1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bước đầu nghiên cứu sử dụng tế bào gốc trung mô tạo các mảnh ghép mô công nghệ ứng dụng trong y học tái tạo

9 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạo ra các mảnh ghép từ sự kết hợp của tế bào gốc trung mô với các loại vật liệu như san hô, Gelatin-Alginate và fibrin để tạo ra các mảnh ghép trong điều kiện in vitro.

Trang 1

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG TẾ BÀO GỐC TRUNG MÔ TẠO CÁC MẢNH GHÉP MÔ CÔNG NGHỆ ỨNG DỤNG TRONG Y HỌC TÁI TẠO

Huỳnh Duy Thảo * , Trần Lê Bảo Hà ** , Võ Quốc Vũ * , Trần Công Toại *

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc hiện nay đang rất phát triển và đạt được nhiều kết quả khả

quan, từ các nghiên cứu khoa học cơ bản cho đến các ứng dụng lâm sàng trong y học Nhiều loại tế bào gốc trong

cơ thể đã được nghiên cứu và triển khai ứng dụng Tuy nhiên, tế bào gốc trung mô thu nhận từ mô trưởng thành trong cơ thể cho thấy có những ưu điểm nổi bật Sự kết hợp của tế bào gốc và vật liệu sinh học để tạo ra mô công nghệ nhằm thay thế và tái tạo mô trong cơ thể là xu hướng phát triển rất nhanh và mạnh trong thời gian gần đây

Mục tiêu nghiên cứu: Tạo ra các mảnh ghép từ sự kết hợp của tế bào gốc trung mô với các loại vật liệu như

san hô, Gelatin-Alginate và fibrin để tạo ra các mảnh ghép trong điều kiện in vitro

Phương pháp nghiên cứu: Thí nghiệm thực nghiệm mô tả Mô mỡ người được thu nhận và sử dụng để

phân lập tế bào gốc trung mô Sau đó, tế bào gốc trung mô được sử dụng để tạo mảnh ghép bằng cách kết hợp với các loại vật liệu sinh học

Kết quả: Tế bào gốc trung mô thỏa mãn theo tiêu chí của ISCT Các mảnh ghép được tạo ra từ tế bào gốc

trung mô với khung san hô, khung Gelatin-Alginate và Fibrin

Kết luận: Nhóm nghiên cứu bước đầu đã tạo ra được các mảnh ghép dựa trên công nghê mô, nghiên cứu

này chỉ là bước khởi đầu để triển khai những nghiên cứu tiếp theo

Từ khóa: Tế bào gốc trung mô, san hô biển, gelatin-alginate, fibrin, mảnh ghép

ABSTRACT

TO CREATE TISSUE ENGINEERED GRAFTS FOR APPLICATIONS

IN REGENERATIVE MEDICINE

Huynh Duy Thao, Tran Le Bao Ha, Vo Quoc Vu, Tran Cong Toai

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 5 - 2016: 5 - 13

Background: Research and application of stem cells is now very developed and achieved many positive

results, from basic research to clinical applications Many types of stem cells in the body have been studied and applied in clinical practice However, the mesenchymal stem cells derived from adult tissues in the body show that there are outstanding advantages The combination of stem cells and biomaterials to create new kinds of tissue engineering to replace and regenerate tissues in the human body has developed very quickly and effectively in recent times

Objectives: Generate different types of tissue grafts from a combination of mesenchymal stem cells with biomaterials like sea coral, Gelatin-Alginate and fibrin in vitro

Methods: The experiment was performed as described experiments Human adipose tissue is collected and

used to isolate mesenchymal stem cells Then, mesenchymal stem cells are used to create tissue graft by combining

with types of biomaterials

* Bộ môn Mô – Phôi – Di truyền, ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

**Bộ môn Sinh lý Động vật, ĐH Khoa học Tự nhiên TP.HCM

Tác giả liên lạc: TS Huỳnh Duy Thảo ĐT: 01693891481 Email: thao_huynhduy@pnt.edu.vn

