họ kết luận rằng
có sự tương quan giữa khả năng sản xuất biofilm
trong ống nghiệm của cả S aureus và P
aeruginosa và liên quan trực tiếp đến diễn tiến
không thuận lợi sau FESS, như được xác định
bởi điểm triệu chứng và triệu chứng nội soi
Điều này cho thấy một vai trò của việc sản xuất
biofilm trong bệnh xoang mạn tính dai dẳng
Tuy nhiên, tầm quan trọng tương đối của các màng sinh học này, cũng như các chiến lược điều trị có thể chống lại màng sinh học, đòi hỏi phải đánh giá thêm
Nấm
Hiện nay trên thế giới vẫn còn đang tranh cãi
về vai trò của nấm trong sinh bệnh học của các dạng viêm mũi xoang mạn thông thường và bằng chứng rằng điều trị bằng thuốc kháng nấm tại chỗ là không hiệu quả
Có một sự quan tâm ngày càng nhiều về khái niệm rằng các dạng thường gặp nhất của bệnh xoang có thể gây ra bởi tình trạng viêm bị kích thích bởi kháng nguyên nấm trong không khí Năm 1999, người ta cho rằng hầu hết bệnh nhân CRS đều có sự xâm nhập bạch cầu ái toan và sự hiện diện của nấm trên mô học hoặc nuôi cấy(7) Việc xác định này dựa trên việc phát hiện nuôi cấy nấm dương tính bằng cách sử dụng một kỹ thuật nuôi cấy mới ở 202 trong số 210 (96%) bệnh nhân CRS được đánh giá có khả năng trong một nghiên cứu đoàn hệ Sử dụng kỹ thuật nuôi cấy mới này, cho thấy tỷ lệ nuôi cấy nấm dương tính tương đương trong nhóm chứng bình thường(12) Một số tác giả cho rằng tình trạng viêm do nấm do hiện tượng tăng bạch cầu ái toan ở một
số cá thể
Giả thuyết về nấm, dựa trên tiền đề của một phản ứng miễn dịch cục bộ dẫn đến sự hình thành viêm mũi xoang và NP tăng bạch cầu ái toan mạn tính(11), dẫn đến khái niệm điều trị CRS
có và không có NP với thuốc kháng nấm tại chỗ Tuy nhiên, việc sử dụng các thuốc kháng nấm tại chỗ hoặc toàn thân không được chứng minh một cách rõ ràng để có thể giúp ích cho điều trị các bệnh nhân viêm xoang do nấm
Nhân tố môi trường
Hút thuốc lá đã được chứng minh là có liên quan đến tỷ lệ viêm mũi xoang cao hơn ở Canada(7), trong khi quan sát này không được xác nhận trong một cuộc khảo sát toàn quốc ở Hàn Quốc(18) Các yếu tố liên quan đến lối sống khác chắc chắn liên quan đến các quá trình viêm
Trang 7mạn tính của viêm mũi xoang Ví dụ, thu nhập
thấp có liên quan đến tỷ lệ mắc CRS cao hơn(17)
Mặc dù dữ liệu in vitro chứng minh tính độc hại
của các chất gây ô nhiễm lên biểu mô hô hấp,
không có bằng chứng thuyết phục về mối liên hệ
nhân quả giữa các chất gây ô nhiễm và độc tố,
chẳng hạn như ozone và CRS
Suy giảm miễn dịch mắc phải
Bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch mắc phải
(bệnh nhân AIDS và người ghép tủy xương) có
xu hướng bị CRS liên quan đến các tác nhân gây
bệnh không điển hình Thuốc kháng sinh nhắm
trúng đích chống lại các tác nhân gây bệnh là
nền tảng của điều trị, với phẫu thuật chỉ chỉ định
ở những bệnh nhân điều trị nội thất bại Tuy
nhiên, ở những bệnh nhân có bệnh nấm xâm lấn,
phẫu thuật sớm và tích cực và điều trị nội khoa
phối hợp là bắt buộc
Virus gây suy giảm miễn dịch ở người
Các nguyên nhân thường gặp nhất của suy