Trang 2

Results: Mesenchymal stem cells are identified by the standards of ISCT The tissue graft made from mesenchymal stem cells with other types of substrates such as coral, Gelatin-Alginate and fibrin

Conclusion: Our research team has succeeded initially to create tissue graft based on tissue engineering technology, this research is only the first step to implement the follow-up study

Keywords: Mesenchymal stem cell, sea coral, gelatin-alginate, fibrin, graft tissue

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc hiện nay

đang rất phát triển và đi vào nhiều lĩnh vực

nghiên cứu, từ các nghiên cứu khoa học cơ bản

cho đến các ứng dụng lâm sàng trong y học

Nhiều loại tế bào gốc trong cơ thể đã được

nghiên cứu và triển khai ứng dụng Tuy nhiên,

tế bào gốc trung mô (Mesenchymal Stem Cells –

MSC) thu nhận từ mô trưởng thành như tủy

xương, mô liên kết, tuyến tiêu hóa … hoặc các

phần phụ của thai như máu cuống rốn, cuống

rốn(15) là các tế bào gốc đa tiềm năng, có những

ưu điểm nổi bật và hiệu quả trong lĩnh vực công

nghệ mô(15,8)

Do đó, MSC cần phải có một quy trình thu

nhận phù hợp để nhân khốiin vitro trước khi sử

dụng với số lượng lớn tế bào(7)

Mô ghép nói riêng và vật liệu cấy ghép nói

chung ngày nay được sử dụng khá phổ biến

trong y học Đối với những bệnh lý dẫn đến tổn

thương mô, khuyết mô thì việc điều trị có thể sử

dụng mô ghép tự thân, mô ghép đồng loại, mô

ghép dị loại, các loại vật liệu ghép sinh học … để

thay thế Bên cạnh đó, để cải thiện hiệu quả cho

các vật liệu ghép các nhà nghiên cứu tìm cách

đưa các yếu tố sinh học vào mô ghép như tế bào

và các yếu tố hoạt tính sinh học(5,11,9)… Trong đó,

vai trò của tế bào gốc trung mô hiện tại rất được

quan tâm và triển khai nghiên cứu để tạo ra các

mô ghép công nghệ

Do đó nhóm nghiên cứu của chúng tôi bước

đầu thử nghiệm tạo ra các loại mảnh ghép khác

nhau từ sự kết hợp của tế bào gốc trung mô và

các loại khung nâng đỡ sinh học khác nhau để

đánh giá tiềm năng của các loại mảnh ghép này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Mô mỡ người được thu nhận từ việc chọc hút mỡ trong các quy trình phẫu thuật thẩm mỹ Mẫu mô được thu nhận từ các người hiến khỏe mạnh, đồng ý hiến mô để tiến hành nghiên cứu

và có các xét nghiệm âm tính với HIV, HBV,

HCV và VDRL

San hô tự nhiên (Porites lutea) được thu nhận

từ viện Hải Dương Học Nha Trang

Máu ngoại vi dùng để tạo giá thể fibrin từ huyết thanh người

Gelatin và Alginate được thu nhận từ nguồn gốc sinh học để tạo giá thể Gelatin-Alginate (G-A)

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm được thiết kế là phương pháp thực nghiệm mô tả

Thu nhận mô mỡ

Mẫu mô được thu nhận trong điều kiện vô trùng của phòng mổ Sau đó, mẫu được vận chuyển nhanh chóng về phòng thí nghiệm

Phân lập và nuôi cấy tế bào gốc từ mô mỡ

Mô mỡ được cho vào các tube 50ml khoảng 20-30ml dịch mô mỡ cho mỗi tube Sau đó bổ sung hỗn hợp enzyme Dispase-Collagenase vào các tube với tỉ lệ (1 mẫu: 2 enzyme, v/v), mẫu mô được ủ trong enzyme ở nhiệt độ 370C, trong thời gian 90 phút Sau đó, ly tâm thu nhận phần cặn lắng ở đáy chai Bổ sung môi trường nuôi cơ bản vào tube và huyền phù phần cặn lắng ở đáy chai

Lọc phần dịch tế bào qua phễu lọc tế bào (cell strainer, BD Falcon TM) với đường kính 70 μM

Trang 3

lắng, bổ sung môi trường nuôi và đếm mật độ tế

bào với dung dịch Trypan blue bằng buồng đếm

Neubauer Tế bào được nuôi trong chai nuôi

T-25 cm2 (Corning) và ủ trong tủ nuôi ở nhiệt độ

370C và 5% CO2 Môi trường được thay mới 3

ngày/ 1lần Mẫu sẽ được cấy chuyền trong

khoảng thời gian từ 7 – 14 ngày từ lúc bắt đầu

nuôi cấy(12,8)

Định danh tế bào gốc trung mô từ mô mỡ

Để định danh các tế bào gốc trung mô

(Mesenchymal Stem Cell – MSC) thu nhận từ mô

mỡ, chúng tôi đánh giá theo tiêu chí của Hội liệu

pháp Tế bào Quốc tế (International Society for

Cellular Therapy – ISCT)(11) Chúng tôi sử dụng

quy trình nghiên cứu đã được thiết lập để phân

lập và định danh MSC(13)

Tạo mảnh ghép từ sự kết hợp của MSC với

các loại vật liệu sinh học

Tạo mô ghép hướng đến tái tạo mô cứng từ san

hô và MSC

MSC sau khi được nhân khối để làm giàu số

lượng sẽ được thu nhận bằng dung dịch

Trypsin-EDTA (Gibco) Dịch tế bào sau khi tách

sẽ được chuyển lên các giá thể san hô bằng

phương pháp quay ly tâm 1000 vòng/phút trong

1 phút (lặp lại 5 lần) Trong nghiên cứu này,

chúng tôi định hướng phát triển mô ghép thành

mô tạo xương Do đó, mảnh ghép sẽ được nuôi

cấy trong môi trường cảm ứng tạo xương gồm

DMEM/F12, 10% FBS, 10-7M Dexamethasone,

10mM/ml -Glycerol phosphate, 50ng/ml

Ascorbic acid, 10ng/ml FGF9, 10-7M vitamin D2

và kháng sinh(1,18,19)

Mảnh ghép sẽ được theo dõi dưới kính

hiển vi đảo ngược và vào ngày thứ 21 sẽ được

thu nhận và đánh giá bằng các phương pháp

nhuộm mô học và quan sát dưới kính hiển vi

điện tử quét

Ngoài ra, mảnh ghép sẽ được xử lý trong

dung dịch cố định (Neutral Buffer Formalin

10%) để nhuộm Giemsa và H&E nhằm đánh giá cấu trúc và sự phát triển của tế bào bên trong mảnh ghép

Để xác định các nguyên bào xương (thông qua sự hoạt động của enzyme alkaline phosphatase - AP) biệt hóa trên khung san hô từ các MSC, tiến hành nhuộm mảnh ghép với thuốc nhuộm Fast Red violet LB salt (sigma) để đánh giá sự biểu hiện của enzyme này Đây là một trong những marker được sử dụng phổ biến để định danh cho các nguyên bào xương

Tạo mô ghép hướng đến tái tạo mô mềm từ giá thể G-4A, Fibrin và MSC

MSC được thu nhận và chuyển trực tiếp lên

2 loại giá thể là G-A và Fibrin để tạo ra mảnh ghép mô mềm Giá thể G-A và fibrin được tạo ra theo quy trình nghiên cứu của chúng tôi đã được thiết lập(13,17,7) Trong nghiên cứu này chúng tôi định hướng phát triển mô ghép thành mô tạo

mô mở để có thể tái tạo lại các khuyết hỗng mô mềm trên lâm sàng hoặc trong phẫu thuật thẩm

mỹ, do đó tế bào phát triển trên 2 loại giá thể này

sẽ được nuôi trong môi trường cảm ứng tạo tế bào mỡ gồm DMEM/F12, FBS (10%), Gentamycine (50μg/ml), HEPES (15 mm), NaHCO3 (14nM), Biotin (33μm), D-Panto (17 μm), Human insulin (66nM),