giảm miễn dịch mắc phải ở những bệnh nhân bị
CRS là nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch ở
người (HIV) và ghép tủy xương
Bệnh nhân nhiễm HIV có nguy cơ phát
triển CRS cao hơn, đặc biệt là số lượng CD4
dưới 50 tế bào/mm3, với tỷ lệ báo cáo từ 10 đến
70%(7,8) Nhiều tác nhân gây bệnh có thể được
xác định trong xoang của những bệnh nhân
HIV bị CRS Thông thường nhất là
P.aeruginosa, Streptococcus và Aspergillus
fumigates(8) Rõ ràng, điều trị đầu tay của CRS ở
bệnh nhân HIV dương tính nên trực tiếp
chống lại các vi sinh vật được xác định Nếu
điều trị nội khoa nhắm trúng đích này thất bại,
FESS đã được báo cáo là có lợi trong các
nghiên cứu hồi cứu(8,9)
Ghép tuỷ
U tuỷ cũng là một nguyên nhân thường gặp
của suy giảm miễn dịch mắc phải Bệnh nhân u
tuỷ có liên quan đến sự suy yếu của miễn dịch tế
bào cũng như miễn dịch dịch thể, do sự cần thiết
của ức chế miễn dịch mạnh Khoảng 40-50%
bệnh nhân BMT dị ghép bị CRS Vi sinh vật trong xoang của bệnh nhân CRS sau BMT cho thấy vi khuẩn Gram âm chiếm ưu thế (56,7%,
bao gồm P aeruginosa và Searratia marescens), tiếp
theo là vi khuẩn Gram dương (26,7%) và nhiều loại nấm khác nhau (16,6%) Một lần nữa, điều trị nên trực tiếp chống lại các mầm bệnh Điều này cho thấy rằng nuôi cấy dịch lấy từ khe giữa, hoặc sinh thiết nếu cần thiết, nên được thực hiện
ở tất cả các bệnh nhân u tuỷ có bị bệnh xoang Các tiếp cận phẫu thuật hạn chế với chăm sóc hậu phẫu kỹ có thể phù hợp trong một nhóm bệnh nhân ghép tuỷ xương bị CRS được chọn lựa, những người không đáp ứng với điều trị nội khoa(15) Tuy nhiên, không có đủ dữ liệu cho phép chúng ta đánh giá đầy đủ vai trò của FESS
ở bệnh nhân ghép tuỷ xương bị CRS
Cả bệnh nhân HIV và ghép tuỷ xương đều
có nguy cơ phát triển viêm mũi xoang do nấm xâm lấn, một tình trạng gây ra tỷ lệ tử vong cao Nếu tình trạng này được phát hiện sớm, kết hợp điều trị phẫu thuật và kháng nấm có thể có ích(6,8,17)
Helicobacter pylori và Trào ngược ngoài thực
quản
DNA Helicobacter pylori đã được phát hiện ở
11%(18) và 33%(19) mẫu thử từ xoang của những bệnh nhân bị CRS, nhưng không có ở nhóm chứng Mặc dù điều này gợi ý một mối liên hệ nhưng không có mối quan hệ nhân quả nào được thiết lập
Sinh lý bệnh miễn dịch
Hai bệnh viêm xoang mạn và polyp mũi được đặc trưng bởi sự thâm nhiễm các tế bào viêm vào niêm mạc chủ yếu là bạch cầu trung tính và bạch cầu ái toan Polyp mũi được đặc trưng bởi tình trạng viêm có khuynh hướng chỉ tăng bạch cầu ái toan Trong cả CRS và NP, bạch cầu ái toan tăng cao hơn ở những bệnh nhân hen khi so với bệnh nhân không hen(15,16,17,18,21) Sự khác biệt trong tỉ lệ tế bào ái toan thậm chí còn rõ ràng hơn ở những bệnh nhân không dung nạp aspirin(10,12,19, 20) Tăng bạch cầu ái toan dường như
Trang 8tương quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh
và tiên lượng của bệnh(12) Sự tương quan giữa
mức độ tăng bạch cầu ái toan và mức độ nghiêm
trọng của gia tăng tương ứng ở đường hô hấp
dưới của bệnh nhân có hen kèm theo Bệnh nhân
có mức độ bạch cầu ái toan cao hơn có triệu