Triiodo-L-thyronine (1nM), Humantransferrin (10μg/ml),

Isobutyl-methylxanthin (0,5 mM), Hydrocortisone (100 nM) và Dexamethasone (0,1 nM)(10,12,14)

Mảnh ghép được theo dõi dưới kính hiển

vi đảo ngược và vào ngày thứ 21 sẽ được thu nhận và đánh giá bằng các phương pháp nhuộm mô học (H&E) và quan sát dưới kính hiển vi điện tử quét

Ngoài ra, tế bào cũng được nhuộm Oil Red O

để đánh giá khả năng biệt hóa của MSC thành tế bào mỡ trên hai loại khung này

Trang 4

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Phân lập và định danh MSC từ mô mỡ

Hình 1.Tiềm năng biệt hóa của MSC

(A) Tế bào bám dính, tăng trưởng trong chai cấy tạo thành lớp đơn tế bào (mẫu chứng)

(B) MSC cảm ứng biệt hóa thành nguyên bào xương (được nhuộm với marker alkaline phosphatase)

(C) MSC cảm ứng biệt hóa thành tế bào mỡ (được nhuộm Oil Red O)

(D) MSC cảm ứng biệt hóa thành nguyên bào sụn (được nhuộm với alcian blue) Kết quả cho thấy các tế bào gốc phân lập từ

mô mỡ thỏa mãn tiêu chí biệt hóa theo ISCT

Hình 2 Kết quả phân tích marker dùng để định danh MSC

Các tế bào sau khi phân lập từ mô mỡ bắt

đầu xuất hiện và bám dính sau hai ngày nuôi cấy

hình thái của nguyên bào sợi Những tế bào này bám dính trên đáy chai nuôi Sau một tuần nuôi

Alkaline phosphatase staining

Oil red O staining Alcian blue staining

10X 10X

10X

Mẫu chứng

Trang 5

ngày nuôi cấy, các tế bào này đạt đến mật độ

phù hợp để cấy chuyền (chiếm khoảng 75-80%

diện tích bề mặt chai nuôi)

Theo tiêu chí của ISCT, các MSC có tiềm

năng biệt hóa được thành nguyên bào xương,

nguyên bào sụn và tế bào mỡ in vitro Kết quả

biệt hóa MSC thành các tế bào trên được mô tả

trong hình 1

Ngoài ra, MSC cũng phải biểu hiện được các

marker đặc hiệu là CD73, CD90 và CD105 cũng

như không biểu hiện một số marker âm tính Kết

quả được đánh giá bằng Flow Cytometry Kết

quả cho trong hình 2

Kết quả cho thấy một quần thể tế bào có kiểu

hình: CD45 Neg CD73 + CD90 + CD105 +thỏa mãn tiêu

chuẩn của ISCT

Như vậy, với kết quả khảo sát khả năng bám

dính, tiềm năng biệt hóa và sự biểu hiện các

marker bề mặt cho thấy quần thể tế bào nuôi cấy

chính là các tế bào gốc trung mô Đây là nguồn tế

bào gốc rất quan trọng và đầy tiềm năng cho các

ứng dụng cơ bản cũng như trên lâm sàng

Tạo mảnh ghép từ sự kết hợp của MSC với

các loại vật liệu sinh học

Tạo mô ghép hướng đến tái tạo mô cứng từ san

hô và MSC

Mẫu san hô có mang các MSC sau khi biệt

hóa thành nguyên bào xương được xử lý và

nhuộm Giemsa, H&E cũng như quan sát dưới

kính hiển vi điện tử quét để đánh giá kết quả

Bên cạnh đó, chúng tôi tiến hành nhuộm

khối san hô với thuốc nhuộm Fast Red violet LB

salt để đánh giá khả năng MSC biệt hóa thành

nguyên bào xương trên khung san hô, nếu các

MSC biệt hóa được thành các nguyên bào xương

thì các tế bào này sẽ phản ứng lại với thuốc

nhuộm và trong bào tương xuất hiện màu hồng,

do sự hoạt động của enzyme alkaline phosphatase Đây là một trong những enzyme được sử dụng phổ biến để định danh cho các nguyên bào xương

Kết quả được mô tả trong hình 3

Tạo mô ghép hướng đến tái tạo mô mềm từ giá thể G-A, Fibrin và MSC

Tạo mô ghép từ MSC và giá thể fibrin

Các MSC sau khi biệt hóa thành tế bào mỡ trên giá thể fibrin được xử lý và nhuộm H&E cũng như quan sát dưới kính hiển vi điện tử quét để đánh giá kết quả Tế bào mở được xác định bằng cách nhuộm với thuốc nhuộm Oil Red

O Kết quả được mô tả trong hình 4:

Ngoài ra mảnh ghép mô mềm cũng được đánh giá cấu trúc mô học để xem sự phát triển

và phân bố của tế bào bên trong mảnh ghép cũng như khảo sát đặc tính bề mặt Kết quả mô

tả trong hình 5

Các MSC sau khi biệt hóa thành tế bào mỡ trên giá thể G-A được xử lý và nhuộm H&E cũng như quan sát dưới kính hiển vi điện tử quét để đánh giá kết quả Tế bào mở được xác định bằng cách nhuộm với thuốc nhuộm Oil Red O Kết quả được mô tả trong hình 6

Như vậy, với các loại khung nâng đỡ phù hợp như G-A và Fibrin có thể sử dụng để nuôi cấy các MSC và cảm ứng phát triển trên khung

để tạo ra được các mảnh ghép công nghệ theo xu hướng tạo ra các mô mềm Đây là một trong những mảnh ghép có thể đáp ứng nhu cầu trong các phẫu thuật làm đầy các khuyết hổng mô mềm hoặc trong các phẫu thuật thẩm mỹ dùng

để làm đầy mô mềm

Trang 6

Hình 3 Đánh giá khả năng bám dính, phát triển và biệt hóa của các MSC thành nguyên bào xương trên giá thể

san hô (A) Mẫu san hô được được chụp SEM ở kích thước 200µm, không nuôi tế bào (B) Mẫu san hô chụp SEM (100µm)

có mang các MSC đã biệt hóa thành nguyên bào xương, các MSC tạo lớp và phát triển bên trong cũng như phía ngoài các hốc san hô (C) Nhuộm H&E, tế bào phát triển phân bố bên trong khối san hô (D) Nhuộm AP, các tế bào dương tính với thuốc nhuộm chứng tỏ biểu hiện được en zyme AP Điều này cho thấy các MSC đã biệt hóa được thành nguyên bào xương trên giá thể san hô

A

B

Trang 7

Hình 4 Kết quả nuôi cấy và cảm ứng biệt hóa MSC thành tế bào tạo mỡ trên khung fibrin (A) Tế bào cảm ứng thành tế bào tạo mỡ in vitro, quan sát dưới kính hiển vi đảo ngược (20X) (B) Tế bào được nhuộm Oil red O trực tiếp trên khung fibrin (4X) (C) và (D) Tế bào được nhuộm Oil red O lần lượt ở vật kính (20X) và (40X)

Hình 5 Kết quả tạo mảnh ghép mô mềm từ MSC và khung fibrin (A) Mẫu tế bào phát triển trong khung fibrin in vitro sau 7 ngày nuôi (20X) (B) MSC được cảm ứng biệt hóa thành tế bào mỡ phát triển trên khung fibrin được nhuộm H&E tại ngày thứ 7 (20X), kết quả cho thấy tế bào phát triển và phân bố khá đồng đều trong khung fibrin, ngoài ra do MSC cảm ứng biệt hóa thành tế bào mỡ nên bào tương tế bào khá rộng do tích trữ mỡ khi làm mô học để lại nhiều khoảng trống (C) Kết quả chụp SEM đánh giá sự bám dính của tế bào trên khung fibrin Kết quả quan sát cho thấy tế bào bám dính trên mạng lưới fibrin khá chặt