chứng nghiêm trọng hơn và triệu chứng tắc
nghẽn đường thở nặng hơn sau khi dùng thuốc
li giãn phế quản
Những khác biệt này cũng trở nên rõ ràng ở
nồng độ kháng thể Nồng độ IgE cao hơn đáng
kể ở những bệnh nhân viêm mũi xoang mạn có
và không có polyp so với nhóm chứng(16,17)
Trong CRS, nồng độ IgE toàn phần tiền phẫu có
vẻ tương quan với mức độ bệnh được đánh giá
dựa trên CT xoang trước phẫu thuật(18) Trong
polyp mũi, hiện tượng gia tăng sản xuất kháng
thể tại chỗ là một tính chất đặc trưng, với sự tăng
gấp 10 lần các tế bào huyết tương sản xuất IgE ở
những bệnh nhân có NP so với nhóm chứng
Bệnh nhân có nồng độ IgE cao cũng có tình trạng
viêm tăng bạch cầu ái toan nặng hơn đáng kể(15)
MMP-9 là một enzyme thủy phân peptide
cắt nhỏ các loại gelatin 1 và 4, và các loại collagen
4 và 5 Bằng cách chủ động làm giảm các thành
phần nền ngoại bào nó có thể tham gia vào quá
trình tu sửa mô trong bệnh xoang mạn tính(10)
Trong CRS và NP, MMP-9 cao hơn đáng kể so
với nhóm chứng khỏe mạnh Ngoài ra, nồng độ
MMP-9 trước mổ liên quan đến quá trình phục
hồi sau phẫu thuật, với những bệnh nhân có
nồng độ MMP-9 thấp hơn cho thấy lành niêm
mạc tốt hơn Điều này đúng với nồng độ MMP-9
trong dịch rửa mũi(9), cũng như biểu hiện MMP-9
trong chất nền ngoại bào(10) Sau phẫu thuật
xoang, nồng độ MMP-9 tăng lên Một lần nữa,
mức tăng thấp nhất được thấy ở những bệnh
nhân có niêm mạc lành bệnh tốt hơn MMP-9 có
thể là một yếu tố có thể dự đoán và theo dõi chất
lượng phục hồi niêm mạc sau phẫu thuật xoang
Các tế bào viêm đại diện cho nguồn chính của
tăng biểu hiện MMP-9 tăng lên, có liên quan đến
chất lượng lành thương kém
KẾT LUẬN
Dường như “tình trạng viêm” của niêm mạc mũi-xoang có tương quan nghịch với kết quả sau phẫu thuật xoang Tình trạng viêm nặng hơn như các bệnh nhân viêm xoang có hen (hoặc tam chứng SAMSTER) do phản ứng viêm kéo dài trên niêm mạc làm suy giảm đáng kể khả năng phục hồi của niêm mạc Vì thế, muốn gia tăng kết quả điều trị, giảm bớt các trường hợp diễn biến xấu sau mổ, giảm tỉ lệ viêm xoang tái phát sau mổ cần phẫu thuật lại, người bác sĩ cần hỏi
kỹ về tiền căn bệnh tật, khám cẩn thận và thực hiện các thử nghiệm cần thiết để chẩn đoán bệnh nền, xử trí hiệu quả các vấn đề nội tại trước phẫu thuật và có kế hoạch tiếp tục chăm sóc và điều trị sau mổ thật chu đáo để mang lại kết quả tốt nhất cho người bệnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bachert C, Gevaert P, Holtappels G, Johansson SG, van CP (2001) Total and speci c IgE in nasal polyps is related to local
eosinophilic in ammation J Allergy Clin Immunol, 107:607–614
2 Bachert C, Van Cauwenberge PB (1997) In ammatory
mechanisms in chronic sinusitis Acta Otorhinolaryngol Belg,
51:209–217
3 Bateman ND, Shahi A, Feeley KM, Woolford TJ (2005) Activated eosinophils in nasal polyps: a comparison of
asthmatic and non-asthmatic patients Clin Otolaryngol, 30:221–
225
4 Berger G, Kattan A, Bernheim J, Ophir D (2002) Polyp- oid mucosa with eosinophilia and glandular hyperplasia in chronic sinusitis: a histopathological and immunohisto- chemical study