C

A

B

Trang 8

Tạo mô ghép từ MSC và giá thể fibrin

Hình 6 Kết quả tạo mảnh ghép mô mềm từ MSC và khung G-A (A) Mẫu tế bào phát triển trong khung G-A in vitro sau 7 ngày nuôi (20X) Tế bào được nhuộm Oil Red O để đánh giá sự biệt hóa của MSC thành tế bào mỡ trực tiếp trên khung G-A, kết quả cho thấy có sự hiện diện của tế bào mỡ trong khung fibrin (B) MSC được cảm ứng biệt hóa thành tế bào mỡ phát triển trên khung G-A được nhuộm H&E tại ngày thứ 7 (40X), kết quả cho thấy MSC cảm ứng biệt hóa thành tế bào mỡ với bào tương tế bào tích trữ giọt mỡ khá nhiều (C) Kết quả chụp SEM đánh giá sự bám dính của tế bào trên khung fibrin Kết quả quan sát cho thấy tế bào bám dính trên mạng lưới G-A khá tốt.

KẾT LUẬN

Với quần thể tế bào gốc thu nhận từ mô mỡ

đã phân lập và nuôi cấy,chúng tôi đã đánh giá

quần thể tế bào này là các tế bào gốc trung mô

theo các tiêu chí quốc tế (ISCT)

Các MSC thu từ mô mỡ có thể tiến hành nuôi

cấy trên các loại giá thể khác nhau Chúng tôi có

thể tạo ra được các mảnh ghép hướng đến phát

triển thành mô cứng (mô xương) cũng như mô

mềm (mô mỡ) Đây là một trong những bước

nghiên cứu đầu tiên trong điều kiện in vitro để

nhóm nghiên cứu tiếp tục đánh giá in vivo trên

các mô hình động vật thực nghiệm Đây là một

trong những hướng nghiên cứu theo xu hướng

phát triển của công nghệ mô trên thế giới với

mục tiêu là tạo ra được các mảnh ghép công

nghệ mô để ứng dụng cụ thể vào trong lĩnh vực

y học tái tạo nhằm làm đầy các trường hợp

khuyết hổng mô

Các nghiên cứu bước đầu cũng đạt được

nhiều kết quả tích cực sẽ là động lực để nhóm

nghiên cứu chúng tôi tiếp tục triển khai những

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chen F et al (2007), Segmental bone tissue engineering by seeding osteoblast precursor cells into titaniummesh-coral

composites scaffolds, Journal of Oral and Maxillofacial Surgery,

36: 822-827

2 Chen F, S Chen, K Tao, X Feng, Y Liu, D Lei, T Mao.(2004) Marrow derived osteoblasts seeded into porous natural coral

to prefabricate a vascularized bone graft in the shape of human mandibular ramus: experimental study in rabbits

Journal of Oral and Maxillofacial Surgery, 42:532-537

3 Chen F, Tianqiu M, Kai T, Shujun C, Guicong D, Xiaoming.(2002) Bone graft in the shape of Human mandibular condyle reconstruction via seeding

marrow-derived osteoblast into porous coral in a nude mice model J Oral Maxillofac Surg, 60:1155-1159

4 Coleman SR (2006) Structural fat grafting: more than a

permanent filler Plast Reconstr Surg 118:108S-120S

5 Gregory CA (2008), Mesenchymal stem cells: from culture to

clinic, Stem Cell Repair and Regeneration, Imperial College Press, Singapore, 2: 21-45