Laryngoscope, 112:738–745
5 Bhattacharyya N (2004) Clinical outcomes a er revision
endoscopic sinus surgery Arch Otolaryngol Head Neck Surg,
130:975–978
6 Dhong HJ, Kim HY, Cho DY (2005) Histopathologic char-
acteristics of chronic sinusitis with bronchial asthma Acta
Otolaryngol, 125:169–176
7 Dixon AE, Kaminsky DA, Holbrook JT, Wise RA, Shade DM, Irvin CG (2006) Allergic rhinitis and sinusitis in asthma: di
erential e ects on symptoms and pulmonary function Chest,
130:429–435
8 Emanuel IA, Shah SB (2000) Chronic rhinosinusitis: al- lergy
and sinus computed tomography relationships Oto- laryngol
Head Neck Surg, 123:687–691
9 Fokkens W, Lund V, Mullol J, European Position Paper on Rhinosinusitis and Nasal Polyps Group (2007) European
position paper on rhinosinusitis and nasal polyps 2007 Rhinol
Suppl, (20):1–136.
10 Gutman M, Torres A, Keen KJ, Houser SM (2004) Preva- lence
of allergy in patients with chronic rhinosinusitis Otolaryngol
Head Neck Surg, 130:545–552
11 Hamilos DL, Leung DY, Wood R, Bean DK, Song YL, Schotman
Trang 9E, et al (1996) Eosinophil in ltration in non- allergic chronic
hyperplastic sinusitis with nasal polyposis (CHS/NP) is
associated with endothelial VCAM-1 upregu- lation and
expression of TNF-alpha Am J Respir Cell Mol Biol, 15:443–450
12 Haruna S, Nakanishi M, Otori N, Moriyama H (2004)
Histopathological features of nasal polyps with asthma as-
sociation: an immunohistochemical study Am J Rhinol, 18:165–
172
13 Jankowski R, Bouchoua F, Co net L, Vignaud JM (2002) Clinical
factors in uencing the eosinophil in ltration of nasal polyps
Rhinology, 40:173–178
14 Jones NS, Carney AS, Davis A (1998) e prevalence of allergic
rhinosinusitis: a review J Laryngol Otol, 112:1019–1030
15 Kennedy DW (1992) Prognostic factors, outcomes and staging
in ethmoid sinus surgery Laryngoscope, 102:1–18
16 Kowalski ML, Lewandowska-Polak A, Wozniak J, Ptas- inska A,
Jankowski A, Wagrowska-Danilewicz M, et al (2005)
Association of stem cell factor expression in nasal polyp
epithelial cells with aspirin sensitivity and asthma Allergy,
60:631–637
17 Lane AP, Pine HS, Pillsbury HC 3rd (2001) Allergy test- ing and immunotherapy in an academic otolaryngology practice: a
20-year review Otolaryngol Head Neck Surg, 124:9–15
18 Rachelefsky GS, Goldberg M, Katz RM, Boris G, Gyepes MT, Shapiro MJ, et al (1978) Sinus disease in children with
respiratory allergy J Allergy Clin Immunol, 61:310–314
19 Ragab A, Clement P, Vincken W (2006) Correlation be- tween the cytology of the nasal middle meatus and BAL in chronic
rhinosinusitis Rhinology, 43:11–17
20 Robinson S, Douglas R, Wormald PJ (2006) The relation- ship
between atopy and chronic rhinosinusitis Am J Rhi- nol, 20:625–
628
21 Slavin RG (1988) Sinusitis in adults and its relation to al- lergic
rhinitis, asthma, and nasal polyps J Allergy Clin Im- munol,
82:950–956
Ngày nhận bài báo: 30/11/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019