6 Holmes RE (1979), Bone regenaration within a coralline

hydroxyapatite implant, Plastic and Reconstructive Surgery,

63:626-633

7 Huỳnh Duy Thảo (2015), Bước đầu đánh giá hiệu quả keo dán fibrin tự thân điều trị phẫu thuật mộng thịt trong nhãn khoa,

Tạp chí Y học TP.HCM,

8 Huỳnh Duy Thảo, Trần Lê Bảo Hà, Lê Thanh Hùng, Võ Quốc

Vũ, Hoàng Kc Hương, Thái Trúc Quỳnh, Trần Công Toại Nghiên cứu quy trình thu nhận tế bào gốc trung mô từ mô mỡ

người hướng đến ứng dụng trong lĩnh vực y học Y Học TP.HCM, 17(1): 459-466

C

Trang 9

10 Katz AJ, Mesenchymal cell culture: Adipose tissue In: Atala

A, Lanza R (2002) Method of Tissue Engineering Academic

Press San Diego

11 Le Blanc DM, K, Mueller, I, Slaper-Cortenbach, I, Marini, F,

Krause, D, Deans, R, Keating, A, Prockop, D, and Horwitz, E

(2006), Minimal criteria for defining multipotent

mesenchymal stromal cells, The International Society for

Cellular Therapy position statement Cytotherapy, 8(4):315–317

12 Locke M, John Windsor, P Rod Dunbar (2009), Human

adipose-derived stem cell: isolation, characterization and

application in surgrey, ANZ Surgrey Journal, 79:235-244

13 Nguyen Htt, Quan Minh To, Thao Duy Huynh, Toai Cong

Tran, Ha Le Bao Tran (2015), gelatin-alginate sponge: a

potential scaffold for adipose tissue engineering, european jour

nal of biomedical and pharmaceutical sciences, 2(7): 48-53

14 Pittenger MF, Mackay AM, Beck SC et al (1999) Multilineage

potential of adult human mesenchymal stem cell Science;

284:143-147

15 Sen A et al (2001) Adipogenic potential of human adipose

derived stromal cells from multiple donors is heterogenous J

Cell biochem 81:312-319

16 Strem BM et al (2005) Multipotential differentiation of

adipose tissue-derived stem cells The Keio journal of medicine,

54:132-141

17 Thái Trúc Quỳnh, Huỳnh Duy Thảo, Võ Quốc Vũ, Nguyễn

Khánh Hòa, Lưu Thị Thu Thảo, Đặng Trần Quân, Trần Công

Toại Nghiên cứu quy trình tạo keo dán từ huyết tương người

Tạp chí Y Học Việt Nam 2014

18 Tran Cong Toai, Huynh Duy Thao, Nguyen Phuong Thao, Ciro Gargiulo and Phan Kim Ngoc, et al (2010) In vitro culture and differentiation of osteoblasts from human

umbilical cord blood Cell and Tissue Banking 11:269-280

19 Tran CT, Ciro Gargiulo, Huynh Duy Thao, Huynh Minh Tuan, Luis Filgueira and D Michael Strong (2011) Culture and differentiation of osteoblasts on coral scafford from

human bone marrow mesenchymal stem cells Cell and Tissue Banking 12:247-261

20 Trần Giao Hòa, Đỗ Thu Hằng.(2002) Bước đầu đánh giá kết quả lâm sàng việc sử dụng chế phẩm san hô Việt Nam để

điều trị sang thương trong xương Tuyển tập cong trình nghiên cứu khoa học Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược TP.HCM,

131-138

21 Wolter TP, Von Heimburg D, Stoffels I et al (2005) Cryopreservation of mature human adipocytes: In vitro

measurement of viability Ann Plast Surg 55:408-413

22 Zaffe D (2005) Some considerations on biomaterials and bone

Micron, 36:583–592

23 Zuk PA, Zhu M, Ashjian P et al (2002), Human adipose tissue

is a source of multipotent stem cells, Molecular Biological Cell,

13:4279-4295

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/08/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 09:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm